Chương 10: Lớp 6, Bệnh Tim Trở Nặng Và Nỗi Sợ Của Ngoại
Năm tôi học lớp sáu, bệnh tim bắt đầu trở nặng.
Trước đó, tôi vẫn sống như bao đứa trẻ khác. Vẫn đi học, vẫn về nhà, vẫn ăn cơm ngoại nấu, vẫn ngủ trên chiếc giường cũ kỹ. Nhưng càng lớn, tôi càng thấy người mình không còn đủ sức. Đi bộ một quãng ngắn đã thở dốc. Ngồi học trong lớp, môi tôi thâm lại, tay chân lạnh ngắt. Nhiều buổi trưa, tôi phải nằm gục xuống bàn, thở từng nhịp ngắn, nghe tim mình đập mạnh trong lồng ngực.
Ngoại biết. Ngoại nhìn tôi bằng đôi mắt già nua, lo lắng. Ngoại không nói gì, chỉ lặng lẽ nấu cho tôi những món dễ ăn, bắt tôi nghỉ ngơi nhiều hơn, và mỗi tối trước khi ngủ, ngoại ngồi bên giường, tay quạt nhẹ, mắt dõi theo từng nhịp thở của tôi.
Có những đêm, tôi khó thở.
Khó thở không phải là cảm giác nghẹt mũi, cảm cúm. Mà là cảm giác lồng ngực bị bóp chặt, hơi thở vào ra như qua một khe hẹp. Tôi nằm nghiêng, rồi nằm ngửa, rồi lại nằm nghiêng, nhưng không tư thế nào dễ chịu. Môi tôi tím đi, đầu óc choáng váng.
Ngoại ngủ bên cạnh, nhưng chỉ cần tôi trở mình mạnh một chút, ngoại tỉnh ngay.
"An, sao vậy con? Mệt hả con?" Ngoại bật dậy, chồm qua, tay đặt lên trán tôi.
Tôi không nói được. Tôi chỉ lắc đầu, rồi lại gật đầu. Ngoại hiểu. Ngoại vội lấy áo khoác, rồi cõng tôi ra ngoài sân.
Ngoài trời, gió sông thổi mát rượi. Ngoại đặt tôi ngồi trên bậc thềm, tựa vào cột nhà. Ngoại ngồi bên, tay vuốt lưng tôi, miệng thầm thì: "Hít sâu đi con, từ từ thôi. Có ngoại đây, đừng sợ."
Tôi ngồi đó, nghe tiếng gió, tiếng sông, tiếng ngoại thở. Hơi thở tôi dần dịu lại. Lồng ngực không còn bóp chặt nữa. Tôi ngã đầu vào vai ngoại, mệt lả, thiếp đi lúc nào không hay.
Sáng ra, tôi thấy mình nằm trên giường, người được đắp kín mền. Ngoại ngồi bên, mắt thâm quầng, tay vẫn cầm cái quạt, chậm rãi phe phẩy.
"Ngoại không ngủ hả?" Tôi hỏi.
Ngoại cười: "Ngủ rồi. Ngoại thức sớm, ngồi quạt cho con mát."
Tôi biết ngoại nói dối. Nhưng tôi không vạch ra. Tôi chỉ nắm lấy tay ngoại, thấy tay ngoại gầy guộc, chai sạn. Tôi thương ngoại quá, nhưng không biết nói sao.
Bác sĩ ở bệnh viện đa khoa thành phố nói bệnh tôi cần phải mổ. Mổ càng sớm càng tốt. Nếu để lâu, tim sẽ lớn hơn, phổi sẽ yếu hơn, và cơ hội sống sẽ ít đi.
Ngoại nghe, im lặng. Rồi ngoại hỏi: "Mổ có chắc sống không?"
Bác sĩ không dám hứa. Ông nói: "Cháu bị tứ chứng Fallot, mổ là cơ hội duy nhất. Nhưng mổ tim là ca đại phẫu, rủi ro cao. Cần vào bệnh viện lớn, có chuyên khoa tim mạch. Ở thành phố Hồ Chí Minh có bệnh viện tim Tâm Đức."
Ngoại lại im lặng.
Dì út nói với ngoại: "Mẹ, để con đưa con An đi mổ. Cứu nó, mẹ."
Ngoại không trả lời. Ngoại chỉ nhìn tôi, rồi nhìn ra cửa sổ. Ngoại nhìn con sông, nước chảy lững lờ.
Hôm đó, ngoại bế tôi lên ghe, chèo về nhà.
Trên đường về, ngoại không nói gì. Tôi ngồi trong lòng ghe, nhìn ngoại chèo. Lưng ngoại cong cong, tay chèo đều đều, nhưng tôi thấy mắt ngoại ướt.
"An à." Ngoại gọi.
"Dạ."
"Con có sợ mổ không?"
Tôi nghĩ một chút. Tôi sợ đau. Sợ kim tiêm. Sợ bệnh viện. Nhưng tôi cũng biết, nếu không mổ, tôi sẽ yếu dần, rồi chết.
"Con không biết nữa. Nhưng nếu mổ mà hết bệnh, con muốn mổ."
Ngoại im lặng một lúc lâu. Rồi ngoại nói, giọng run run:
"Để ngoại giữ con. Đừng mổ. Ngoại sợ."
Tôi không nói gì. Tôi chỉ ngồi im, nhìn ngoại.
Ngoại sợ. Ngoại sợ đưa tôi lên bàn mổ, rồi tôi không tỉnh lại. Ngoại sợ mất tôi. Ngoại đã mất ông ngoại, đã mất đi người con gái ngày xưa của ngoại, mẹ tôi bây giờ không còn là cô gái Cần Thơ vui vẻ nữa. Ngoại đã mất quá nhiều thứ. Ngoại không dám mất thêm một đứa cháu.
Ngoại không nói ra, nhưng tôi biết.
Nỗi sợ của ngoại không phải là bệnh tật. Nỗi sợ của ngoại là sự chia ly.
Ngoại thà giữ tôi bên cạnh, yếu ớt nhưng còn sống, còn hơi thở, còn được gọi "ngoại ơi". Còn hơn là đưa tôi lên bàn mổ, rồi tôi ra đi mãi mãi.
Lúc đó, tôi còn nhỏ, tôi không hiểu hết. Tôi chỉ thấy ngoại thương tôi, và ngoại sợ. Nên tôi nghe lời ngoại.
Vậy là tôi không mổ năm lớp sáu.
Tôi về nhà, tiếp tục sống với căn bệnh tim. Mỗi ngày, ngoại chăm tôi từng miếng ăn, giấc ngủ. Ngoại nấu cháo, đút cho tôi. Ngoại đút cháo cá lóc, cháo thịt bằm, cháo đậu xanh. Tôi ăn chậm, ngoại kiên nhẫn. Có khi tôi mệt, không ăn được, ngoại ngồi bên, khóc lặng lẽ.
Tôi thấy ngoại khóc nhiều lần. Nhưng ngoại không bao giờ khóc trước mặt tôi. Ngoại chỉ lén lau nước mắt, rồi cười, bảo: "An ăn đi cho khỏe."
Có lần, tôi sốt cao, mê man. Ngoại cõng tôi đi bộ ra trạm xá. Đường xa, trời nắng, ngoại cõng tôi trên lưng, tay run run, chân bước nặng nhọc. Tôi tựa đầu vào vai ngoại, nghe tiếng ngoại thở hổn hển, nghe tiếng chim kêu bên đường. Tôi muốn nói "ngoại để con đi bộ được", nhưng miệng không mở nổi.
Đến trạm xá, bác sĩ cho tôi thở oxy. Ngoại ngồi bên, nắm tay tôi, miệng lẩm bẩm: "An đừng bỏ ngoại. Ngoại thương con lắm."
Tôi khẽ bóp nhẹ tay ngoại. Ngoại khóc.
Những ngày đó, dì út làm phụ hồ xa, tối mịt mới về. Dì về, thấy tôi nằm mệt, dì lại bên, nắm tay tôi, hỏi: "An lùn ăn gì chưa? Có mệt không? Út thương con." Dì út cũng sợ. Nhưng dì út không nói ra. Dì chỉ lặng lẽ làm thêm, kiếm tiền mua thuốc, mua sữa, mua đồ bổ cho tôi.
Dì út bảo: "An cố lên. Mai mốt út dẫn con đi mổ. Mổ xong khỏe lại, út dẫn con đi chơi."
Tôi gật đầu, cười. Nhưng trong lòng tôi cũng sợ.
Tôi sợ mình không qua khỏi. Sợ ngoại đau. Sợ dì út khóc.
Nhưng tôi không nói. Vì tôi sợ nếu tôi nói, ngoại sẽ càng sợ hơn.
Những đêm khó thở, ngoại lại cõng tôi ra sân. Gió sông thổi mát, tiếng nước vỗ bờ, tiếng dế kêu. Tôi ngồi tựa vào cột nhà, nhìn trời đầy sao. Ngoại ngồi bên, quạt cho tôi. Ngoại kể chuyện xưa, chuyện đi kinh, chuyện mùa nước nổi, chuyện bông thọ Tết. Ngoại kể để tôi quên đi khó thở.
Có lần ngoại kể: "Hồi ngoại còn nhỏ, ngoại cũng bệnh. Bà cố ngoại cõng ngoại đi khắp nơi tìm thầy. Bà cố nói: 'Đừng sợ, có mẹ đây.' Ngoại nhớ hoài. Giờ ngoại cũng nói với con vậy: đừng sợ, có ngoại đây."
Tôi nghe, nước mắt chảy lặng lẽ. Tôi không lau. Tôi để nước mắt chảy xuống má, hòa vào gió sông.
Ngoại thương tôi như bà cố thương ngoại. Tình thương đó chảy từ đời này sang đời khác, như dòng sông chảy mãi.
Năm lớp sáu, tôi không mổ. Nhưng tôi không trách ngoại. Vì tôi hiểu, ngoại sợ mất tôi. Nỗi sợ đó lớn hơn cả bệnh tật.
Sau này, khi tôi đủ lớn để hiểu, tôi nói với ngoại: "Ngoại ơi, hồi lớp sáu ngoại không cho con mổ. Con không buồn đâu. Vì ngoại thương con mà."
Ngoại nhìn tôi, mắt rưng rưng: "Ngoại sợ lắm An ơi. Ngoại sợ con lên bàn mổ rồi không về. Ngoại già rồi, ngoại không chịu nổi."
Tôi nắm tay ngoại: "Con biết. Nhưng giờ con lớn rồi. Con sẽ tự quyết định. Con muốn mổ. Con muốn sống khỏe, để còn chăm ngoại."
Ngoại cười, nụ cười móm mém, nước mắt chảy xuống: "Bây thiệt là... Ngoại thương bây quá."
Tôi cũng cười. Nhưng lòng tôi thắt lại.
Vì tôi biết, nỗi sợ của ngoại chưa bao giờ là bệnh tật. Đó là nỗi sợ phải nhìn người mình thương rời xa, mà mình không thể giữ lại.
Và tôi, tôi cũng sợ. Sợ một ngày nào đó, mình không còn được nghe ngoại nói: "Đừng sợ, có ngoại đây."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.