Nguyên Hồn Vũ Trụ

Chương 7: Rừng Nguyên Sinh Là Vô Giá

Đăng: 18/06/2026 19:25 2,208 từ 2 lượt đọc
Trần Lập bật chiếc đèn pin đội đầu lên, luồng ánh sáng trắng lập tức xé toạc màn đêm âm u của núi rừng, anh bắt đầu rảo bước lên đường. Ở cái thôn miền núi vùng sâu này, tuy rằng đã có điện,nhưng do địa hình chia cắt nên nhà cách nhà nhau một khoảng khá xa. Chuyện các hộ dân sống cách nhau một đến hai con đồi là điều hết sức bình thường, nhà nào gọi là nằm gần nhau lắm thì khoảng cách cũng phải từ hai trăm đến ba trăm mét. Chính vì mật độ thưa thớt như thế, dọc các lối mòn quanh co nối giữa các cụm nhà hoàn toàn không có hệ thống đèn đường chiếu sáng. Đối với người dân nơi đây, việc bước ra khỏi cửa vào ban đêm mà không mang theo một chiếc đèn pin thì chẳng khác nào tự làm khó mình, đó là vật phẩm thiết yếu không thể nào thiếu được.


Cuốc bộ qua được hai con đồi dốc, bóng đèn pin của Trần Lập bất chợt quét trúng một bóng người cao lớn đang đi phía trước. Nhìn vóc dáng ấy, anh nhận ra ngay đó là Vương Tráng. Trần Lập thực ra cũng không rõ tên thật trên giấy tờ của anh ta là gì, chỉ biết anh chàng này sở hữu thân hình vô cùng khôi ngô, vạm vỡ và to con như một tráng hán thời xưa. Người trong làng từ trước tới nay đều quen miệng kêu anh ta bằng cái tên Vương Tráng, thành ra Trần Lập cũng gọi theo như vậy.


Trần Lập rảo bước lên mấy nhịp, lớn tiếng chào hỏi trước:


— Vương Tráng! Đi đến nhà bác trưởng thôn họp đấy hả?


Vương Tráng nghe tiếng gọi liền dừng bước, quay đầu lại nhìn rồi gật đầu đáp bằng chất giọng trầm đục:


— Ừm! Anh cũng thế à?


— Ừm — Trần Lập ngắn gọn đáp lại.


— Thế thì cùng đi luôn cho vui — Vương Tráng ngoắc tay ra hiệu.


Hai người đàn ông vừa đi vừa soi đèn, trò chuyện dăm ba câu bâng quơ dọc đường. Đi tiếp được một đoạn ngắn qua một khúc quanh, ánh đèn pin của họ lại bắt gặp thêm một người dân nữa trong bản cũng đang lầm lũi đi bộ. Người này có cái tên khá đặc biệt mà dân làng hay gọi là Minh Lé. Thế là cả ba người lại cùng nhau nhập hội, tiếp tục tiến về phía trước.


...Cứ như vậy, cái "đoàn quân" đi họp đêm của Trần Lập giống như một dòng suối nhỏ, cứ đi qua mỗi một đoạn đường, mỗi một lối rẽ vào nhà dân thì lại có thêm người chủ động nhập vào. Đến khi bước chân của cả nhóm chạm tới khoảnh sân đất trước ngôi nhà sàn rộng lớn của lão trưởng thôn, số lượng đoàn người đi cùng Trần Lập từ ba người ban đầu nay đã tăng lên thành bảy người, ánh đèn pin rọi đan xen nhau sáng rực cả một góc sân.


Căn nhà của ông trưởng thôn đêm nay được chăng đèn sáng sủa. Khoảnh sân rộng rãi phía trước đã được tráng bằng một lớp xi măng sạch sẽ, phẳng phiu. Lúc nhóm của Trần Lập đặt chân đến, nơi này đã có hơn hai mươi người dân trong bản đến sớm, đang ngồi vây quanh trên những chiếc chiếu cói trải sẵn để xơi nước, trò chuyện rôm rả.


Vừa nhìn thấy nhóm của Trần Lập bước vào cổng rào, ông trưởng thôn đã vui vẻ từ trên hiên nhà sàn đi ra đón. Ông đon đả chào hỏi rồi nhiệt tình mời cả nhóm vào một góc chiếu còn trống:


— Mấy đứa tới rồi đấy à? Vào đây, vào đây ngồi chỗ chiếc chiếu này này!


Cả nhóm bảy người cảm ơn ông rồi cùng nhau ngồi xuống bệt quanh chiếc chiếu, vừa uống nước trà vừa hòa vào bầu không khí trò chuyện chung của bà con. Không để mọi người phải đợi lâu với cái bụng đói sau một ngày làm việc, ông trưởng thôn còn tâm lý mang thêm chút đồ ăn nhẹ lên cho anh em trong nhóm lót dạ, vừa để giết thời gian, vừa chờ cho những hộ dân còn lại trong bản đến đông đủ.


Lúc này, Trần Lập khẽ đảo mắt nhìn lên phía trên nhà sàn. Qua khung cửa chính rộng mở, anh thấy ánh điện sáng choang hắt ra. Ở gian trong của nhà trưởng thôn, anh công an khu vực cùng các chiến sĩ biên phòng và mấy nhân viên kiểm lâm mặc sắc phục đã đến từ bao giờ, họ đang ngồi trao đổi công việc cùng nhau.


Mọi người ngồi uống trà, hàn huyên thêm một lát thì cũng đã đến giờ khai mạc cuộc họp. Bà con bên ngoài sân bắt đầu thu dọn bát đĩa, gác lại những câu chuyện phiếm sang một bên và tập trung sự chú ý lên phía trên. Anh công an khu vực bước ra trước hàng hiên, bắt đầu lên tiếng mở đầu buổi họp và phổ biến các chủ trương, chính sách an ninh trật tự mới của khu vực trong thời gian tới.


Sau khi anh công an khu vực trình bày xong phần việc của mình, đến phiên đồng chí nhân viên kiểm lâm bước lên để nói chuyện với dân bản. Đầu tiên, bằng giọng điệu thân tình nhưng không kém phần nghiêm túc, anh nhắc nhở bà con:


— Thưa bà con trong bản, hiện tại chúng ta đang bước vào những tháng cao điểm của mùa khô. Thời tiết nắng nóng hanh khô thế này, tôi mong bà con khi đi nương đi rẫy tuyệt đối không được tùy tiện đốt lửa ở những khu vực gần bìa rừng, rất dễ xảy ra tình trạng cháy lan không kiểm soát được. Bản mình cần phải nâng cao ý thức phòng chống cháy rừng lên mức cao nhất, tuyệt đối không được chủ quan trước mùa nắng nóng này.


Sau lời cảnh báo ban đầu, đồng chí kiểm lâm bắt đầu chuyển sang nội dung tuyên truyền về việc bảo vệ rừng. Anh chậm rãi giảng giải cho bà con hiểu rõ vì sao việc giữ gìn những cánh rừng nguyên sinh ở khu vực đầu nguồn lại mang tính chất sống còn đối với cuộc sống của chính họ:


— Như bà con đã biết, rừng nguyên sinh đầu nguồn đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Nhờ có nó, bà con ở vùng hạ nguồn mới chống chịu được, khỏi phải rơi vào cảnh ngập lụt mỗi khi mùa mưa bão dội xuống. Còn đối với chính chúng ta ở vùng thượng nguồn này, có giữ được rừng thì mới không phải chứng kiến những thảm cảnh sạt lở đất, hay các trận lũ ống, lũ quét kinh hoàng. Bà con có biết tại sao lại như vậy không?


Nói đến đây, anh dừng lại một chút, đưa mắt nhìn quanh một lượt những gương mặt đang chăm chú lắng nghe dưới sân rồi mới trầm giọng tiếp tục:


— Rừng nguyên sinh của chúng ta quý giá lắm, bà con ạ. Thứ nhất là nhờ vào tầng lá mục. Ở trong một khu rừng già nguyên sinh, tầng lá khô mục tích tụ từ năm này qua năm khác tạo thành một lớp rất dày trên mặt đất. Khi mùa nắng đến, lớp lá này có thể khô khốc, nhưng khi những cơn mưa đầu mùa đổ xuống, nguồn nước mưa sẽ lập tức bị giữ lại, đọng trên những tấm lá mục này chứ không chảy tuột đi đâu được. Từ tầng lá đó, nước mới bắt đầu ngấm từ từ, thấm dần vào lòng đất. Nó giữ cho mạch nước được liên tục và thẩm thấu một cách chậm rãi, chứ không ào ạt đổ xuống triền dốc. Thử nghĩ xem, nếu không có lớp lá mục này chặn lại, nước mưa gặp độ dốc của núi sẽ chảy ồ ạt thành dòng lớn, kéo theo đất đá tạo thành lũ quét ngay tức khắc. Chính vì không có cái gì giữ nước lại, nước cứ thế dồn dập đổ xuống với khối lượng quá lớn nên mới sinh ra lũ hoành hành dưới xuôi.


Anh kiểm lâm đưa tay ra hiệu, nhấn mạnh thêm ý thứ hai:


— Cái lợi thứ hai là rừng giúp cho nước mưa ngấm xuống một cách đều đặn, từ tầng đất mặt cho đến tận những tầng đất sâu bên dưới. Điều này giúp duy trì sự cân bằng áp lực nước giữa các tầng đất với nhau. Từ đó, chúng ta tránh được nguy cơ sạt lở núi. Bà con phải hiểu, sạt lở xảy ra là do khi mưa lớn, tầng đất phía trên mặt ngậm quá nhiều nước trở nên nặng trĩu, trong khi tầng đất sâu bên dưới thì lại khô khốc, hai tầng đất không có sự liên kết sẽ trượt lên nhau, kéo đổ cả một mảng sườn đồi.


Đặc biệt hơn cả là những cây cổ thụ trong rừng. Chúng chính là bộ khung, là trung tâm chịu lực của cả khu rừng. Những cái rễ lớn của cây cổ thụ cắm sâu, bám chặt vào các tầng đất đá hiểm trở bên dưới, đóng vai trò như những chiếc mỏ neo khổng lồ giữ cho đất không bị trượt đổ. Ở phía trên, hệ thống dây leo chằng chịt lại đan xen vào nhau như một tấm lưới bền chắc, bám chặt và kết cấu mặt đất lại thành một khối thống nhất. Còn các bụi cây, lùm rậm nhỏ dưới thấp thì lại là một phần không thể thiếu để giữ cho các tầng lá khô không bị nước mưa cuốn trôi hay bị những trận gió đại ngàn thổi phát tán bay mất.


Đồng chí kiểm lâm khép lại bài phát biểu bằng lời đúc kết đầy tâm huyết:


— Qua những điều đó, bà con có thể thấy rõ việc giữ rừng mang lại lợi ích to lớn như thế nào rồi đấy. Giữ gìn rừng nguyên sinh cũng chính là đang bảo vệ sự an toàn tính mạng và tài sản lâu dài của chính chúng ta và con cháu sau này. Đồng thời, hành động đó cũng là cách chúng ta giúp đỡ bà con ở vùng hạ lưu giảm bớt tai ương lũ lụt vào mùa mưa.

Nói xong tới đó, đồng chí kiểm lâm nhìn một lượt khắp lượt bà con dưới sân rồi lớn tiếng hỏi:


— Bài tuyên truyền của tôi đến đây là hết. Bà con mình ở đây có ai có ý kiến gì, hoặc có chỗ nào chưa hiểu rõ thì cứ thoải mái đứng lên đặt câu hỏi, tôi sẽ giải thích thêm!


Dưới sân im lặng một chút, bỗng có một bác nông dân đứng tuổi, tay vẫn còn cầm điếu cày, rụt rè nhưng thẳng thắn đứng lên hỏi:


— Tôi nghe đồng chí nói thì hiểu rồi. Nhưng xin hỏi đồng chí kiểm lâm một câu, cây lớn như cổ thụ thì cắm rễ giữ đất, cây nhỏ bụi rậm với dây leo thì làm lưới giữ lá mục. Toàn thấy đồng chí nhắc cây lớn với cây nhỏ, thế còn những cái cây vừa vừa, cỡ bắp vế bắp tay thì làm sao? Chẳng lẽ tụi nó không có công dụng gì à?


Nghe thấy câu hỏi cắc cớ nhưng rất thực tế ấy, đồng chí kiểm lâm không hề lúng túng mà liền bật cười vui vẻ, gật đầu tán thưởng:


— Bác tiếp thu câu chuyện chặt chẽ quá, ngay cả điểm thiếu sót này trong bài nói của tôi mà bác cũng nhìn ra được! Giỏi lắm bác ạ!


Anh kiểm lâm đưa tay ra hiệu mời bác nông dân ngồi xuống rồi ôn tồn giải thích cho cả bản cùng nghe:


— Dạ thưa bác và thưa bà con, trong một khu rừng nguyên sinh thì không có cây nào là thừa thãi cả, những cây cỡ vừa vừa như bác nói đều có công dụng cực kỳ quan trọng. Chúng chính là tầng cây trung gian tạo ra bóng mát và giữ hơi nước lại vào những ngày nắng hạn. Nhờ có mật độ dày đặc của những cây cỡ vừa này, chúng ta có một mái che che chắn phía trên, ngăn không cho ánh nắng mặt trời gay gắt chiếu trực tiếp xuống tầng lá mục và gốc cây ở bên dưới. Nhờ vậy, hơi nước trong đất không bị thất thoát, bốc hơi đi mất, giúp giữ gìn và tăng cường độ ẩm quanh năm cho cả khu rừng. Rừng có ẩm, có mát thì cây con mới mọc lên được, và tầng lá mục mới không bị khô khốc thành mồi lửa, bà con ạ!


Bác nông dân nghe xong liền gật gù cái đầu, bà con xung quanh cũng râm ran bàn tán, ai nấy đều tỏ vẻ thấm thía trước lời giải thích thấu tình đạt lý của anh kiểm lâm.

0