Chương 2: Đêm Đầu Tiên
Ngôi Nhà Ma Ám
Mục lục
2 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 2/2 chương
Đêm đầu tiên đến Long Sơn, tôi tạm thời ở nhờ nhà một cặp vợ chồng già. Ông bà không có con cái, hai gian nhà tranh nhỏ dựng giữa một mảnh vườn rau lớn, ngay đầu vườn chính là cổng làng.
Trời vừa tối, có một con chim lớn hình thù kỳ quái đậu trên cây đa già ở cổng làng, cứ cách vài phút lại phát ra một tiếng kêu ai oán. Tiếng kêu ấy nghe như từ miệng một oan hồn u ám, vặn vẹo nội tâm, đang nghiến răng nguyền rủa ai đó. Nếu dùng lời để miêu tả thì chỉ có hai chữ rõ ràng: “Hận hu… Hận hu…”
Dù nơi này chỉ cách thành phố vài trăm dặm, nhưng thế giới náo nhiệt bên ngoài vẫn chưa làm thay đổi cuộc sống mộc mạc của dân làng nơi đây. Mọi người vẫn sống theo nếp cũ – mặt trời lên thì làm, mặt trời lặn thì nghỉ – trời vừa sẩm tối đã tắt đèn đi ngủ, cả ngôi làng chìm vào một màn đêm tĩnh lặng như nghĩa địa.
Chiếc giường tre khiến tôi trở mình trằn trọc mãi. Cơ thể vốn quen nằm nệm êm, giờ ép trên mặt giường cứng như gỗ, khiến tôi có cảm giác toàn thân chỉ còn xương, chẳng còn chút thịt, nằm thế nào cũng khó chịu không sao chợp mắt được.
Không ngờ sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị lại hiện rõ ngay từ đêm đầu tiên tôi đến đây. Nhưng đã đến đây rồi thì không thể bỏ cuộc. Tôi cẩn thận trở mình, cố gắng điều chỉnh tư thế cho dễ chịu hơn, nhưng vô ích.
Đêm mỗi lúc một sâu, tiếng kêu kỳ quái bên ngoài vang lên ngày càng rõ ràng khiến sự chú ý của tôi bị cuốn theo. Tôi mở to mắt trong bóng tối, bất giác lắng nghe tiếng chim, trong lòng chợt nổi lên căng thẳng kỳ lạ.
“Hận hu…! Hận hu…!”
Giữa những tiếng kêu là khoảng lặng ghê rợn, như thể vạn vật trong đêm tối đều nín thở lắng nghe âm thanh đầy ẩn ý ấy.
Ông lão nằm đầu giường ho khẽ một tiếng trong chăn.
“Xuỵt… Đừng làm con bé tỉnh giấc…” Bà lão nằm giữa thì thào nhỏ giọng.
“Cháu vẫn chưa ngủ đâu ạ.” Tôi như nghe được hơi ấm con người, lập tức ngồi dậy khỏi giường, “Ông bà, giờ đi ngủ thì sớm quá. Chi bằng nói chuyện một lát được không ạ?”
“Ôi chao, bao nhiêu năm rồi mới gặp mùa mưa dầm như thế này.” Ông lão vừa ho khù khụ vừa ngồi dậy.
“Cháu từ xa đến, ông bà sợ cháu mệt. Chứ thật ra, người già rồi thì chẳng ngủ được bao nhiêu. Vậy thì cứ tám chuyện trong bóng tối một chút cũng được.” Bà lão vừa nói vừa khoác thêm áo ngoài rồi ngồi dậy.
“Ông nó à, xuống nhà sau lấy mấy củ khoai vùi vào bếp than đi. Đêm còn dài lắm, lát nữa cô giáo có khi lại thấy đói bụng. Ở chỗ mình chẳng có gì ngon cả.” Bà lão vừa áy náy vừa cười với tôi.
Ông lão vừa đáp lời vừa lần mò xuống đất, mặc thêm áo rồi mở cửa đi ra ngoài.
“Bà ơi, sao trên cây đa già ở đầu làng lại buộc đầy dải vải đỏ thế ạ?” Tôi không nén được tò mò, liền hỏi ngay thắc mắc trong lòng.
“Đó là cây cổ thụ mấy trăm năm tuổi rồi, thành tinh cả rồi đấy. Nhà nào có con nhỏ đau yếu khó nuôi thì sẽ đến bái cây đa làm cha nuôi, dâng hoa quả cúng, buộc một dải vải đỏ, rồi dẫn đứa bé tới quỳ lạy ba cái. Làm vậy thì đứa trẻ ấy mới dễ nuôi khôn lớn.”
“Ra là thế! Mà bà có nghe tiếng chim trên cây không?… Con chim đó là chim gì vậy? Sao tiếng kêu nghe ghê quá?” Lời tôi vừa dứt thì ngoài kia lại vang lên một tiếng quái dị:
“Hận hu!...”
Bà lão lấy que chọc vào đống than trong bếp sưởi, lập tức ngọn lửa nhỏ bùng lên đỏ rực, soi lên khuôn mặt nhăn nheo mà hiền hậu của bà.
“Đó là ‘Hận hu’, tức là cú mèo đấy, người trong làng này cũng gọi nó là ‘dạ miêu’ vì trong đêm nhìn nó giống con mèo.”
“Thì ra là cú mèo. À, cháu có đọc về nó trong sách rồi! Không ngờ cú mèo lại có nhiều tên gọi thế.” Tôi tò mò cười nói với bà lão.
Giờ tôi mới biết loại chim thân hình to tròn, đầu có thể xoay ra sau lưng ấy – trong dân gian vùng này lại được gọi là “Hận hu”.
Bà lão lại giải thích thêm. Theo truyền thuyết dân gian, tiếng kêu của cú mèo là dấu hiệu đòi mạng. Người ta bảo rằng, mỗi lần nó xuất hiện với vẻ âm hiểm và cứ kêu không dứt thì gần đó thế nào cũng có người chết, không phải chết vì tuổi già, mà là gặp họa bất ngờ. Dù tuyên truyền về việc bảo vệ loài chim có ích này đã được đẩy mạnh theo thời gian, nhưng người dân nơi đây vẫn nhất mực tin rằng, thứ chim đó xuất hiện sẽ mang theo điềm gở nên không hề muốn nhìn thấy chúng.
Thường thì vào những đêm vắng vẻ lạnh lẽo, một vầng trăng khuyết cô đơn treo lơ lửng trên ngọn cây là lúc con cú mèo ấy lại xuất hiện. Chỉ cần nghe thấy tiếng kêu của nó, cả làng lập tức im phăng phắc. Trên mặt người già trong làng, ai nấy đều hiện rõ vẻ nghiêm trọng, căng thẳng; còn đám trẻ con thì luống cuống chui đầu vào ngực mẹ, vạch áo tìm hơi ấm, rúc thật sâu vào lòng mới thấy yên tâm phần nào.
Cái biệt danh kỳ dị kia – “Hận Hu” – chính là do tiếng kêu rợn người của nó mà ra. Ngày này qua tháng khác, năm này nối năm kia, tiếng kêu ấy chưa bao giờ thay đổi.
“Hận… hu!… Hận… hu!...”
Tiếng kêu vang lên rồi im lặng, âm thanh không nhanh không chậm, từng tiếng rợn người, nghe hệt như một câu thần chú u ám, độc địa đang nguyền rủa vậy.
“Con Hận Hu đó đến làng này cũng được một thời gian rồi. Tối nào nó cũng đậu trên cây đa già kêu suốt đêm, khiến người ta không tài nào ngủ được, trong lòng cứ bồn chồn bất an.” Bà lão lo lắng nói.
Đúng lúc ấy, chỉ nghe một tiếng “két”, ông lão đẩy cửa bước vào, mang theo một luồng gió lạnh ùa vào trong nhà. Trên tay ông ôm một đống khoai, dùng lưng hích cửa đóng lại, lẩm bẩm như nói với chính mình:
“Con Hận Hu lại gào khóc rồi… Không biết lần này nhà ai gặp xui đây?”
“Ông nói linh tinh cái gì đấy!” Bà lão vội thấp giọng, trừng mắt nhắc nhở chồng.
“Xui? Là sao ạ?” Tôi nghi hoặc nhìn ông lão đang lặng lẽ bước lại gần trong bóng tối.
“‘Cú vào nhà, chẳng có chuyện lành’. Không biết là nhà ai sắp có người chết không rõ nguyên nhân.” Ông lão nói thận trọng.
“Chết không rõ nguyên nhân?” – Tôi tròn mắt hỏi lại.
“Đừng có nghe ông ấy nói bậy! Ấy là mấy câu dân gian của vùng quê thôi, không nên tin, không nên tin!” Bà lão như sợ cô giáo từ thành phố coi thường dân quê mê tín, bèn vội ra hiệu cho ông lão im miệng.
“Ông ơi, ý ông vừa nói là… cứ mỗi lần cú mèo vào làng là có người chết ạ?” Tôi suy nghĩ hồi lâu, rồi không nhịn được mà hỏi lại, trong lòng đầy nghi hoặc khó hiểu.
“Chín phần mười là vậy. Mà toàn là chết bất đắc kỳ tử thôi, chứ không phải già chết hay bệnh chết đâu.” Ông lão vừa ho khan vài tiếng vừa đáp.
“Chết bất đắc kỳ tử…?”
“Tức là… chết do gặp chuyện gì đó.”
“Ý ông là chết không bình thường đúng không?… Trước đây con chim đó từng về làng rồi ạ?” – Tôi ngẫm nghĩ rồi hỏi tiếp.
“Ôi, chuyện nhiều năm trước rồi! Hồi đó ông còn trẻ…”
“Vậy… lúc đó là nhà nào gặp chuyện ạ?” – Tôi sốt sắng, rướn người lại gần mép giường.
“Là ngôi nhà cổ đầu làng. Hồi ấy con Hận Hu kêu mấy hôm, rồi nhà ấy gặp chuyện.”
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.