Nàng Mua Ta 500 Lượng, Ta Trả Nàng Giang Sơn

Chương 4: Mảnh Chén Bên Cửa

Đăng: 02/06/2026 02:36 3,557 từ 3 lượt đọc
Ngày thứ tư ở Hầu phủ, Tiết Lan Chu phát hiện ra rằng Tầm Khải Sơn là người không nói nhiều nhưng mỗi câu ông nói đều có trọng lượng như đá ném xuống giếng sâu, tiếng vang còn đọng lại sau khi mặt nước đã tĩnh lặng lại.

Buổi sáng ông ta gọi anh vào sảnh chính.

Không phải sảnh tiếp khách mà là gian trong cùng, nơi đặt bàn làm việc và giá sách công vụ, nơi anh đoán là không nhiều người được mời vào. Ông ta đang đứng bên cửa sổ nhìn ra sân luyện võ, tay cầm một tập công văn nhưng không đọc. Mắt ông đang theo dõi bóng người đang khua kiếm ở dưới sân với vẻ của người nhìn thứ gì đó quen thuộc đến mức vừa yên lòng, vừa lo lắng theo một cách không thể giải thích bằng lời.

Anh bước vào và đứng chờ.

Ông ta không quay lại ngay mà để anh đứng thêm một lúc. Đủ để anh có thời gian nhìn thấy trong tập công văn trên tay ông có một tờ giấy chữ nhỏ hơn các tờ kia, màu mực mới hơn, rõ ràng là vừa mới viết. Anh không đọc được chữ gì từ góc độ đó nhưng ghi nhớ chi tiết này vào danh sách những thứ chưa hiểu nhưng sẽ tìm hiểu sau.

"Tối nay ngươi về phòng chính"

Trấn Bắc Hầu nói, vẫn không quay lại.

Bốn chữ, không giải thích thêm.

Anh hiểu ra ngay đây là chuyện gì. Lễ đón dâu đã qua, nhưng lễ hợp cẩn vẫn chưa có, và trong mắt gia nhân Hầu phủ cũng như những đôi mắt bên ngoài tường phủ thì thiếu cái sau là cái thiếu quan trọng. Hầu gia là người trấn thủ biên cương ba mươi năm, ông hiểu hơn ai hết rằng tiếng đồn đại trong kinh thành có thể giết người không cần đến binh đao. Và con gái ông không cần thêm điều tiếng nào ngoài những thứ cô đã có.

Anh cúi đầu nhẹ.

"Vâng."

Ông ta quay lại nhìn anh lần đầu kể từ khi anh bước vào, cái nhìn ngắn và nặng theo cách nhìn của người quen đánh giá mọi thứ trước khi ra quyết định. Rồi ông quay đi, mở tập công văn ra đọc, coi như buổi gặp đã xong.

Anh bước ra khỏi phòng.

Ngoài hành lang tiếng kiếm vẫn khua đều đặn dưới sân. Anh đứng lại một nhịp, nhìn xuống qua lan can. Tầm Chinh Vũ đang luyện một bài kiếm dài, người xoay theo từng đường kiếm rộng và dứt khoát, tóc buộc cao, áo xanh phất theo từng cơn gió buổi sáng. Cô luyện kiếm theo cách người ta thở, không phải để học hay để rèn luyện mà vì đây là cách người ta tồn tại, như thể nếu một ngày không cầm kiếm thì sẽ có thứ gì đó bị thiếu đi mà bản thân cũng không biết gọi tên.

Anh nhìn một lúc rồi quay về thư viện.

Buổi sáng anh dành để đọc tiếp chồng sách binh thư, nhưng tâm trí không hoàn toàn ở trong đó. Đọc được vài trang thì đặt sách xuống, anh lấy tờ giấy ghi chú của phu nhân mà anh đang chép dở hôm qua ra xem lại để biết mình chép đến đâu rồi, chỗ nào còn thiếu. Tay anh cầm bút nhưng không viết mà chỉ nhìn.

Có một dòng anh chưa chép vào hôm qua vì lúc đó trời đã tối. Anh tìm lại cuốn sách có dòng đó, quyển ghi chép về phong tục và lễ nghi của vùng Trấn Bắc Quan, rồi lật đến trang đánh dấu bằng sợi chỉ đỏ mà anh để lại.

Dòng ghi chú nằm ở góc dưới trang, bên cạnh đoạn văn mô tả lễ hợp cẩn theo tục địa phương.

"Đêm hợp cẩn phu quân run tay, rót trà đổ ra khăn đỏ hết nửa chén mà cứ ngồi im không dám nhìn ta. Ta ngồi đợi một lúc rồi tự rót lấy mà uống. Sau ba ngày phu quân mới nói được câu đầu tiên không ấp úng. Sau này Chinh Vũ lấy chồng, nhớ kiên nhẫn với người ta, người ta cũng sợ lắm chứ."

Anh đọc dòng đó hai lần, rồi nhìn ra cửa sổ, rồi nhìn lại dòng chữ.

Người đàn ông vừa đứng bên cửa sổ sảnh chính sáng nay nhìn con gái luyện kiếm với vẻ vừa yên lòng vừa lo lắng. Người trấn thủ biên cương ba mươi năm, cả phủ không dám để chờ, người mà anh nghĩ từ đầu không bao giờ run trước bất kỳ thứ gì trên đời. Vậy mà ba mươi năm trước ông đã ngồi trong phòng tân hôn làm đổ trà ra khăn đỏ vì không dám nhìn vợ.

Anh cầm bút lên chép lại dòng đó, nét chữ chậm hơn bình thường một chút.

Rồi anh đặt bút xuống và tự hỏi tối nay mình sẽ làm đổ thứ gì.

Câu hỏi đó thật ra không có ích gì nhưng nó khiến anh bật cười một mình trong thư viện vắng tanh. Tiếng cười nhỏ và ngắn theo kiểu cười của người đang một mình không có ai nghe. Sau đó, anh cầm sách lên tiếp tục đọc, lần này tâm trí ở trong đó được lâu hơn.

Tiểu Hà ghé thư viện vào giờ Ngọ, lần này không phải lấy sách mà rõ ràng là có việc khác. Cô bé đứng ở cửa, tay vân vê một góc tạp dề, nhìn anh với vẻ đang cân nhắc xem có nên nói hay không.

Anh đặt sách xuống và chờ.

"Nô tì đang dọn phòng chính"

Tiểu Hà nói sau một lúc, giọng hơi thấp hơn bình thường.

"Thay nến, trải khăn, chuẩn bị rượu hợp cẩn."

Cô bé dừng lại.

"Tân lang có cần nô tì chuẩn bị thêm gì không?"

Anh nhìn cô bé. Tiểu Hà là người thứ hai trong phủ hỏi han anh một cách thật sự, không phải vì nhiệm vụ mà là thật lòng muốn hỏi. Và cô bé hỏi theo cách của người biết tình huống phức tạp hơn bề ngoài nhưng không biết làm gì hơn ngoài việc hỏi thăm.

"Không cần gì thêm"

Anh đáp nhẹ.

"Cảm ơn Tiểu Hà."

Cô bé gật đầu, xoay người đi, rồi lại quay lại thêm lần nữa theo kiểu của người chưa nói hết điều muốn nói.

"Tiểu thư... tiểu thư không phải người xấu."

Câu nói ra giọng vội vàng, như sợ không nói kịp.

"Tiểu thư chỉ là không quen. Chưa bao giờ có ai ở phòng bên cạnh cả, từ nhỏ đến giờ."

Anh nhìn Tiểu Hà và không đáp ngay.

Cô bé nhận ra mình vừa nói thứ có lẽ không nên nói, đỏ mặt lên rồi quay đi thật nhanh, tiếng bước chân nhỏ dần theo hành lang.

Anh nhìn theo cho đến khi không còn nghe thấy gì nữa, rồi nhìn xuống trang sách đang mở trước mặt.

Chưa bao giờ có ai ở phòng bên cạnh, từ nhỏ đến giờ.

Cô lớn lên ở biên cương, ngủ trong lều quân, bên cạnh là tiếng gió thảo nguyên và tiếng canh gác đổi ca. Không có tiếng người ở phòng kế bên, không có ai gõ cửa hỏi sáng nay ăn gì, không có ai ngồi cùng bàn đủ lâu để biết cô thích ăn sườn hầm mềm chứ không chịu nhai xương cứng.

Anh nhặt quyển binh thư, gập lại rồi đứng dậy trả về kệ.

Chiều hôm đó anh không đọc sách thêm mà ngồi vẽ tiếp bản đồ chính trị đang dở, tay vẽ nhưng đầu không hoàn toàn ở trong đó. Cứ thỉnh thoảng anh lại gõ nhẹ ngón tay lên mặt bàn theo thói quen, một hai ba bốn, một hai ba bốn, nhịp của người đang chờ mà không biết mình đang chờ điều gì.

Tối đến, anh xếp giấy tờ lại gọn gàng, thay áo, rồi cầm theo một cuốn sách mỏng và đi về phía phòng chính.

Hành lang dẫn đến phòng chính dài hơn anh nhớ, hoặc có lẽ vì tối nay bước chân anh chậm hơn bình thường mà không có lý do rõ ràng. Đèn lồng treo dọc hành lang đã được thắp, ánh đỏ hắt lên mái ngói và lan can theo kiểu của ngày lễ lớn, dù trong phủ không có tiếng pháo, cũng không có tiếng nhạc, chỉ có tiếng gió tối thổi nhẹ qua mái hiên.

Anh đứng trước cửa phòng chính một nhịp, rồi gõ cửa.

Không có tiếng ai trả lời, nhưng cũng không có tiếng bảo đừng vào. Thế là anh đẩy cửa.

Trong phòng đèn nến thắp đủ sáng, ánh vàng trải lên tấm rèm đỏ và bộ chăn gối thêu long phụng mà ai đó đã trải ra từ chiều. Trên bàn nhỏ gần cửa sổ đặt hai chén rượu và một bình rượu nhỏ, rượu hợp cẩn màu đỏ sẫm còn nguyên chưa ai rót.

Tầm Chinh Vũ đang ngồi ở cạnh bàn.

Không phải ngồi chờ theo kiểu người ngồi đợi ai đó. Cô ngồi thẳng lưng, hai tay đặt lên đầu gối, mắt nhìn về phía cửa sổ đã kéo rèm kín. Trên đôi chân cô là thanh kiếm mang theo từ sân luyện võ, chưa ai đặt lại vào giá và có lẽ cô cũng không định đặt.

Cô không nhìn anh khi anh bước vào.

Anh đứng ở cửa nhìn qua phòng một lượt, nhìn hai chén rượu chưa rót, nhìn bộ chăn gối thêu long phụng, nhìn cô đang ngồi với thanh kiếm như thể đây là lều quân đội trước ngày xuất chinh chứ không phải phòng tân hôn. Rồi anh bước vào, khép cửa lại sau lưng, đi đến chiếc ghế tựa ở góc phòng cách giường ngủ vừa đủ xa, rồi ngồi xuống, đặt cuốn sách lên đầu gối.

Cô vẫn không nhìn anh.

không khí im lặng kéo dài, không phải im lặng thoải mái mà là im lặng của hai người đang không biết làm gì với tình huống trước mặt theo hai cách khác nhau hoàn toàn. Anh lật trang sách và đọc, hoặc ít nhất là giả vờ đọc vì ngọn nến ở góc phòng anh ngồi hơi xa bàn nến chính nên thật ra chữ hơi mờ. Ngọn nến trên bàn cháy đều, bóng nhảy nhẹ trên tường.

Một lúc sau cô đứng dậy, đặt kiếm xuống cạnh bàn, bước đến cửa sổ kéo rèm ra nhìn ra ngoài. Sân ngoài tối, chỉ có ánh đèn lồng hắt vào một góc nhỏ, không có gì đáng nhìn nhưng cô vẫn đứng đó.

"Ngươi cần gì không?"

Cô hỏi, lưng vẫn quay về phía anh, giọng bằng phẳng như đang hỏi lính trực đêm cần thay ca không.

"Không cần gì"

Anh đáp, không ngẩng đầu lên khỏi sách.

Tầm Chinh Vũ không nói thêm gì mà kéo rèm lại, quay về bàn rồi ngồi xuống. Cô nhìn hai chén rượu một lúc, rồi cầm bình rượu lên rót, tay cầm bình hơi chặt hơn mức cần thiết theo kiểu của người đang không để ý mình đang làm gì. Rượu rót đầy chén đầu tiên, cô chuyển sang chén thứ hai thì tay hơi run dù không nhiều, chỉ một nhịp ngắn, nhưng đủ để miệng bình lệch đi và kéo theo cái chén nhỏ về phía mép bàn.

Cô đỡ không kịp.

Chén rơi xuống sàn gỗ, vỡ thành mấy mảnh, tiếng vỡ ngắn vang lên trong căn phòng im lặng.

Cô đứng im nhìn mảnh chén trên sàn trong khoảnh khắc đó. Rồi cô nhìn xuống tay mình, nhìn vệt rượu đỏ loang trên ngón tay. Và cô nắm bàn tay lại rất chặt như thể đang nắm chuôi kiếm mà không có kiếm.

Sau đó cô đặt bình rượu xuống, bước thẳng về phía cửa phòng, đẩy cửa ra và đi ra ngoài. Cô không nhìn lại, không nói gì, tiếng bước chân trên hành lang xa dần về phía cánh phải rồi tắt hẳn.

Anh nhìn cánh cửa khép hờ mà cô vừa đi ra. Rồi anh đặt sách xuống, đứng dậy, đi vào trong lấy khăn lau rượu trên sàn trước khi kịp ngấm vào gỗ. Lau xong thì anh gom các mảnh chén lại, nhặt từng mảnh một bằng ngón tay, cẩn thận với những mảnh nhỏ nằm khuất dưới chân bàn.

Xếp gọn các mảnh vào lòng bàn tay, anh chuẩn bị đứng dậy thì nhìn thấy một mảnh nằm riêng ra, tách khỏi các mảnh kia. Trên mặt sứ trắng có một vệt sẫm nhỏ.

Không phải rượu.

Anh nhìn vệt đó, nhìn hướng cô vừa đi ra, rồi nhìn lại mảnh chén trong lòng bàn tay. Không sâu, chỉ là vết cứa nhỏ khi tay đỡ chén lệch, loại vết mà người ta thường không để ý vì không thấy đau mấy và nó sẽ tự hết. Nhưng cô đã không nói gì và đi ra khỏi phòng như không có gì xảy ra, như thể đây là chuyện bình thường, như thể bị vết thương nhỏ thì không cần nhắc đến vì trên chiến trường còn bị thương nặng hơn nhiều.

Anh mang các mảnh chén ra đặt gọn ở góc cửa, chỗ dễ nhìn thấy nhất khi bước vào phòng sáng hôm sau để người dọn dẹp không dẫm phải.

Rồi anh đứng ở cửa phòng, nhìn mảnh chén vừa xếp, nhìn xuống lọ thuốc đang cầm trong tay. Lọ thuốc gốm trắng có nút bịt vải đỏ, chính là lọ thuốc cô để trước cửa phòng anh sáng hôm qua mà anh vẫn cất trong tay áo từ đó đến giờ chưa dùng hết. Anh nhìn nó một lúc rồi quay vào, đặt lọ thuốc lên mặt bàn, chỗ dễ thấy nhất khi bước vào phòng, ngay cạnh bình rượu còn lại.

Cô biết thuốc dùng để làm gì, còn anh không cần giải thích thêm.

Anh quay về góc ghế, ngồi xuống, cầm sách lên và đọc tiếp trang vừa bỏ dở.

Đêm trôi qua chậm theo kiểu của những đêm dài mà người ta ngồi thức không hẳn vì không buồn ngủ. Nến cháy thấp dần, bóng tối phòng nén lại theo từng khắc, và anh đọc qua ba chương sách mà nếu sáng hôm sau có ai hỏi thì anh không chắc nhớ nổi mình đọc gì. Thỉnh thoảng anh lại ngẩng lên nhìn về phía cửa phòng, lắng nghe xem có tiếng bước chân nào trở lại không.

Không có gì cả.

Vào khoảng canh ba, gió bên ngoài mạnh lên, đẩy cánh cửa sổ kẽo kẹt nhẹ. Anh đặt sách xuống, đứng dậy đi cài then lại, rồi đứng bên cửa sổ nhìn ra sân một lúc. Sân vắng, đèn lồng hành lang đã tắt bớt, chỉ còn một ngọn đèn cuối hành lang còn sáng, hắt vệt vàng dài xuống sân đá.

Ở phía cuối vệt sáng đó, dưới mái hiên hành lang cánh phải, có một bóng người ngồi tựa cột.

Anh nhìn bóng người đó trong bóng tối, không rõ mặt, chỉ thấy dáng ngồi thẳng theo kiểu ngồi gác đêm đã quen trên chiến trường. Đầu hơi cúi xuống theo kiểu của người không ngủ mà cũng không thức hẳn. Bên cạnh bóng người đó, dựa vào tường là thanh kiếm.

Phòng riêng của cô ở cánh bắc, xa hơn nhiều so với chỗ cô đang ngồi. Anh đứng nhìn xuống và hiểu ra là không phải cô không muốn về phòng riêng, mà là cô không có chỗ nào khác để đi trong đêm nay. Hầu gia đã để cửa phòng chính mở và cửa phòng riêng thì cô không tiện quay về sau khi vừa bước ra. Vậy là cô ngồi đây, giữa hai cánh cửa, trong gió đêm cuối đông lạnh lẽo.

Anh rời cửa sổ, lấy tấm chăn phủ thêm trên giường, bước ra hành lang, xuống cầu thang, đi về phía cuối hành lang cánh phải. Đến gần thì nghe tiếng thở đều của người đang ngủ, đầu đã gục hẳn xuống vai, tay vẫn nắm lấy vỏ kiếm theo phản xạ của người ngủ ngoài chiến trường không bao giờ buông vũ khí dù đang nằm mơ.

Gió thổi nhẹ qua mái hiên, lạnh và ẩm theo đúng kiểu của tháng cuối đông sắp sang xuân.

Anh đứng nhìn Tầm Chinh Vũ trong một lúc rồi phủ tấm chăn nhẹ và chậm lên người cô, cố không chạm vào vai cô, chỉ kéo chăn lên đến ngang cổ rồi lùi lại. Cô không tỉnh giấc, chỉ khẽ co người lại một chút theo hơi ấm, vô thức và tự nhiên như cây nhỏ co lại trước gió rồi duỗi ra khi gió tạnh.

Anh bước lui lại.

Sau đó, anh quay về phòng, ngồi lại chỗ cũ, nhìn ngọn nến đã cháy xuống và sắp tắt. Bên ngoài gió đêm vẫn thổi nhẹ, tiếng cửa sổ hành lang kẽo kẹt đều theo từng đợt, và không còn tiếng gì khác nữa.

Anh ngồi đó đến khi trời sắp sáng thì thiếp đi trên ghế, đầu tựa vào thành ghế, cuốn sách vẫn mở trên lòng mình.

Khi ánh sáng đầu tiên của buổi sáng lọt qua khe rèm thì anh nghe tiếng bước chân nhẹ quen thuộc ngoài hành lang. Là tiếng bước chân của người đi nhanh hơn bình thường theo kiểu không muốn bị ai nhìn thấy mình vừa ngủ ở đâu. Anh không mở mắt ra, chỉ nghe tiếng bước chân dừng lại trước cửa phòng trong một nhịp ngắn, rồi tiếp tục đi nhanh về phía sân luyện võ.

Anh mở mắt ra nhìn lên trần phòng, ánh sáng của buổi sáng sớm còn nhạt và mờ.

Rồi anh đứng dậy và đi ra cửa. Ở góc cửa phòng, chỗ anh đặt mảnh chén tối qua, mảnh chén đã được ai đó dọn đi sạch không còn mảnh nào. Và ở chỗ đó, đặt xuống thay vào là lọ thuốc gốm trắng nút bịt vải đỏ, đầy hơn lọ anh để lại trên bàn tối qua rất nhiều, như thể ai đó đã đổ thêm vào hoặc đây là lọ khác hoàn toàn.

Anh cúi xuống nhặt lọ thuốc lên, nhìn nó trong lòng bàn tay.

Lọ này đi từ tay cô sang tay anh, rồi từ tay anh trở lại chỗ cô, rồi sáng nay lại quay về chỗ anh. Không ai nói gì trong suốt hành trình đó, không ai giải thích gì, nhưng cả hai đều biết lọ thuốc đang ở đâu và vì sao nó ở đó.

Cuối hành lang, tiếng kiếm bắt đầu khua, đều đặn và dứt khoát như mỗi sáng, không sớm hơn không muộn hơn, theo đúng nhịp của người không bao giờ để chiến trường biết mình đã ngủ không ngon đêm qua.

Anh đứng ở ngưỡng cửa cầm lọ thuốc, lắng nghe tiếng kiếm từ dưới sân vọng lên trong buổi sáng sớm còn sương, và nhớ đến dòng ghi chú của phu nhân trong cuốn sách lễ nghi mà anh đọc sáng hôm qua.


Sau ba ngày phu quân mới nói được câu đầu tiên không ấp úng.

Anh nhìn lọ thuốc, nhìn xuống sân luyện võ, rồi nhìn lại lọ thuốc.

Ông ấy may mắn thật, anh nghĩ thầm. Chỉ mất ba ngày thôi.

Rồi anh cất lọ thuốc vào tay áo, đi xuống bếp phụ nhóm lửa nấu nước.

Trời sáng hẳn thì anh đang ngồi ở thềm cửa phòng riêng với chén trà trên tay, sách mở nhưng không đọc mà chỉ nhìn về phía sân trúc bên dưới. Tiếng kiếm đã tắt từ lúc nào, và ở đầu cầu thang hành lang phía bắc, Tầm Khải Sơn đang đứng nhìn xuống sân. Tay ông ta không cầm gì, lưng vẫn thẳng nhưng vai hơi xuôi theo cách của người vừa đặt xuống được thứ gì đó nặng hơn bình thường.

Ông nhìn thấy anh và không nói gì.

Anh cũng không nói gì, chỉ cầm ấm trà lên, rót thêm một chén, đẩy nhẹ về phía trước theo kiểu mời.

Ông nhìn chén trà, nhìn anh, rồi bước lại, ngồi xuống bậc thềm cạnh anh, cầm chén trà lên uống. Hai người ngồi nhìn xuống sân trúc trong buổi sáng còn sương, không ai nói gì, theo kiểu của hai người vừa trải qua cùng một đêm dài theo hai cách khác nhau và cả hai đều không cần giải thích điều đó cho nhau.

Trà nguội nhanh trong gió sáng. Ông uống hết chén, đặt xuống, đứng dậy bước đi về phía sảnh chính theo bước chân quen thuộc của mỗi sáng. Vị Hầu gia không gật đầu, không nói gì thêm.

Anh nhìn theo bóng ông khuất sau góc hành lang, rồi nhìn xuống hai cái chén trà rỗng đặt cạnh nhau trên bậc thềm.

Rồi anh cầm sách lên, đọc tiếp, bắt đầu lại từ trang anh đã đọc ba lần tối qua mà sáng nay vẫn không nhớ mình đọc gì.

0