Lệch Nhịp

Chương 47: Haran

Đăng: 03/07/2026 12:55 3,024 từ 4 lượt đọc


I.

Bốn con ngựa ấn thú dừng trước cổng tây Haran vào giữa trưa, nhưng không ai xuống ngựa.

Cổng không còn. Hai trụ đá cao ba trượng vẫn đứng, trụ trái nghiêng mười lăm độ, trụ phải nứt dọc từ đỉnh xuống chân, vết nứt rộng bằng bàn tay người lớn, bên trong đen kịt. Xà ngang bằng gỗ lim bọc sắt gãy đôi, nửa trái rơi xuống chắn ngang đường, nửa phải treo lủng lẳng trên bản lề rỉ sét, kẽo kẹt theo gió. Tường thành hai bên cổng sập từng mảng lớn, đá văng tung tóe trong bán kính mười bước, sập ra ngoài chứ không đổ vào trong kiểu bão phá.

Bạch diện nhìn cổng từ trên lưng ngựa, tay trái nắm dây cương, tay phải buông thõng bên hông. Cánh tay đó teo tóp sau khi dùng vân đao, cơ bắp biến mất chỉ còn da bọc xương, ngón tay chẳng cử động được nữa. Gã từng đi qua cổng này nhiều lần, mỗi sáng gật đầu chào lão lính gác có vết sẹo dài trên cổ, lão hay ngồi trên ghế gỗ sát trụ phải, lính gác thâm niên hàng chục năm. Trụ phải giờ nứt toác, ghế không thấy đâu, lão lính gác cũng không thấy đâu, chỉ còn vệt máu khô đen trên mặt đất đá, kéo dài từ chân trụ vào trong trấn rồi mất hút sau đống gạch đổ.

Bạch diện nhìn. Rồi thúc gối, ngựa bước qua cổng.

Đường chính Haran rộng bốn trượng, lát đá phiến xám, hai bên là nhà gạch hai tầng san sát, gã nhớ vậy. Bây giờ đá phiến nứt vỡ thành từng mảng, đất bên dưới lộ ra lẫn cát, lẫn máu khô, lẫn mảnh vải và gỗ gãy. Nhà hai bên đổ ngang đổ dọc, có căn chỉ sập mái, có căn sập cả tường để lộ bên trong, bàn ghế lộn nhào, bát đĩa vỡ vụn trên sàn, quần áo phơi trên dây vẫn còn nguyên nhưng phủ bụi xám dày đến mức chẳng nhận ra màu. Vắng người, vắng tiếng, chỉ gió thổi qua những khung cửa trống phát ra tiếng ù ù đều đều.

Giáp Nhất cưỡi bên phải bạch diện, mắt quét hai bên đường, vòng sắt cổ tay rung nhẹ. Giáp Tam cưỡi phía sau, tay giữ dây cương ba con ngựa thồ hàng đã dỡ sạch từ lúc quay về, mắt liên tục nhìn sau lưng. Giáp Nhị đi cuối cùng.

Bạch diện không quay lại nhìn Giáp Nhị, nhưng gã nghe, nhịp vó ngựa người thứ tư chậm hơn ba người trước nửa nhịp. Ngựa không mệt, chỉ là người trên lưng nó không thúc gối đúng nhịp, tay lỏng dây cương, người lệch về một bên. Giáp Nhị đang nhìn sang phải, phía quán cháo đầu đường rẽ.

Quán cháo. Mái tranh sập xuống đè lên quầy gỗ, nồi đồng lớn lăn lông lốc giữa sàn, muôi gỗ gãy cán nằm cạnh bậc cửa. Tường phía sau có vệt cào song song, năm rãnh sâu nửa đốt ngón tay, kéo từ trên xuống dưới, khoảng cách giữa các rãnh đều nhau như răng lược. Móng sâu, hoặc móng bọ cạp sa mạc loại lớn.

Ngựa Giáp Nhị dừng hẳn trước quán. Gã ngồi im trên lưng ngựa, mặt nạ đồng che kín mặt nên không ai thấy biểu cảm, nhưng tay gã, tay cầm đao, tay đã dùng đao biến đổi sắc tuyệt đối chém giáp bọ cạp sa mạc sâu như giấy, tay đó đang nắm thành nắm đấm trên đùi, khớp ngón trắng bệch dưới nắng trưa.

Bạch diện dừng ngựa, quay đầu nhìn lại.

"Giáp Nhị," gã nói, giọng qua mặt nạ trắng nghe đục và xa.

"Dạ." Giáp Nhị đáp, một chữ, giọng bình thường, nhưng nắm đấm trên đùi không mở.

Bạch diện không hỏi thêm, quay lại, thúc ngựa đi tiếp. Gã không biết Giáp Nhị là ai. Quy tắc tổ chức: đeo mặt nạ, nhận lệnh, làm nhiệm vụ, chẳng hỏi tên thật, chẳng hỏi quá khứ, chẳng hỏi vì sao đêm nào cũng nghe tiếng người nằm cạnh mình trở mình rồi thở dài trong giấc ngủ. Bốn người đi cùng nhau gần một tháng, bạch diện chỉ biết Giáp Nhị hệ Biến Đổi cấp ba, dùng đao, đao tự ăn mình sau mỗi nhát chém, ăn hết đao xong sẽ đến người sử dụng. Chẳng biết Giáp Nhị họ gì, quê ở đâu, trước khi đeo mặt nạ đồng thì làm nghề gì. Nhưng bạch diện biết Giáp Nhị khác lạ kể từ lúc thấy cổng đông Haran sập.

Giáp Nhị nhìn quán cháo. Mái tranh sập, nồi đồng lăn lóc, muôi gỗ gãy cán. Gã nhớ rõ: nồi đó là nồi bà Tôn nấu cháo thịt bò mỗi sáng, bò kho xé sợi trộn cháo đặc quánh, múc ra bát sành to bằng mặt người, phía trên rắc hành lá thái nhỏ và ớt bột đỏ au. Gã hay ngồi ở ghế sát tường, có cái ghế chân hơi vênh, phải kê miếng gỗ dưới chân trước trái mới không lắc, mà bà Tôn nói sửa mãi mà lười sửa, "ai ngồi thì kê, ai không ngồi thì đứng." Bà chẳng biết gã là ấn sư, là đồng diện của một tổ chức lớn. Bà chỉ biết gã là truyền ấn sư trong trấn, khách quen, ăn nhiều nói ít, trả tiền sòng phẳng, thỉnh thoảng gật đầu khen "cháo hôm nay nhiều thịt hơn hôm qua" thì bà cười hở răng vàng rồi múc thêm nửa muôi miễn phí.

Bốn năm ăn cháo, bốn năm ngồi ghế chân vênh. Bà Tôn bây giờ ở đâu? Gã nhìn vệt cào trên tường, năm rãnh song song đều nhau. Gã đã biết câu trả lời rồi, mà biết rồi thì hỏi làm gì cho thêm đau. Gã thúc ngựa đi tiếp.

Ngang qua ngã ba đường rẽ phía nam, con hẻm nhỏ hai bên tường gạch đỏ sâu hun hút, cuối hẻm là cánh cửa gỗ sơn xanh đã bong tróc mà gã nhớ từng gõ bao nhiêu lần: tùng, tùng tùng, hai nhịp, ám hiệu. Cánh cửa giờ mở toang, bản lề gãy, bên trong tối. Đó là viện truyền ấn của gã, nơi gã dạy bọn nhỏ khai ấn bốn năm trời, chẳng biển hiệu, chẳng quảng cáo, chỉ người trong trấn biết. Gã dạy được bảy đứa, ba đứa thành, bốn đứa trượt mà vẫn sống, tỷ lệ tốt hơn Old Vassen ở Lonsa, tốt hơn hầu hết truyền ấn sư ở bảy trấn. Nhưng chẳng ai biết gã là truyền ấn sư cấp ba giỏi nhất Haran, vì ngoài viện, gã đeo mặt nạ đồng, nhận lệnh, đi giết, và tên gã chỉ là hai chữ: Giáp Nhị.

Ba đứa thành, bây giờ ở đâu? Bốn đứa trượt, bây giờ ở đâu? Gã chẳng dám hỏi, chẳng dám nhìn lâu hơn vào cánh cửa xanh mở toang đó, vì gã sợ nhìn thấy thứ gì đó bên trong, một bát cơm ăn dở trên bàn, một quyển sách mở dở, một đôi giày nhỏ dưới ghế, thứ gì đó quá cụ thể, quá bình thường, quá giống bốn năm trước, đến mức gã sẽ không đứng dậy nổi nữa. Ngựa rẽ phải, đi tiếp.

Khu quảng trường trung tâm Haran, nơi trước đây là chợ buổi sáng, bà con bán rau bán thịt bán cá khô, tiếng mặc cả tiếng cười tiếng chửi nhau lẫn lộn từ sáng đến trưa, bây giờ là bãi đất trống. Sạp hàng đổ nát chất thành đống, vải bạt rách phủ lên.

Giáp Nhất xuống ngựa trước, đi vòng quanh, vòng sắt cổ tay rung lên khe khẽ rồi dừng: "Sạch. Không còn gì dưới đất." Giáp Tam xuống sau, dắt ngựa buộc vào gốc cây ngô đồng gãy ngang thân, mắt quét xung quanh rồi gật với bạch diện: "Xung quanh an toàn."

Bạch diện xuống ngựa, bước đến. "Giáp Nhị."

Giáp Nhị vẫn ngồi trên ngựa. Cả ba người nhìn lên.

"Xuống đi," bạch diện nói, giọng gã nhẹ hơn bình thường, nhẹ đến mức qua mặt nạ trắng nghe gần như thì thào, chẳng phải ra lệnh.

Giáp Nhị xuống ngựa, chậm, nặng. Đao vẫn đeo bên hông, lưỡi đao mỏng hơn lúc xuất phát, tự ăn mình sau mỗi nhát chém, bây giờ chỉ còn một phần ba độ dày ban đầu, sáng loáng lạnh ngắt. Gã đứng nhìn về phía tường bắc trấn, nơi sập một mảng dài hai mươi trượng, đá văng tung tóe, và giữa đống đổ nát có một mảnh giáp sắt bẹp dí, giáp ngực, kiểu giáp đoàn trưởng tiêu cục, viền đồng, khắc chữ Thẩm trên vai trái.

Gã nhìn mảnh giáp ba nhịp thở.

Thẩm Khoát. Đoàn trưởng tiêu cục Thẩm gia, Định Ấn sư cấp ba hệ Tích Xả, bốn mươi bảy tuổi, người to con, giọng ồm ồm, cười ha hả kiểu người ruột để ngoài da. Năm năm trước, gã mới đến Haran nhận nhiệm vụ dài hạn cho tổ chức, đóng vai truyền ấn sư, theo dõi hoạt động ấn thú vùng rìa sa mạc, báo cáo định kỳ. Thẩm Khoát là người đầu tiên gã gặp ở cổng trấn. Từ đó quen. Năm năm, không dài nhưng đủ để hai người thành bạn thân. Thẩm Khoát chẳng biết gã là đồng diện, lão chỉ biết gã là truyền ấn sư họ Bùi, viện nhỏ hẻm nam, dạy tốt mà lười quảng cáo. Hai người uống rượu cùng nhau mỗi tháng vài lần, lão kể chuyện tiêu cục, gã nghe, thỉnh thoảng gật, thỉnh thoảng cười, chẳng bao giờ kể chuyện mình. Lão hỏi "ngươi trước khi đến đây ở đâu?" gã đáp "đi nhiều nơi." Lão hỏi "gia đình?" gã đáp "không có." Lão không hỏi nữa, chỉ rót thêm rượu, nói "vậy thì ở đây đi, Haran tuy nhỏ nhưng cháo bà Thẩm ngon lắm."

Năm năm.

Rồi lệnh đến, mặt nạ đồng, phong bì niêm sáp đen, chữ viết không ký tên: "Giáp Nhị điều động. Đi sâu vào sa mạc. Do thám. Hạn ba ngày lên đường." Gã đi, chẳng từ biệt, quy tắc không cho phép, và ngay cả nếu cho phép thì gã cũng chẳng biết nói gì. Nên gã chỉ đóng cửa viện, nhét chìa khóa dưới bậc cửa, để lại một dòng trên giấy dán cửa: "Có việc. Sẽ quay lại." Sẽ quay lại.

Bây giờ gã quay lại rồi. Cổng tây sập, tường bắc sập, quán cháo bà Tôn đổ nát, viện truyền ấn cửa mở toang. Và mảnh giáp ngực khắc chữ Thẩm nằm bẹp dí giữa đống đổ nát tường bắc, chẳng có xác bên cạnh, vì xác đoàn trưởng tiêu cục Thẩm gia, Định Ấn sư cấp ba hệ Tích Xả, bạn thân năm năm của gã, đã thành mẩu thịt trên kẽ răng con sâu phá tường.

Giáp Nhị cúi xuống, nhặt mảnh giáp, lật lên. Chữ Thẩm trên vai trái, nét khắc sâu, rõ, kiểu khắc tay chứ không phải đúc khuôn, vì Thẩm Khoát bảo "đúc khuôn thì ai cũng giống ai, ta tự khắc cho nó có hồn." Gã cầm và nhìn, chẳng nói gì, chẳng run, chẳng khóc, chỉ đứng im, mặt nạ đồng che hết mọi thứ, nhưng tay siết mảnh giáp đến mức rìa sắt cứa vào lòng bàn tay, máu rỉ ra theo kẽ ngón, nhỏ xuống đất cát Haran lẫn vào máu khô cũ.

Nếu gã không đi, nếu lệnh không đến, nếu gã vẫn ở đây, cấp ba Biến Đổi đứng cạnh Thẩm Khoát cấp ba Tích Xả, hai trung cấp giữ tường bắc, có thể giữ được. Có thể không. Nhưng ít nhất Thẩm Khoát không phải chết một mình.

Bạch diện đứng cách ba bước, im lặng. Gã chẳng biết Giáp Nhị là ai, chẳng biết mảnh giáp đó của ai, chẳng biết vì sao tay người đeo mặt nạ đồng đang chảy máu, nhưng gã biết nhìn nhịp. Nhịp Giáp Nhị lúc này chẳng phải loạn, mà là thứ tệ hơn loạn: đều. Đều của người đã quyết định một thứ gì đó rất nặng mà không nói ra, đều của người đã khóc xong từ bên trong mặt nạ.

"Tản ra," bạch diện nói, giọng trở lại bình thường. "Giáp Nhất kiểm tường bắc. Giáp Tam kiểm tường tây. Giáp Nhị," gã dừng nửa nhịp, "ngồi nghỉ đi."

Giáp Nhị gật, ôm mảnh giáp quay lưng đi về phía con hẻm cửa xanh. Bạch diện nhìn theo gã một lúc, rồi quay sang, bước nhanh về phía đông trấn, nơi có một bức tường còn nguyên, và sau bức tường đó, dưới nền đá lát, có một căn phòng mà chẳng ai ở Haran biết đến ngoài gã.

Căn phòng dưới nền đá nhỏ bằng nửa gian bếp, trần thấp, không cửa sổ, ánh sáng duy nhất từ viên ấn thạch sơ đặt trong khay đồng treo trên tường, ánh sáng nhạt xanh rung nhẹ theo nhịp dư ảnh còn sót, đủ để thấy nhưng chẳng đủ để đọc chữ nhỏ. Bạch diện ngồi trước bàn đá, tháo mặt nạ trắng đặt sang một bên, tay trái rút cuộn giấy mỏng, viết. Chữ nhỏ, nén, từng dòng ngắn:

Haran thất thủ. Tường tây bắc sập. Ấn sư trung cấp trấn tử trận, không còn lực phòng thủ. Cách trấn khoảng mười ngày ngựa ấn thú di chuyển, xác nhận Ảnh Vực bậc ba Trì Ảnh hệ nhịp, đang thai nghén, đang lan, chu vi ước mười lăm đến hai mươi dặm. Ấn thú bị phun ra liên tục xung quanh, tần suất tăng. Nghi ngờ có cấu trúc bên trong, không phải tự nhiên. Đề nghị ít nhất một ngài xuống quan sát trực tiếp. Nhanh.

Gã cuộn giấy, nhét vào ống trúc nhỏ bằng ngón tay út, niêm sáp đỏ, rồi mở lồng. Con chim nhỏ bằng nắm tay, lông xám nâu, mắt đen bóng, ấn thú đã thuần, hệ Hướng, loại không chiến đấu, chỉ bay. Bay nhanh, bay xa, bay đúng hướng dù chẳng ai chỉ, vì nhịp trong đầu nó đã được khắc sẵn tọa độ đích đến từ lúc nở. Gã buộc ống trúc vào chân chim, nâng lên, thả. Con chim vút qua lỗ thông gió trên trần, mất hút trong ánh nắng trưa Haran.

Bạch diện ngồi lại một lúc trong căn phòng tối, tay trái xoa vai phải teo tóp, đau, nhức, lạnh từ bên trong xương lan ra. Gã nhìn mặt nạ trắng nằm trên bàn, mặt trắng trơn, chẳng mắt chẳng mũi chẳng miệng, chỉ là một mặt phẳng hơi cong ôm theo khuôn mặt người, nhẵn đến mức phản chiếu ánh sáng xanh nhạt từ viên ấn thạch. Rồi gã đeo lại, đứng dậy, leo lên.

II.

Một ngày sau, con chim xám nâu bay qua thảo nguyên, qua sông, qua rìa rừng, rồi chui vào rừng sâu, loại rừng mà thợ săn bản địa gọi là "rừng chết" vì đi vào không ra. Chẳng phải vì có thú dữ, mà vì đường vào biến mất sau lưng, cây che hết trời, rêu phủ hết đất, và sương thì không tan dù nắng trưa thiêu đốt bên ngoài.

Sương không phải sương. Ai ở gần đủ lâu sẽ nhận ra, sương đó không ướt, chẳng bám vào tóc, chẳng đọng trên lá, chẳng tan khi gió thổi. Nó treo giữa không khí, mỏng như khói nhưng đặc như vải, và nếu nhìn lâu sẽ thấy nó chuyển động, chẳng trôi theo gió mà xoay, chậm, theo một nhịp đều đặn mà mắt thường không bắt được nhưng da cảm được, như đứng cạnh con thú lớn đang thở mà không thấy nó ở đâu. Che Phủ cấp cao, loại che mà ngay cả ấn sư cấp ba đứng ngoài rìa cũng chỉ thấy rừng, thấy sương, thấy yên tĩnh, rồi quay lưng đi vì bản năng bảo không có gì ở đây.

Con chim không bị lừa, nó được huấn luyện từ trước. Nhịp trong đầu nó dẫn nó xuyên qua sương, xuyên qua rừng, xuống một khe núi hẹp mà ánh nắng không chạm tới đáy, hai vách đá dựng đứng phủ rêu đen, khe rộng vừa đủ cho hai người đi ngang, đáy là suối cạn đá cuội trắng chạy ngoằn ngoèo vào sâu. Suối cạn dẫn đến một thung lũng nhỏ, kín, xung quanh toàn vách đá như lòng bàn tay khum lại, và giữa thung lũng, mọc lên từ đá, là một tòa tháp.

Bảy tầng. Chẳng phải gỗ, chẳng phải gạch, đá đen, loại đá mà mỗi phiến nặng bằng con ngựa, xếp chồng lên nhau không vữa không keo, chỉ bằng trọng lực và sự chính xác đến từng sợi tóc. Mỗi tầng thu nhỏ hơn tầng dưới một chút, tạo thành hình tháp bậc thang vươn lên trời nhưng trời không thấy vì sương che kín phía trên, ánh sáng duy nhất đến từ những khe cửa hẹp trên mỗi tầng, phát ra thứ ánh sáng xanh lục nhạt dao động chậm rãi, như mạch đập, như thở.

Tầng một đến tầng ba: cửa đóng, vắng người, vắng tiếng. Tầng bốn: khe cửa sáng hơn các tầng dưới, thoáng bóng người di chuyển bên trong, hoặc bóng của thứ giống người. Tầng sáu, bảy: tối, tĩnh. Tầng năm.

Con chim xám nâu lượn một vòng quanh tháp, rồi chui vào khe cửa sổ tầng năm, khe hẹp bằng ba ngón tay, vừa đủ cho một con chim nhỏ bằng nắm tay, vừa đủ cho một ống trúc buộc ở chân. Nửa giờ sau, con chim bay ra, chân không còn ống trúc, và nó không bay về hướng cũ. Nó bay lên, xuyên sương, xuyên tán cây, vút lên trời xanh bên trên lớp che phủ, rồi mất hút.

Tòa tháp bảy tầng đứng im trong thung lũng đá, sương xoay, ánh sáng xanh lục đập nhẹ qua khe cửa tầng năm, một nhịp, hai nhịp, ba nhịp, rồi tắt.


0
Ủng hộ tác giả BrightRiver Nếu truyện hợp gu với bạn, hãy ủng hộ mình một cốc cà phê nhé. Mình sẽ không để truyện nào drop...