Chương 31: Người Quen Ở Chợ
Chợ ở kinh thành vào buổi sáng khác với buổi chiều. Buổi chiều người ta mua thứ còn lại sau khi kẻ khác đã chọn xong. Buổi sáng thì tươi hơn, nhiều hơn, ồn hơn, và người bán vui hơn một chút vì ngày còn dài.
Lan Chu ra chợ từ giờ Thìn, đi ngang qua hàng bánh nếp ở cổng chợ khi bà chủ vừa bắt đầu hấp mẻ đầu. Mùi bột nếp bốc lên theo hơi nước, mỏng và ngọt, anh đi qua không mua vì chưa đặt mua hạt giống xong thì không biết còn tay không để xách thêm gì.
Thương nhân họ Thẩm có sạp ở cuối dãy hàng khô, ông ta nhận ra anh từ xa, đứng dậy chào với vẻ của người quen khách. Hai người đã bàn giống lúa không lâu, anh đã tính sẵn số lượng từ hôm trước, ông Thẩm đã biết rõ loại giống, chỉ cần xác nhận thời gian giao. Nửa canh giờ là xong, anh cầm tờ giao kèo gấp vào tay áo, đi sang phía hàng giấy.
Người theo dõi hôm nay khác người hôm trước. Anh nhận ra ở cách di chuyển, người cũ hay giữ khoảng cách cố định, người mới này thì thay đổi nhịp, đôi khi để anh đi xa hơn rồi mới theo, đôi khi rút lại gần. Kỹ thuật tốt hơn, nhưng hắn để lộ mình ở chỗ khác: giày của hắn quá mới so với áo, kiểu người mặc đồ cũ nhưng mang giày nhà quan.
Anh đi tiếp, không thay đổi nhịp bước chân.
Hàng giấy bà Tư nằm ở giữa dãy, quen thuộc đến mức anh không cần hỏi đường. Mùi mực tàu từ trong hàng bay ra hòa với tiếng rao hàng xung quanh. Bà ngồi sau chồng giấy xếp ngay ngắn, nhìn anh bước đến thì gật đầu theo kiểu gật của người nhận ra khách quen.
"Thư sinh lại đến."
"Vâng, bà Tư."
Anh nhìn qua mấy chồng giấy, chỉ vào loại quen:
"Loại này, mười thếp."
Bà Tư nhìn loại anh chỉ, nhìn anh, lại nhìn loại giấy.
"Lần nào cũng loại này."
"Loại này tốt."
"Tốt gì, loại rẻ nhất đây."
Bà đếm giấy, giọng không có ý trách, chỉ là nhận xét.
"Thư sinh mua loại này mấy tháng nay rồi, lần nào cũng mười thếp, tháng nào cũng hết. Dạy gì mà tốn giấy dữ vậy?"
"Dạy chữ."
"Dạy chữ mà hết mười thếp một tháng thì học trò của thư sinh viết chữ xấu lắm, viết đi viết lại hoài."
Bà buộc giấy thành bó, đẩy sang.
"Hay là thư sinh dạy dở, học trò không nhớ gì nên phải chép nhiều lần?"
Anh nghĩ đến Triệu Vân, đứa bé chép bài chậm nhất lớp, chép một chữ phải nhìn lên bảng ba lần.
"Cũng có thể vậy."
Bà Tư phá ra cười, tiếng cười to và thật của người không cần giữ ý.
"Thư sinh thật thà. Được, tính giá cũ cho."
Anh trả tiền, cầm bó giấy. Rồi anh đứng thêm một lúc vì bà Tư bắt đầu kể chuyện hàng xóm, kiểu kể không cần người nghe phải trả lời, chỉ cần đứng đó là đủ. Anh đứng nghe, thỉnh thoảng gật đầu đúng chỗ.
Ở phía bên phải, cách vài bước là hàng vải. Người mua đông hơn hàng giấy, màu vải trải ra nhiều, tiếng mặc cả to hơn. Anh không để ý đến hàng vải vì không có lý do, cho đến khi nghe tiếng gọi từ phía đó.
"Tiết công tử."
Liên Nhi đứng ở rìa hàng vải, tay cầm một khúc vải màu xanh nhạt đang xem, nhìn sang phía anh. Cô mặc áo thường, không phải áo ra ngoài, kiểu áo của người chạy việc nhà chứ không phải đi thăm viếng ai. Tóc cô búi gọn, không cài nhiều trâm.
Anh gật đầu chào.
"Bạch cô nương."
Liên Nhi đặt khúc vải xuống, bước sang phía anh, nhìn bó giấy anh đang cầm.
"Công tử ra chợ mua giấy à?"
"Và đặt giống. Bạch cô nương mua vải à?"
"Mua cho cha."
Cô liếc nhìn lại hàng vải, giọng bình thường hơn một chút.
"Cha em bệnh từ tháng trước, áo cũ mỏng, em định mua loại dày hơn cho mùa đông. Nhưng cô bán hàng kia nói loại dày thì màu xấu, loại màu đẹp thì không đủ ấm, em đang không biết chọn cái nào."
"Bệnh gì vậy?"
"Phong hàn từ lần đi công vụ hồi tháng tám, về đến nhà thì ho, uống thuốc thì đỡ, ngừng thuốc lại ho."
Cô nhún vai nhẹ, theo kiểu nhún của người đã quen giải quyết chuyện nhà một mình.
"Thầy thuốc nói phải giữ ấm. Cha em hay quên mặc thêm áo, phải mua loại ấm là chắc nhất."
Anh nhìn sang hàng vải, nhìn mấy tấm treo ở ngoài.
"Loại màu nâu ở góc kia. Dệt dày hơn loại màu xanh, mà màu cũng không đến nỗi."
Liên Nhi theo nhìn, gật đầu.
"Công tử biết chọn vải à?"
"Không biết lắm. Nhưng mùa đông năm ngoái học trò của tôi mặc loại đó không thấy kêu lạnh."
Anh nhớ lại đứa học trò con nhà lính ít tiền, áo màu nâu cũ mà không co ro như mấy đứa mặc áo đẹp hơn.
"Dân biên cương hay dùng loại đó."
Liên Nhi cười, đi sang phía góc bên kia, xem thử. Anh đứng đợi bên ngoài.
Một lúc sau cô ra, cầm theo một khúc vải màu nâu xanh đã trả tiền xong.
"Mua được rồi. Cảm ơn công tử."
"Không có gì."
Họ đứng ở lối đi giữa hai dãy hàng, xung quanh người qua lại, không ai để ý đến hai người đang đứng nói chuyện. Liên Nhi nhìn bó giấy anh đang cầm.
"Công tử mua giấy cho trường?"
"Ừ."
"Mười thếp?"
Anh hơi ngạc nhiên. Liên Nhi thấy vẻ đó, giải thích nhẹ:
"Em hay mua giấy viết thư ở hàng bà Tư, bà hay kể chuyện khách quen."
Cô cười.
"Bà bảo mỗi tháng có một thư sinh ra mua mười thếp giấy rẻ nhất. Bà khen là người tốt nhưng chọn giấy tệ."
"Bà Tư khen người tốt bằng cách đó thì cũng hơi đặc biệt."
Liên Nhi cười rộng hơn.
"Bà ấy thật thà mà."
Rồi cô hỏi thêm:
"Trường của công tử dạy miễn phí à?"
"Miễn phí."
"Con nhà ai?"
"Con em binh sĩ. Mấy đứa lớn lên ở biên cương, không có điều kiện học chữ."
Liên Nhi nhìn anh một lúc, không nói gì ngay. Rồi cô nói, giọng không phải khen mà là kể lại, kiểu kể một câu người khác nói mà mình nhớ:
"Cha em hay nói, người cho đi mà không lấy lại gì thì hoặc là thánh nhân, hoặc là người đã mất đủ nhiều nên không sợ mất thêm nữa."
Câu đó nặng hơn Liên Nhi nghĩ.
Anh cười, giọng vẫn nhẹ:
"Cha cô nương nói hay. Nhưng tại hạ chỉ dạy chữ, không cao siêu đến vậy đâu."
Liên Nhi không hỏi thêm về câu đó, chuyển sang chuyện khác theo kiểu người không muốn đẩy vào chỗ người ta không muốn vào:
"Dạo này ở chợ hay nghe người ta nhắc đến vụ lúa biên cương. Mấy thương nhân quen đường Trấn Bắc kể năng suất tốt hơn mọi năm nhiều. Là của công tử à?"
"Của nông dân ở đó."
Anh nhìn cô.
"Tôi chỉ đề xuất, họ mới là người làm."
Liên Nhi gật đầu, chấp nhận câu trả lời đó mà không hỏi thêm, theo kiểu người không có thói quen đào sâu hơn mức người ta muốn nói.
"Hôm nay trời không mưa, may quá."
Cô nhìn lên trời.
"Em quên mang dù."
Anh cũng nhìn lên. Trời xanh, mây thưa.
"Không mưa đâu."
"Vẫn may."
Cô nói đơn giản, rồi nhìn xuống khúc vải trên tay điều chỉnh lại cho gọn.
Hai người đứng im một nhịp trong tiếng chợ xung quanh. Không có gì cần nói thêm, và cả hai đều không cố lấp đầy khoảng im lặng đó.
"Công tử xách nặng thế này một mình về à?"
"Không nặng lắm."
"Mười thếp giấy với cái túi kia không nhẹ đâu."
Liên Nhi nhìn sang phía cổng chợ.
"Em về cùng hướng một đoạn, đi cùng một khúc được không?"
Anh gật đầu.
Đường về qua cổng chợ phía đông, hướng nhà Bạch thị lang và hướng Hầu phủ đều đi đoạn đầu giống nhau. Hai người đi cạnh nhau, không vội, theo nhịp của người đang kết thúc buổi sáng đi chợ.
Liên Nhi hỏi về học trò, anh kể qua lớp có mấy đứa, bao nhiêu tuổi, con nhà ai. Cô nghe, hỏi thêm vài câu, kiểu hỏi của người thật sự muốn nghe.
"Có đứa nào khó dạy không?"
Anh nghĩ đến Triệu Vân và cái tật viết ngược.
"Có một đứa viết chữ tệ lắm, nhưng nhớ dai nhất lớp."
"Cha em ngày xưa cũng viết chữ xấu."
Liên Nhi cười.
"Ông nội em kể lại, mỗi lần chép bài thì giấy rách vì tay ép bút mạnh quá, nhưng thuộc lòng sách thì không ai thuộc nhanh bằng."
"Vậy bây giờ cha cô nương viết thế nào?"
"Vẫn xấu."
Cô nói thẳng.
"Nhưng ông ấy bảo chữ không quan trọng bằng ý. Em nghĩ ông ấy nói vậy để tự an ủi thôi."
Anh cười nhẹ. Trong hai kiếp người, anh đã nghe câu biện hộ tương tự từ hàng chục học sinh theo nhiều kiểu khác nhau.
"Cũng không hẳn sai. Chữ chỉ là công cụ."
Đến ngã rẽ, Liên Nhi dừng lại. Đây là chỗ hai hướng tách ra.
"Em rẽ đây."
Cô nhìn bó giấy anh đang cầm một lúc, rồi nhìn lên.
"Công tử đi được không? Không cần người giúp à?"
"Được. Cảm ơn cô nương đã đi cùng một đoạn."
Liên Nhi gật đầu, rồi nhìn anh thêm một nhịp ngắn trước khi quay đi. Cô nhìn theo kiểu người nhìn thứ mình biết không phải của mình mà vẫn nhìn, vì không nhìn thì không biết chuyển mắt đi đâu khác. Rồi cô quay đi, cầm khúc vải màu nâu xanh đi về hướng nhà mình.
Anh đứng ở ngã rẽ thêm một nhịp, nhìn theo, rồi đi tiếp hướng của mình.
Phúc Bá đón anh ở cổng phủ, nhìn xuống bó giấy, nhìn lên tờ giao kèo giống lúa anh rút ra, nhận cả hai rồi gật đầu.
"Có gì bất thường không?"
"Người theo dõi hôm nay đổi sang một người khác."
Anh bước vào trong, giọng nhẹ như kể chuyện thời tiết.
"Kỹ thuật tốt hơn người cũ, nhưng giày mới quá so với áo. Vẫn chỉ đi theo, chưa tiếp cận."
"Lão đi báo Hầu gia."
"Chưa cần vội. Khi nào họ tiếp cận mới cần lo."
Anh đi về phía dãy đông, nói thêm mà không quay lại:
"Khi nào số người tăng từ một lên hai thì mới lo."
Lão quản gia nhìn theo anh bước đi, đứng thêm một lúc, rồi vào trong.
Tiểu Hà gặp anh ở hành lang dãy đông, đang bưng khay trà đi ngược chiều. Cô bé vừa đi chợ mua thức ăn buổi sáng về, giỏ mây còn móc ở cổ tay bên kia. Nhìn thấy anh, cô bé mở miệng theo thói quen nói trước nghĩ sau.
"Cô gia về rồi ạ. À, em có thấy cô gia ở chợ, lúc em mua rau. Cô gia đang nói chuyện với một cô ở hàng vải, cô đó..."
Tiểu Hà dừng lại, nhớ ra, nhìn sang hướng khác.
"Cô cầm dù xanh lần trước ấy ạ."
Anh nhìn Tiểu Hà. Cô bé nhận ra mình vừa kể chuyện không ai hỏi liền đỏ mặt, cúi đầu xuống nhìn vào khay trà.
"Em... đi bưng trà đây ạ."
Cố bé bước đi nhanh, không ngoái lại.
Anh nhìn theo Tiểu Hà, đặt bó giấy vào phòng, ngồi xuống bàn.
Tin tức trong một phủ nhỏ lan nhanh hơn trong một lớp học cấp ba. Lớp học cấp ba thì anh có kinh nghiệm. Trong một phủ có Tiểu Hà thì không cần kinh nghiệm gì cũng biết kết quả.
Anh bắt đầu lấy sách ra đọc.
Tiểu Hà bưng trà vào phòng Chinh Vũ lúc giờ Ngọ, đặt xuống bàn, rồi đứng ở đó vì cô bé biết mình cần nói câu gì đó nhưng không chắc nên bắt đầu từ đâu.
Chinh Vũ đang nhìn vào bản đồ trải trên bàn, không ngẩng đầu lên.
"Gì vậy?"
"Dạ, không có gì."
Tiểu Hà vân vê góc tạp dề.
"Chỉ là... em có thấy cô gia ở chợ sáng nay. Đang nói chuyện với cô Bạch. Trông bình thường thôi ạ, hai người nói chuyện một lúc rồi đi về hai hướng."
Chinh Vũ ngẩng đầu lên.
"Cô Bạch nào?"
"Cô gái cầm dù xanh lần trước ạ. Lần tiểu thư và cô gia đi mua đồ, hôm trời mưa đó."
Không ai nói gì thêm một lúc. Tiểu Hà không biết biểu cảm của tiểu thư lúc này đang là gì vì cô bé không dám nhìn thẳng, chỉ nhìn xuống chân bàn. Rồi Tiểu Hà nghe tiếng chén trà đặt xuống, mạnh hơn bình thường một chút.
"Được rồi. Đi đi."
Tiểu Hà đi ra, nhanh hơn lúc vào.
Căn phòng chìm vào im lặng.
Chinh Vũ nhìn vào tờ bản đồ trên bàn, nhìn vào các đường phòng tuyến cô vừa đánh dấu. Cô không đọc gì trong đó, chỉ nhìn ra cửa sổ, rồi nhìn lại bản đồ. Tay phải cô nắm lại rồi buông, theo phản xạ cũ như nắm chuôi kiếm, rồi nhận ra không có chuôi kiếm nào ở đây để nắm.
Sau đó cô đứng dậy, đi ra. Sân luyện võ trống vào giờ này, Vương Hắc đang họp ở sảnh ngoài, lính đã về doanh. Chỉ có cô, một mình và cây kiếm.
Cô tập bài thứ nhất xong, tiếp bài thứ hai mà không dừng. Nhịp nhanh hơn giờ thường, kiếm chém gió nghe sắc hơn. Không phải vì hôm nay có gì cần luyện thêm, chỉ là khi tay cô cầm kiếm thì không cần nghĩ đến thứ khác.
Vương Hắc đi ngang qua cổng sân luyện võ sau khi xong họp và nhìn vào. Ông ta nhận ra tiểu thư đang ở đó, nhìn qua nhịp kiếm, nhìn lại cây nhang tính giờ ở góc tường.
Muộn hơn giờ thường.
Ông ta đứng ở cổng, gãi đầu, mở miệng, rồi đóng lại. Mười năm theo tiểu thư, ông ta không phải người tinh tế nhưng cũng học được cái ranh giới giữa hỏi và không hỏi.
Hôm nay là không hỏi. Ông ta quay đi, bước chân thình thịch đi về phía nhà bếp, không nhìn lại.
Đèn sân luyện võ được thắp lên vào giờ Dậu, khi trời bắt đầu tối. Phúc Bá mang đèn ra đặt ở thềm, đặt xong không hỏi gì, không nhìn lại, quay vào trong. Lão đã làm việc này đủ nhiều lần trong ba mươi năm để biết: tiểu thư tập cho đến khi mệt thì tự vào, hỏi chỉ làm chậm quá trình đó.
Tiếng kiếm tiếp tục vang trong sân, Đều, sắc và lâu hơn mọi tối.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.