Chương 3: Thư Viện Có Người Mới
Lý do đơn giản là vì đây là nơi duy nhất trong phủ không có ai.
Sân luyện võ thuộc về tiểu thư, từ giờ Dần đến giờ Thìn mỗi sáng và từ giờ Thân đến giờ Tuất mỗi chiều, tiếng kiếm khua đều như đồng hồ. Bếp chính thuộc về đầu bếp già họ Tống và bốn người phụ bếp, ai bước vào mà không phải gia nhân thì bị nhìn như kẻ xâm phạm lãnh thổ. Sảnh chính thuộc về Hầu gia, sáng nào ông cũng ngồi đó xử lý công văn từ biên cương cho đến khi mặt trời lên cao. Phòng tiếp khách thuộc về Tam Hoàng Tử và những người như vậy, những người gửi lễ vật hậu hĩnh kèm theo lời nhắn được viết bằng chữ đẹp.
Thư viện thì bụi phủ, vắng tanh, cửa hé ra là mùi giấy cũ và mực khô ùa ra, sách xếp chật chội từ sàn đến trần mà không ai đọc.
Anh bước vào đó như bước vào một vương quốc bỏ hoang mà mình là ông vua duy nhất. Kiếp trước anh dạy lịch sử trong căn phòng mười lăm mét vuông với một tủ sách nhỏ mua từ hội sách cũ. Kiếp này được sở hữu nguyên một thư viện kích thước bằng ba gian nhà mà không tốn một xu. Nếu tính theo giá thuê nhà kiếp trước thì năm trăm lượng bạc đổi lấy thư viện này cũng không lỗ lắm.
Anh lấy khăn lau bụi trên mặt bàn, kéo ghế ngồi xuống và bắt đầu công việc.
Anh không phải đọc sách cho vui mà đọc có chiến lược, theo cách người dạy lịch sử quân sự ba mươi năm vẫn làm khi nghiên cứu một giai đoạn mới. Anh chia nguồn tài liệu thành từng loại, đọc theo thứ tự, đánh dấu những chỗ mâu thuẫn hoặc bất thường.
Loại một là sách địa lý và binh thư về vùng Trấn Bắc Quan, những quyển này anh đọc trước vì đây là thứ anh thiếu kiến thức nhất. Kiến thức lịch sử kiếp trước giúp cho anh hiểu tổng thể về giai đoạn này, nhưng chi tiết cụ thể về địa hình biên cương và cách bố trí quân sự của Đại Tần thì cần phải học từ đầu.
Loại hai là sử ký và ghi chép về triều chính hai mươi năm gần đây, những quyển này anh xếp thành một chồng riêng để đọc sau. Nhưng lật qua vài trang thì thấy mấy cái tên quen thuộc là Tam Hoàng Tử, Ngũ Hoàng Tử, bộ Hộ, bộ Binh. Đủ để anh hiểu đây là thứ cần đọc kỹ.
Loại ba là sổ sách thu chi của phủ, anh tìm thấy chúng trong một góc kệ phủ bụi dày, xếp ngay ngắn nhưng rõ ràng là lâu chưa ai lấy xuống. Đây là thứ anh để ý ngay từ đầu nhưng giả vờ không để ý, vì nếu hỏi thẳng thì người ta sẽ không đưa. Nhưng sổ sách nằm trong thư viện của Hầu phủ, anh đươc quyền vào thư viện thì có quyền đọc.
Anh lật trang đầu của quyển sổ thu chi năm ngoái, đọc, rồi nhíu mày rất nhẹ.
Lương thảo biên cương năm ngoái giảm mười lăm phần trăm so với năm trước. Năm trước giảm mười hai phần trăm so với năm trước nữa. Anh lấy quyển sổ năm kia ra đọc, rồi năm kia nữa, ghi số liệu lại theo từng năm. Ba năm liên tiếp giảm, không phải giảm vì mất mùa vì phần thu từ thuế nông nghiệp vẫn ổn định, mà giảm vì ngân sách cấp xuống từ bộ Hộ bị cắt dần.
Anh lẩm bẩm:
"Điển hình của kiểu cắt ngân sách có tính toán từ trước.."
Rồi anh dừng lại, ngẩng đầu nhìn xung quanh. Thư viện vắng tanh, không có ai. Anh thở nhẹ ra .
Thói quen phân tích bằng thuật ngữ kiếp trước rồi sẽ gây rắc rối nếu anh không kiểm soát, nhưng ít nhất là hôm nay chưa có ai nghe thấy.
Ai đang nắm bộ Hộ?
Anh chưa biết nhưng ghi câu hỏi này vào góc tờ giấy vẽ bản đồ chính trị, đánh dấu bằng một vòng tròn nhỏ.
Rồi anh tiếp tục đọc.
Khoảng giờ Tị, anh đang đọc dở trang thứ ba của một quyển binh thư ghi chép về các trận đánh lớn ở biên cương thì phát hiện trong lề trang có một đoạn ghi chú bằng loại bút tích khác. Không phải nét chữ thư sinh hay võ tướng, mà là nét chữ nhỏ và thanh thoát của phụ nữ, mực đã nhạt theo năm tháng.
Anh nghiêng trang gấy lại đọc.
"Trận Ưng Sơn năm Kiến Hưng thứ tư, phu quân dẫn quân ngược gió bắc, tổn thất nặng vì không dự liệu thời tiết. Chinh Vũ sau này đừng mắc sai lầm này."
Anh đặt quyển sách xuống, nhìn chằm chằm vào dòng ghi chú đó một lúc.
Rồi anh đứng dậy, bắt đầu lấy sách xuống theo từng kệ, lật qua từng trang, tìm những dòng chữ nhỏ ở các góc trang và lề giấy. Và anh tìm được nhiều hơn anh nghĩ.
Ở quyển địa lý ghi chép về đèo Ưng Sơn, trang viết về thời tiết mùa đông:
"Gió từ phía bắc mùa đông rất lạnh, Chinh Vũ hay ngủ quên trong lều, nhớ mang thêm chăn."
Ở quyển y thuật về cách chữa vết thương ngoài chiến trường:
"Chinh Vũ bị dị ứng phấn hoa đào, mùa xuân nhớ tránh cắm hoa đào trong phòng."
Ở quyển sách nấu ăn mà anh không ngờ lại nằm trong thư viện này:
"Con bé thích ăn sườn hầm nhưng không chịu nhai xương, phải ninh thật mềm mới chịu ăn."
Ở quyển thơ Đường, bên cạnh một bài thơ về mùa thu:
"Bài này hay, sau này dạy Chinh Vũ đọc khi con lớn hơn."
Anh ngồi xuống sàn thư viện, lưng tựa vào kệ sách. Giữa một đống sách vừa lấy xuống, anh nhận ra mình đang đọc một cuốn nhật ký không bao giờ được viết thành nhật ký. Không phải ghi chú nghiên cứu mà là những mảnh của một người mẹ rải dấu tích vào từng trang sách. Như thể bà biết mình sẽ không ở đây mãi và đang cố gắng để lại tất cả những gì bà biết về đứa con gái của mình cho bất kỳ ai đọc được.
Mười bảy năm rồi và chưa ai đọc.
Chinh Vũ lớn lên không thích đọc sách, cô ta thích cầm kiếm hơn. Hầu gia không đụng vào sách của phu nhân nên cũng không đọc. Thư viện bụi phủ dày bằng nửa đốt ngón tay mà bên trong chữ vẫn rõ ràng như mới viết hôm qua.
Mười bảy năm vẫn chờ ở đó, không có ai phát hiện cả.
Anh ngồi im trong khoảng lặng đó một lúc khá lâu.
Rồi anh đứng dậy, lấy một tờ giấy trắng và bắt đầu mài mực. Rồi anh bắt đầu chép lại từng dòng ghi chú của phu nhân, từng quyển sách một, ghi rõ xuất xứ từng dòng. Không phải vì ai sai bảo, không phải vì có ích cho bất kỳ kế hoạch nào anh đang nghĩ đến. Chỉ vì anh nghĩ ai đó nên giữ lại những thứ này, đặt vào một chỗ thay vì để rải rác trong từng góc trang sách không ai mở, và hiện tại trong phủ này không có ai khác có thể làm điều này ngoài anh.
Anh đang chép dở thì nghe tiếng gõ cửa.
Tiểu Hà đứng ở cửa, cô bé nhìn vào trong, nhìn thấy anh đang ngồi giữa đống sách. Rồi cô nhìn lại vào trong một lần nữa như thể muốn chắc chắn đây đúng là thư viện Hầu phủ chứ không phải căn phòng nào khác.
"Tân lang đang làm gì vậy?"
Cô bé hỏi, giọng không hẳn là tò mò nhưng cũng không hẳn là không tò mò.
"Đọc sách"
Anh đáp.
"Đọc hết đống này luôn à?"
Anh nhìn quanh đống sách chất quanh mình, rồi nhìn lên:
"Đọc chậm thôi. Ở đây cũng không có gì khác để làm."
Tiểu Hà nhìn anh bằng ánh mắt mà anh đọc được là sự pha trộn giữa tò mò, thương hại, và một chút gì đó giống như thấy tình huống này buồn cười nhưng không tiện cười. Cô bé bước vào, đi thẳng đến kệ sách ở góc phải, lấy một quyển ra, rồi quay đi.
Đến cửa thì cô bé dừng lại.
"Tiểu thư sai tôi lấy quyển này"
Tiểu Hà nói mà không quay người, giọng như đang giải thích chứ không phải đang bắt chuyện.
"Tôi không biết tân lang ở trong này."
"Không sao"
Anh đáp.
Một nhịp im lặng ngắn. Rồi Tiểu Hà hỏi, vẫn không quay người:
"Tân lang có cần thêm nến không? Chiều tối thư viện tối lắm."
Anh nhìn ngọn nến trên bàn, mới thắp được một phần ba.
"Cảm ơn, chưa cần."
Tiểu Hà gật đầu rồi đi ra, bước chân nhanh theo kiểu người quen chạy việc suốt ngày. Anh nhìn theo cho đến khi bóng cô bé khuất sau góc hành lang, rồi cúi xuống tiếp tục chép.
Phúc Bá ghé qua vào giờ Mùi, mang theo một ấm trà và hai cái bánh bao nhân đậu đỏ. Lão đặt xuống góc bàn không có sách, rồi ngồi xuống ghế đẩu quen thuộc.
"Tân lang ăn đi"
Lão nói.
Anh đặt bút xuống, cầm bánh bao lên.
"Lão hay ghé thư viện vậy sao?"
"Thư viện bỏ không lâu rồi"
Phúc Bá nói, rót trà ra hai chén, đẩy một chén về phía anh.
"Từ khi phu nhân mất, ít người vào. Lão thỉnh thoảng vào lau bụi, không để cho sách bị mốc. Giờ có người dùng chúng thì tốt hơn."
Anh nhìn lão.
"Phu nhân hay đọc sách ở đây?"
"Phu nhân đọc nhiều lắm"
Phúc Bá nói, giọng không có sắc thái đặc biệt nhưng chậm hơn bình thường một chút, kiểu chậm của người đang chọn từ ngữ.
"Phu nhân đọc đủ thứ, từ binh thư đến thơ phú đến sách thuốc. Hầu gia hay nói phu nhân đọc thay cho cả phủ."
Lão dừng lại.
"Tiểu thư không thích đọc sách. Từ nhỏ đã vậy, tiểu thư thích theo Hầu gia ra sân luyện võ hơn là ngồi trong này."
Anh nhìn tờ giấy đang chép dở dang trước mặt.
"Lão có biết tiểu thư hay bị dị ứng phấn hoa đào không?"
Phúc Bá ngẩng lên nhìn anh, ánh mắt thay đổi rất nhẹ.
"Tân lang biết điều này từ đâu?"
"Sách y thuật trong kệ thứ ba."
Anh chỉ tay về phía kệ sách đó.
"Có ghi chú ở lề trang."
Lão ngồi im một lúc. Rồi lão uống một ngụm trà, nhìn ra cửa sổ.
"Biết vậy là tốt. Tháng sau sang xuân, vườn phía đông hay cắm hoa đào, lão sẽ dặn người chuyển sang loại khác."
Anh không hỏi thêm. Phúc Bá cũng không nói thêm. Hai người ngồi uống trà trong im lặng của thư viện, im lặng kiểu không cần lấp đầy bằng lời, chỉ cần ngồi đó là đủ.
Phúc Bá trở về thì trời đã xế chiều. Anh tiếp tục đọc thêm được hai tiếng nữa, chép thêm được thêm một tờ ghi chú, rồi mắt bắt đầu mỏi và ánh nến bắt đầu không đủ sáng.
Anh đang chuẩn bị thu dọn thì nghe tiếng bước chân ngoài hành lang.
Tiếng chân quen thuộc, kiểu nhanh, dứt khoát, nhịp của người mặc giáp nhẹ. Anh không ngẩng lên, tiếp tục xếp sách lại chỗ cũ theo thứ tự anh đã lấy xuống.
Tiếng bước chân đến gần, rồi dừng lại.
Anh biết cô đứng ở cửa thư viện. Cô không vào, chỉ đứng ở ngưỡng cửa. Anh tiếp tục xếp sách, không nói gì, không quay lại, không làm gì khác ngoài tiếp tục làm thứ mình đang làm như thể không có ai đứng ở cửa.
Có lẽ đó là lý do cô không đi ngay.
Im lặng kéo dài khoảng thời gian bằng ba nhịp thở. Rồi tiếng bước chân đi tiếp, xa dần, tắt hẳn ở cuối hành lang.
Anh đợi tiếng bước chân mất hẳn rồi mới ngẩng lên, nhìn ra cửa.
Không có ai.
Nhưng trên bậu cửa thư viện, có một chén trà đặt ở đó.
Còn ấm.
Anh bước ra, nhấc chén trà lên. Trà pha đậm quá, nóng quá, rõ ràng là người pha không thường xuyên pha trà cho ai, không quen điều chỉnh tỷ lệ.
Anh nhìn chén trà một lúc, không biết nên hiểu đây là quan tâm hay là thói quen của người lính hay để phần đồ ăn cho đồng đội trước khi ra trận, không cần hỏi không cần nói.
Rất có thể với Tầm Chinh Vũ, hai thứ đó không khác nhau.
Anh mang chén trà vào, ngồi xuống bàn và uống từ từ. Trà không ngon nhưng anh uống hết.
Rồi anh đặt chén rỗng xuống cạnh tờ giấy ghi chú của phu nhân. Sau đó anh nhìn ra cửa sổ. Ngoài kia hoàng hôn đang phủ xuống sân trong, nhuộm mái ngói và khoảng sân trồng trúc thành màu vàng cam nhạt. Tiếng kiếm dưới sân luyện võ đã tắt từ lúc nào, phủ bắt đầu chìm vào cái im lặng của buổi tối.
Anh nhìn chén trà rỗng.
Cô không phải không có lòng. Cô chỉ không biết cách để lại dấu chân ở những nơi không phải chiến trường. Chén trà này là dấu chân, nhỏ và không chắc chắn, nhưng là dấu chân.
Vấn đề là anh không biết đây là bước đầu tiên, hay chỉ là lần duy nhất.
Sáng hôm sau anh dậy sớm, ra thềm cửa ngồi đọc sách theo thói quen. Trời chưa sáng hẳn, sương còn đọng trên lá trúc ngoài sân. Anh đang đọc dở trang thứ hai thì nhìn xuống thấy trước cửa phòng có một thứ anh chưa đặt ở đó hôm qua.
Một lọ nhỏ bằng gốm trắng, nút bịt bằng vải đỏ. Anh cầm lên mở ra và ngửi thử. Thuốc xoa bóp, loại dùng cho vết bầm tím và chỗ va đập, mùi thảo dược hơi nồng.
Anh đặt lọ thuốc xuống, nhìn chằm chằm vào nó.
Hôm trước cô búng tay, anh ngã ngồi xuống cát. Lúc đó không đau nhưng vết bầm ở đầu gối bên phải mấy ngày nay vẫn chưa hết hẳn, hơi tím, vì va xuống nền cát cứng mà anh không để ý. Vết bầm nhỏ thôi, giấu trong ống quần, không ai nhìn thấy trừ khi chú ý quan sát từ góc độ nhất định.
Ai đó đã nhìn thấy mà anh không biết.
Anh ngồi yên với lọ thuốc trong tay một lúc khá lâu. Ngoài sân, tiếng kiếm bắt đầu khua, đều đặn và dứt khoát như mỗi sáng. Anh nghe tiếng đó, nhìn lọ thuốc nhỏ gốm trắng, rồi nhìn ra phía sân luyện võ mà từ chỗ ngồi này không nhìn thấy được.
Sau một lúc, anh mở lọ thuốc ra, xoa lên chỗ bầm.
Thuốc thấm vào, mát và hơi ngứa, mùi thảo dược lan ra trong không khí buổi sáng. Anh ngồi đó, tay vẫn cầm lọ thuốc, lắng nghe tiếng kiếm khua đều đặn bên dưới.
Không phải quan tâm theo cách người ta thường nghĩ đến là quan tâm, không có lời hỏi thăm hay ánh mắt lo lắng hay bất kỳ thứ gì nhìn thấy được. Chỉ là một lọ thuốc đặt trước cửa phòng lúc chưa sáng, khi không có ai nhìn thấy, của người không biết cách nói mà chỉ biết làm.
Anh đặt lọ thuốc xuống cạnh quyển sách, tiếp tục đọc.
Tiếng kiếm vẫn khua đều ngoài sân, không đổi nhịp.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.