Ngày Trở Về

Chương 25: Vĩ Đại Để Được Gì?

Đăng: 02/06/2026 10:04 3,871 từ 2 lượt đọc

Bà Tám đưa tôi cốc nước, ân cần bảo:

- Con đã nhớ lại chưa?

Tôi nhận cốc nước uống một hơi rồi bảo:

- Dạ rồi.

Nói xong tôi liền muốn đứng lên đi về phía hầm lạnh nhưng bị bà Tám ngăn lại:

- Nghỉ ngơi đi, không nên mở cửa nhiều.

Tôi lùi lại, tựa lưng vào tường, nhìn thẳng vào bà Tám:

- Con muốn nghe tất cả mọi chuyện.

Bà Tám ngồi xuống cạnh giường, ánh mắt xa xăm hướng về phía hầm lạnh, chậm rãi kể:

- Phong ấn không phải vĩnh cửu. Cứ cách ba mươi năm lại phải gia cố một lần, và mỗi lần như vậy đều là một cuộc chiến khốc liệt. Mà trên đời này, không phải ai cũng có căn cơ để học huyền thuật, trở thành pháp sư trừ ma diệt quỷ. Vì vậy, hai vị tổ sư ngày xưa đã dùng bí pháp ếm một đạo ấn vào huyết mạch của hai đứa con mình, giúp hậu nhân của họ đời đời đều mang mệnh cách đặc thù, có thể nối nghiệp thủ hộ phong ấn. Tuy nhiên, cái giá phải trả là mỗi thế hệ chỉ có thể sinh một người con trai.

– Con là hậu nhân của một trong hai vị đó? – Tôi lên tiếng hỏi.

Bà Tám không đáp, chỉ khẽ gật đầu.

– Vậy sao ông nội của con lại sinh được hai người con trai? Cả ba con và chú Ba?

Nghe tôi hỏi, chú Trương hắng giọng lên tiếng:

– Để tôi giải thích.

Bà Tám khẽ gật đầu nhường lời. Chú Trương tiếp tục:

– Gần năm mươi năm trước, trong giới pháp sư – thầy bùa ở Việt Nam có ba người vô cùng xuất chúng. Một người là sư phụ của ta, một người là chồng của bà Tám đây, và người còn lại chính là ông nội cậu. Khi ba cậu vừa ra đời cũng trùng đúng vào chu kỳ "ba mươi năm" của phong ấn. Lúc đó kết giới đã cực kỳ suy yếu, không đủ sức giam cầm nữ quỷ kia nữa. Lợi dụng thời cơ, ả ta điên cuồng dồn toàn bộ oán khí tấn công kết giới hòng thoát khốn.

Nói rồi, chú Trương lấy điện thoại ra, mở một đoạn video rồi đưa tới trước mặt tôi:

– Năm đó, họ đã dùng máy quay phim băng từ cũ để ghi lại cảnh chiến đấu, muốn để lại tư liệu cho hậu nhân nghiên cứu, vì trăm nghe không bằng một thấy.

Chất lượng video rỗ hạt và nhiễu sóng chập chờn, nhưng dưới ánh sáng cực mạnh của bốn chiếc đèn pha, tôi vẫn thấy rõ ba người đàn ông đang liên tục bày trận, miệng không ngừng niệm chú. Đối diện với họ là một bóng trắng đang rít gào man rợ, điên cuồng lao vào chiếc lồng giam bằng ánh sáng.

Giằng co hơn ba mươi phút, khi mọi người đều nghĩ đã nắm chắc phần thắng thì một bóng đen đột ngột xuất hiện ngay sau lưng người đàn ông cao lớn ở bên trái. Bóng đen tích tụ hóa thành khuôn mặt dữ tợn của nữ quỷ, vung bộ móng vuốt nhọn hoắt vồ tới. Tình huống phát sinh quá bất ngờ khiến người đàn ông trúng đòn chí mạng, ngã chúi về phía trước, phun ra một ngụm máu tươi. Hai người còn lại giật thót, định lao đến ứng cứu.

– Giữ vị trí! Tôi lo được!

Người đàn ông trúng đòn thét lớn khiến cả hai khựng lại, cắn răng tiếp tục duy trì trận pháp. Nữ quỷ lại lao đến, há cái miệng rộng ngoác thổi ra một luồng khói đen đặc quánh ép người đàn ông phải liên tục lùi bước về phía lồng giam.

– Ha ha ha! Lá bài này ta đã cất giữ từ lâu lắm rồi. Lần này ta chắc chắn sẽ thoát khốn, cả đám các ngươi sẽ chết không toàn thây!

Bóng trắng trong lồng giam cười the thé điên cuồng. Giữa tình thế ngàn cân treo sợi tóc, khi người đàn ông nọ bị ép dồn đến cách lồng giam chỉ còn ba mét, ông đột ngột cắn nát ngón tay, dùng máu vẽ một huyết ấn lên trán mình, vừa vẽ vừa gằn từng chữ:

– Nhờ hai người... nói với con trai ta rằng... ba nó đã từng là một con người vĩ đại.

Khoảnh khắc ngón tay vừa rời khỏi trán, cả cơ thể ông ấy bỗng bùng lên một luồng ánh sáng chói lòa khiến nữ quỷ đang lao tới phải kêu gào thảm thiết, chớp mắt hóa thành khói đen tan biến.

– Khônggg… Tên họ Dương chết tiệt kia, ai cho ngươi làm vậy?!

Mặc kệ tiếng gào thét phẫn nộ của nữ quỷ và tiếng kêu gào ngăn cản của hai người đồng đạo, ông ấy chỉ khẽ mỉm cười rồi lao thẳng thân mình vào lồng giam ánh sáng. Một vụ nổ hào quang chói lòa bùng lên khiến toàn bộ màn hình điện thoại chỉ còn lại một màu trắng xóa.

– Aaaaa…

Khi tiếng thét của nữ quỷ lụi tắt, ánh sáng trên màn hình cũng dịu lại. Trên nền đất xám xịt lúc này chỉ còn lại hai người đàn ông. Một người đang quỳ sụp dưới đất, ngửa mặt lên trời khóc nấc lên thành tiếng:

– Vĩ đại ư? Vĩ đại để được cái gì? Hy sinh cả đời để được cái gì? Tao cả đời này chỉ cần một người bạn là mày mà thôi!

Đoạn video kết thúc. Chú Trương cất điện thoại đi, nhìn tôi bằng ánh mắt nặng trĩu:

– Người đàn ông quỳ khóc đó... chính là ông nội cậu. Ông ấy và chồng bà Tám là bạn tri kỷ từ thuở nhỏ. Cùng nhau lớn lên, cùng nhau học bùa phép, cùng nhau trừ yêu diệt ma bảo vệ phong ấn.

Tôi trầm mặc, lồng ngực như bị một tảng đá đè nặng. Đời người, cứ cố gắng làm những việc vĩ đại, vứt bỏ bản thân vì đại cuộc... cuối cùng là để làm gì?

– Sau đêm hôm đó, ông nội cậu như biến thành một người khác. Ông ấy chìm trong men rượu và bài bạc để tự hủy hoại mình. Sư phụ ta và bà Tám hết lời khuyên can nhưng vô ích. Mọi hy vọng của gia tộc đành đổ dồn lên ba của cậu, vì ba cậu sinh ra đã mang "Mệnh cách Thuần Dương", một kỳ tài huyền thuật ngàn năm có một.

Tôi chợt nhớ tới những lần mẹ bị người trong làng nói bóng gió về chuyện ông nội. Hóa ra suốt bao năm qua... không ai biết ông đã chết như thế nào.

Chú Trương khẽ thở dài:

– Nhưng chuyện đáng tiếc lại xảy ra vào bốn năm sau, khi chú Ba của cậu ra đời. Việc có hai người con trai được sinh ra trong cùng một thế hệ đã vô tình phá vỡ huyết mạch. "Mệnh cách Thuần Dương" cũng bị hủy. Không chỉ vậy, cái giá phải trả là cả ba và chú của cậu... đều vĩnh viễn không thể trở thành đạo sĩ hay thầy pháp.

Nghe chú Trương kể lại bi kịch của thế hệ trước, tôi chỉ biết cúi đầu, im lặng thở dài. Bà Tám nãy giờ trầm mặc, lúc này mới chậm rãi lên tiếng:

– Không ai trách ông ấy cả. Vốn dĩ, không ai bắt buộc chúng ta phải đời đời kiếp kiếp thủ hộ cái phong ấn này, cũng chẳng ai có quyền ép chúng ta phải vứt bỏ hạnh phúc cá nhân để hy sinh vì người khác. Thử hỏi những kẻ mở miệng ra là rao giảng đạo nghĩa ngoài kia, liệu có mấy ai dám đánh đổi mạng sống của mình và cả tương lai con cháu để cứu người dưng? Ở đời, mỗi người đều có lựa chọn riêng, và tất thảy đều đi kèm với nhân quả.

Ngừng một nhịp, bà Tám nâng ánh mắt đục ngầu nhìn thẳng vào tôi, gằn từng chữ:

– Thật ra, làm thầy pháp thu nhập không hề nhỏ. Năm đó, ta dư sức trả sạch số nợ bài bạc cho ông nội con. Nhưng đó là nghiệp quả ông ấy tự mang, ta tuyệt đối không được phép can thiệp. Chuyện thiên hạ đồn đại ông ấy thắt cổ tự vẫn vì trốn nợ... tất cả chỉ là bề nổi để che mắt thế gian. Sự thật là, ông ấy đã dùng chính thân xác và linh hồn mình luyện thành một "lá bùa sống", gieo mình xuống đất để củng cố phong ấn đang rạn nứt.

Đầu tôi như bị ai nện cho một búa, ong lên choáng váng. Hai tay tôi siết chặt lại đến mức móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay. Vậy ra... cái chết đầy nhục nhã khiến gia đình tôi chịu bao năm mang tiếng ở quê, thực chất lại là một sự hy sinh bi tráng đến tận cùng! Ông nội tôi chưa từng trốn chạy, ông ấy dũng cảm hơn bất kỳ ai!

Không để tôi kịp tiêu hóa cú sốc, bà Tám nói tiếp:

– Bọn ta chấp nhận để ông ấy hy sinh, bởi vì ngay khoảnh khắc con và Tiểu Linh cất tiếng khóc chào đời, ba người già chúng ta rốt cuộc cũng nhìn thấy tia hy vọng mà mấy trăm năm qua hai dòng họ này luôn mỏi mắt tìm kiếm. Thể chất của hai đứa quá mức đặc thù: một thuần âm, một thuần dương. Nếu dùng hai đứa làm tâm nhãn để kích hoạt sát trận năm xưa, chúng ta hoàn toàn có cơ hội tiêu diệt triệt để ả ác linh kia, chấm dứt lời nguyền mãi mãi.

Tôi nín thở lắng nghe, lồng ngực đập thình thịch liên hồi.

– Tuy nhiên, theo ghi chép trên mật thư để lại, đúng vào năm hai đứa tròn mười tám tuổi, nếu cả hai cùng hiện diện trong phạm vi khống chế của phong ấn, kết giới sẽ tự động mở ra và trận pháp sẽ bị kích hoạt. Trận chiến đó hung hiểm nhường nào, không ai lường trước được. Vì vậy, ta đành mượn cớ để ép gia đình con phải bỏ xứ dạt lên Tây Nguyên. Chúng ta cần thời gian để chuẩn bị, và quan trọng nhất... Tiểu Linh cần thời gian để rèn luyện, trưởng thành gánh vác trọng trách.

Tôi nhìn chằm chằm bà Tám, hai mắt đỏ ngầu, gằn giọng:

– Tại sao người phải rời đi lại là con mà không phải cô ấy?!

Bà Tám thở dài thườn thượt, ánh mắt đầy bất lực:

– Thể chất của con là thuần âm, không cách nào ngưng tụ dương khí để trở thành pháp sư được. Cùng lắm, con chỉ học được vài ngón đòn phòng thân cơ bản mà thôi. Nhưng Tiểu Linh thì hoàn toàn ngược lại. Nó mang mệnh thuần dương, dòng máu trong cơ thể nó chính là khắc tinh của mọi oán linh quỷ vật. Con đường duy nhất của nó... là phải trở thành một pháp sư để thay thế cha mẹ mình.

Giọng bà Tám chùng xuống, đượm vẻ xót xa:

– Giữa hai đứa từ lúc lọt lòng đã có một sợi dây liên kết vô hình, nên ngày đầu tiên gặp gỡ ở lớp học, nó đã nhận ra con ngay. Mãi đến mấy tháng sau, ta mới phát hiện ra con đã được đưa về lại quê. Cực chẳng đã, ta đành phải quyết định sử dụng đến Cổ “Đoạn Tình”. Cả thế gian này ta không rõ còn tồn tại bao nhiêu con cổ loại này, nhưng số lượng chắc chắn đếm không trọn một bàn tay. Nó có hai công dụng: một là giúp vật chủ miễn nhiễm với đa phần các loại độc cổ khác, hai là... xóa sạch mọi ký ức liên quan đến người mà nó đã nuốt lấy một sợi tóc. Khi Tiểu Linh lén dắt con về nhà gặp ta, ta đã bí mật hạ cổ để con vĩnh viễn quên đi con bé, sẽ không bao giờ tìm về vùng đất này nữa. Mười tám tuổi... Tiểu Linh hãy còn quá nhỏ để gánh vác mọi chuyện, ta tuyệt đối không thể mạo hiểm đánh cược mạng sống của nó vào chút tình cảm trẻ con này được!

Thấy bà Tám nghẹn lời, Hạ đứng bên cạnh nóng ruột chen ngang:

– Vậy chuyện sau đó thì sao hở bà Tám?

Lần này, chú Trương chậm rãi lên tiếng tiếp lời:

– Không rõ có phải vì ông nội cậu năm xưa đã làm trái tổ huấn hay không, mà uy lực của phong ấn ngày một suy yếu, còn ả nữ quỷ thì hấp thụ oán khí ngày càng mạnh. Để bảo vệ trận pháp, cả ba và má của Tiểu Linh đều đã tử chiến mà hy sinh. Tuyệt vọng, sư phụ ta bèn lặn lội sang tận chiến trường Trác Lộc cổ đại ở Trung Quốc, ôm hy vọng tìm được chút manh mối về bí pháp phong ấn mà hai vị tổ sư năm xưa đã sử dụng. Sau hơn hai năm ròng rã bặt vô âm tín, cuối cùng ông ấy cũng tìm được cách. Nhưng vì tình thế quá cấp bách, sư phụ chỉ kịp gọi điện để lại vài lời trăng trối cho ta, sau đó thì vĩnh viễn mất tích cho đến tận bây giờ.

Khóe mắt chú Trương khẽ giật giật, thanh âm lộ rõ sự run rẩy kìm nén, nhưng ông nhanh chóng dằn xuống để lấy lại vẻ bình tĩnh:

– Sư phụ truyền tin lại... cách duy nhất lúc này là dùng một phần hồn phách của một pháp sư mang mệnh thuần dương để làm vật dẫn, gia trì cho phong ấn. Ban đầu, ta đã xung phong nhận lấy trọng trách này. Nhưng đáng hận thay, pháp lực của ta không đủ, e rằng hồn phách sẽ tan biến trước khi đợi được đến thời điểm thích hợp. Cuối cùng... người bước lên tế đàn lại là Tiểu Linh.

Chú Trương nhắm nghiền mắt lại, giọt nước mắt trào ra nơi khóe mi:

- Cả ta và bà Tám đều kịch liệt phản đối. Việc dùng hồn phách dù không đoạt mạng ngay lập tức, nhưng nỗi thống khổ mà nó mang lại cho thể xác và linh hồn là tàn khốc đến mức không thể tưởng tượng nổi. Thế nhưng... cả gia tộc nhà tụi bây đều mang chung một cái nết: vô cùng cố chấp và cứng đầu!

Nước mắt tưởng chừng đã cạn, nay lại chực trào nơi khóe mi. Tại sao những người con gái bước ngang qua đời tôi, ai cũng ngốc nghếch đến thế? Đánh đổi cả thanh xuân, linh hồn và mạng sống vì người khác... rốt cuộc có gì vui vẻ mà hết người này đến người khác đều cam tâm tình nguyện?

– Nó nằm đó đã ba năm rồi. Trừ tháng Bảy âm lịch ra, vào những tháng khác, ban đêm hồn phách nó có thể tạm quay về thể xác để sinh hoạt như người bình thường cho đến khi trời sáng. Nhưng hễ bước vào tháng cô hồn, oán khí trời đất tăng cao, phong ấn dao động, cả nó và ả ác linh kia đều rơi vào trạng thái suy nhược, chìm vào giấc ngủ sâu. Bọn ta cũng chẳng rõ cái "thời điểm thích hợp" mà Trương sư huynh dặn dò rốt cuộc là lúc nào... cho đến khi con đặt chân về lại quê hương.

Bà Tám nhìn tôi bằng ánh mắt chất chứa bao điều phức tạp, khẽ kể tiếp:

– Người đầu tiên cảm ứng được sợi dây liên kết chính là Tiểu Linh. Nó đã cố gắng tìm đến con trong những giấc mơ, nhưng vì hồn phách quá yếu ớt nên chỉ trụ được vỏn vẹn ba lần. Chẳng biết do nhân quả tuần hoàn hay số mệnh trêu ngươi, mà tất cả những người bị cuốn vào vòng xoáy này... con đều có duyên kỳ ngộ. Mọi thứ cứ như một vòng tròn khép kín vậy.

Chú Trương hắng giọng, tiếp lời bà Tám:

– Sư phụ ta thu nhận tất cả ba người đệ tử. Đại sư huynh tư chất kém, không có căn cơ luyện huyền thuật nên chỉ học được vài ngón nghề về phong thủy, xem tướng. Nhưng cũng nhờ huynh ấy nhạy bén phát giác, ta mới có thể đến kịp lúc để cứu mạng hai đứa bây.

– Là chú Tân sao? – Tôi kinh ngạc cắt ngang.

Chú Trương gật đầu, trầm ngâm:

– Đúng vậy. Sau khi nghe cậu kể về những dị tượng ở quê, huynh ấy đã lờ mờ đoán ra sự tình nên lập tức cấp báo cho ta. Ta đã hỏa tốc lên đường, nhưng đáng tiếc... vẫn chậm mất một bước.

Hạ khẽ thở dài. Cả tôi và cậu ấy đều hiểu rõ nỗi đau đớn đằng sau cái "chậm mất một bước" ấy là gì.

– Còn lão Phương... chính là tam sư đệ của ta. – Chú Trương nghiến răng – Nếu xét thuần túy về thiên phú đạo pháp, nó bỏ xa ta hàng vạn dặm. Nhưng đáng hận thay, cuộc đời nó chịu quá nhiều bi kịch tàn khốc khiến tâm lý trở nên vặn vẹo, tự chọn cho mình con đường sai trái. Nếu nó chịu đứng cùng chiến tuyến với chúng ta, phần thắng đã lớn hơn rất nhiều. Đằng này, nó lại rắp tâm phá vỡ phong ấn, muốn thả ả ác linh kia ra để biến thành tà vật sai khiến.

Thấy chú Trương thở dài não nuột, tôi gằn giọng hỏi:

– Vậy cái chết của chú Đẩu và bà Năm... cũng là do một tay ông ta dàn xếp?

Chú Trương lắc đầu:

– Phải, mà cũng không phải. Số mệnh của hai người họ vốn đã cạn, cái chết là điều khó tránh khỏi. Nhưng lão Phương lại mượn gió bẻ măng, nhân lúc họ vừa dứt hơi thở liền lập tức đoạt lấy hồn phách đem hiến tế cho nữ quỷ. Còn mục đích sâu xa đằng sau việc thu thập những oán hồn khuyết tật, bệnh tật đó là gì... e rằng chỉ có lão và ả ta mới rõ.

Nói đến đây, chú Trương chợt im lặng. Cả bốn người đồng loạt rơi vào trầm mặc. Không gian dưới hầm băng lạnh lẽo đến nghẹt thở. Một mối ân oán vắt ngang mấy thế kỷ, rốt cuộc đã nghiền nát bao nhiêu kiếp người, bắt bao nhiêu sinh mạng vô tội phải hy sinh?

Tôi nhìn bà Tám, cố nén đi sự xót xa trong lồng ngực:

– Giờ con chỉ muốn hỏi... khi nào Tiểu Linh sẽ tỉnh lại?

Bà Tám nhìn tôi khẽ mỉm cười:

– Mười một giờ tối nay nó sẽ tỉnh lại. Đúng vào giờ Tý, hai bảy tháng bảy âm lịch.

Nghe bà Tám nói, Hạ đang ngồi bên cạnh liền vỗ đùi đánh đét, bật cười ha hả:

– Ý trời! Quả đúng là ý trời! Không biết đêm Thất Tịch năm nay Ngưu Lang Chức Nữ trên thiên đình có lội qua cầu Ô Thước được không, chứ cặp Ngưu Lang Chức Nữ “dưới đất” này là chắc kèo được hội ngộ rồi!

Tôi cũng chẳng buồn cự nự lại cái tính tếu táo của Hạ. Lòng tôi lúc này ngổn ngang trăm mối, vừa hồi hộp, vừa chờ mong. Hơn mười năm trời xa cách, gánh trên vai bao nhiêu vết thương rỉ máu, liệu khi gặp lại... Tiểu Linh có còn là cô bé vui vẻ hay cười của ngày xưa không?

– Đi thôi, đến lúc bái tế các vị tổ sư rồi. Cả thế hệ này, chỉ còn mỗi mình con là chưa thắp cho họ nén nhang nào.

Bà Tám đứng dậy, dẫn mọi người đến căn phòng lớn ở trung tâm. Hóa ra, đây chính là căn phòng có treo bức tranh Tam Thanh và đặt cỗ quan tài gỗ tà môn mà hôm trước tôi đã lẻn vào. Đứng trước bức tranh của ba vị Nguyên Thủy Thiên Tôn, Linh Bảo Thiên Tôn và Đạo Đức Thiên Tôn, bà Tám chỉ khẽ cúi đầu vái một vái, trong khi chú Trương lại chỉnh tề hành lễ thật sâu.

– Ta là vu sư nên không cần quá câu nệ lễ nghi với Đạo gia, nhưng tiểu Trương thì khác.

Nói xong, bà xoay nhẹ một chốt ngầm trên vách tường. Tiếng cơ quan rền rĩ vang lên, cánh cửa bí mật mở ra không gian quen thuộc của từ đường. Đứng trước hai dãy bài vị san sát nhau, bà Tám nhìn tôi, trầm giọng bảo:

– Hai nhà đã quyết định xây dựng từ đường của cả hai họ ở đây, với mong muốn dùng chính khí vận và anh linh của tiền nhân để dằn ép phong ấn.

Bà chắp tay, bái thật sâu trước các bài vị rồi dõng dạc cất tiếng:

– Hậu nhân đời thứ hai mươi bảy của Vương gia đến bái tế, mong liệt vị tổ sư chứng giám!

Không biết có phải do tôi hoa mắt hay vì một luồng sức mạnh tâm linh nào đó, mà tôi chợt thấy dòng chữ trên các bài vị đồng loạt lóe lên thứ ánh sáng vàng dịu nhẹ. Khớp gối mềm nhũn, tôi vội vàng quỳ rạp xuống, dập đầu lạy ba lạy thật sâu rồi cứ thế quỳ mọp trên nền gạch lạnh lẽo, không dám đứng lên.

Bà Tám cũng để mặc tôi quỳ như vậy. Trong không gian tĩnh mịch, giọng bà trầm đục vang lên, lần lượt giới thiệu tên tuổi của những bậc tiền bối kiệt xuất của hai họ Vương – Dương, lật giở lại từng trang cuộc đời bi tráng và sự hy sinh máu thịt của họ chỉ để bảo vệ sự bình yên cho thế giới này.

Mãi đến khi chiếc đồng hồ quả lắc ngoài gian chính gõ boong boong điểm đúng mười một giờ đêm, báo hiệu giờ Tý đã tới. Đồng thời, từ sâu dưới lòng đất, một tiếng rít gào thê lương, ma mị mang đầy oán hận vang lên làm rung chuyển cả căn nhà. Mọi người giật thót, vội vã lao theo bà Tám chạy ngược về phía hầm băng.

Cánh cửa thép khối vừa được mở tung, làn sương lạnh buốt đã tràn ra ngoài, cuộn lấy gót chân. Giữa màn sương mờ ảo của hàn khí, cỗ quan tài thủy tinh đã được mở nắp.

Một thiếu nữ mặc váy trắng mỏng manh đang đứng đó. Khuôn mặt thanh tú có phần nhợt nhạt vì sương giá, nhưng đôi mắt trong vắt tựa sương mai lại đang cong lên thành một nụ cười rạng rỡ nhìn thẳng về phía tôi.

Trái tim tôi lỗi mất một nhịp, lồng ngực đập dồn dập như muốn nổ tung. Bờ môi tôi run rẩy, khẽ gọi tên người con gái ấy:

– Tiểu Linh...

0