Quyển 1: Xuân Nhật
Chương 2: Dao Trì
Dao Trì không nằm ở nơi nào quan trọng trên Thiên Đình.
Không phải trung tâm, không phải cạnh Bích Lạc Cung, không phải chỗ ai thường lui tới. Nó nằm ở phía tây, khuất sau một vách đá thấp, con đường vào quanh co hẹp đến mức hai người đi cùng lúc thì sẽ phải chạm nhau. Cỏ hai bên mọc cao ngang hông, hoa đào dọc lối dù không ai trồng cố ý mà cứ mọc, cứ ra hoa mỗi năm, cứ rụng cánh xuống lối đi thành thảm hồng dày khi đến mùa. Mấy vị thần hay qua lại khu phía tây này đôi khi không biết có suối ở đây, dù đã đi ngang qua hàng trăm năm. Họ thấy vách đá, thấy bụi cỏ cao, rồi vòng đường khác, không ai nghĩ phía sau lại có một chỗ như vầy.
Nhưng Dao Trì biết mình là gì và không phàn nàn về điều đó.
Nước suối trong vắt, nhìn thấy tận đáy, đáy phủ đá cuội nhỏ màu trắng bạc lấp lánh theo từng con sóng lăn tăn. Mùi nước ở đây có chút gì đó giống hoa đào dù không phải hoa đào, kiểu mùi mà người ta hít một lần thì không cần hít lần thứ hai, vì đã biết chắc rằng mình sẽ không quên. Lụa mệnh số phơi trên những sợi dây mắc ngang giữa hai thân cây đào, trắng đều một màu, bay phất phơ theo gió, đôi khi hai tấm chạm vào nhau phát ra tiếng sột soạt rất khẽ, như tiếng ai đó lật trang sách ở phòng bên.
Buổi chiều hôm đó, tất cả những thứ này vẫn như mọi ngày. Nắng xế nghiêng qua tán đào, rọi xuống mặt suối tạo thành những vệt vàng loang lổ. Gió nhẹ thổi lụa khẽ bay. Mấy con chim nhỏ chuyền cành tranh nhau chỗ đậu.
Trừ người đang ngồi bên suối.
Mạnh Thanh Hoan đang giặt lụa.
Không phải giặt theo kiểu làm cho xong việc. Nàng ngồi trên tảng đá bằng phẳng sát mép nước, hai ống tay áo vén cao quá khuỷu tay, tay ngâm trong suối lạnh, kỳ cọ từng tấm lụa mệnh số theo một nhịp đều đặn, cẩn thận như thể tấm lụa có thể bị đau nếu nàng chà mạnh. Một tấm sạch rồi thì nàng nhấc lên, giũ nhẹ cho ráo nước, đưa ra trước ánh sáng chiều xem xét.
Lần nào cũng vậy, lần nào cũng xem rất kỹ trước khi đem phơi, như người thợ may ngắm lại đường kim cuối cùng. Có tấm xem xong thì nàng mang đến dây phơi, vắt lên cho thẳng thớm. Có tấm nàng ngồi đọc thêm một lúc, hai tay giữ hai góc lụa căng ra, mắt lướt theo từng dòng chữ hiện mờ trên nền trắng.
Lụa mệnh số không phải ai cũng đọc được. Tư Mệnh Tinh Quân đọc được, vì giữ gìn và ghi chép mệnh số là phần việc của ông. Mấy vị thần cấp cao đọc được, vì pháp lực đến một mức nào đó thì nhiều thứ tự khắc thông suốt. Còn Thanh Hoan là tiên nữ hạ cấp, không chức tước, không gia thế, pháp lực thuộc hạng bình thường nhất trong những hạng bình thường, vậy mà nàng đọc được lụa mệnh số, và chưa ai từng giải thích được lý do vì sao.
Nàng cũng không tự giải thích nổi. Chỉ biết rằng từ ngày đầu tiên được phân đến Dao Trì giặt lụa, đặt tay lên tấm lụa đầu tiên, những con chữ mờ kia liền hiện rõ trong mắt nàng như thể vẫn luôn ở đó chờ nàng đến đọc. Và nàng đã đọc từ ngày đó đến giờ dù không ai giao nàng nhiệm vụ phải đọc. Việc của nàng chỉ là giặt lụa cho sạch rồi phơi cho khô, đọc hay không đọc thì lụa vẫn trắng như nhau.
Nhưng nàng đọc, nhiều vạn tấm rồi. Nhiều vạn cuộc đời người đã sống, đã yêu, đã mất, đã đi qua nhân gian một lượt rồi cuộn lại nằm gọn trong tay nàng dưới dạng một dải lụa dài hơn gang tay.
Có người sẽ thấy công việc này buồn tẻ. Ngày nào cũng ngồi một mình bên suối, giặt thứ lụa giặt mãi không hết, không ai trò chuyện, không ai ghé qua. Nhưng Thanh Hoan không thấy buồn tẻ. Mỗi tấm lụa là một người, mỗi người là một câu chuyện chưa ai kể cho nàng nghe, và nàng có cả ngày dài để nghe hết. Như vậy thì làm sao mà tẻ được.
Trên dây phơi bên cạnh nàng có một tấm lụa đã khô từ hôm trước, chưa kịp cuộn cất. Nó không thuộc loại ngắn mà dài và có nhiều lớp, chữ hiện đặc hơn loại thường, nghĩa là người này sống lâu và sống đầy đủ. Nàng vốn định gỡ xuống xếp lại cho gọn, nhưng khi đưa ra ánh sáng chiều thì mắt vô tình bắt vào mấy dòng đầu. Nàng dừng tay, rồi ngồi xuống tảng đá, và mở lụa ra.
Nàng bắt đầu đọc chậm.
Một người đàn ông và một người đàn bà.
Họ gặp nhau lúc còn trẻ, ở một thị trấn nhỏ phía nam, nơi có một con sông cạn mùa khô và đầy mùa mưa. Ông bán gốm, gánh hàng đi khắp các phiên chợ trong vùng. Bà bán canh, dựng một cái quán nhỏ ngay đầu chợ, chỉ có bốn cái bàn gỗ và một nồi canh to lúc nào cũng nghi ngút khói. Lần đầu ông ghé quán bà là vì gánh gốm nặng quá, đi mỏi chân, thấy có chỗ ngồi thì ngồi. Ông ăn một bát canh, khen ngon, rồi hôm sau quay lại, rồi hôm sau nữa.
Lụa ghi lại ba mươi năm họ chung sống, ghi cả những thứ nhỏ đến mức không ai nghĩ là đáng ghi vào mệnh số một con người. Ghi cái cách ông hay dậy sớm hơn bà, nhóm bếp, đun một ấm nước nóng để sẵn, vì tay bà yếu, mùa đông hay buốt, rửa mặt bằng nước lạnh thì cả buổi sáng không ấm lại được. Ghi cái cách bà luôn múc phần cơm đầu tiên trong nồi ra bát của ông, bởi bà tin phần đầu tiên bao giờ cũng dẻo hơn, thơm hơn phần sau. Ba mươi năm, sáng nào ông cũng đun nước, bữa nào bà cũng nhường phần cơm đầu, không ai trong hai người nói ra thành lời, cũng chẳng coi đó là chuyện gì to tát. Chỉ là họ cứ làm vậy ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác.
Họ không có con. Lụa không ghi vì sao, chỉ ghi rằng hai người sống với nhau trong căn nhà nhỏ phía sau quán, và họ không buồn vì điều đó, hoặc nếu có buồn thì cũng đã buồn xong từ lâu rồi.
Rồi lụa ghi ông chết trước.
Một mùa đông, năm ông bảy mươi mốt tuổi. Ông ra đi trong giấc ngủ, không bệnh tật dày vò, không đau đớn, buổi tối còn ngồi ăn canh với bà, sáng ra thì không dậy nữa. Người trong thị trấn nói ông có phúc, đi nhẹ nhàng như vậy là phúc phần tu mấy kiếp mới được. Bà không nói gì. Bà lo ma chay cho ông chu toàn, tự tay khâm liệm rồi đắp mộ, xong thì về nhà.
Và lụa ghi tiếp.
Bà không đóng cửa quán.
Sáng hôm sau ngày chôn ông, bà dậy sớm như mọi khi, nhóm bếp, bắc nồi canh to lên. Lượng nước đong y như cũ, rau thịt mua đủ cho hai phần ăn, không bớt đi một chút nào. Canh chín, bà múc ra hai bát. Một bát đặt trước chỗ bà ngồi. Một bát đặt sang ghế đối diện, cái ghế ông vẫn ngồi suốt ba mươi năm, kèm theo một đôi đũa gác ngay ngắn lên trên miệng bát. Rồi bà ngồi xuống, ăn phần của mình.
Bát canh đặt trên ghế trống đối diện, bao giờ cũng nguội trước khi bà ăn xong. Ăn xong, bà bưng bát canh nguội đó đi đổ. Hôm sau, lại nấu, lại múc ra hai bát, lại đặt một bát lên ghế trống.
Mười năm.
Lụa ghi từng năm một, tỉ mỉ như đếm từng con số. Năm thứ nhất, quán vẫn đông khách như xưa, người ta thương bà nên ghé ăn ủng hộ. Năm thứ ba, khách thưa dần, vì bà già rồi, tay run, canh nấu không còn được như trước, nhưng bà vẫn mở cửa, vẫn nấu, vẫn đặt bát lên ghế trống. Năm thứ bảy, có người tử tế khuyên bà nghỉ ngơi, tuổi này rồi đóng quán đi cho khỏe, con cháu họ hàng đâu mà phải cố gắng, nhưng bà chỉ lắc đầu, sáng nào cũng vẫn mở cửa, bắc nồi canh, đặt bát lên ghế trống. Năm thứ chín, có đứa trẻ con hàng xóm tò mò hỏi bà cái bát trên ghế trống để cho ai ăn, sao ngày nào cũng đổ đi phí của. Bà nhìn nó một lúc lâu, rồi không trả lời, chỉ xoa đầu nó rồi quay vào bếp.
Năm thứ mười, bà mất. Cũng vào mùa đông, cũng trong giấc ngủ, cũng nhẹ nhàng như cách ông đã đi mười năm trước.
Dòng cuối cùng trên tấm lụa, chữ hiện rất mờ, mờ như sắp tan, ghi:
"Bát canh hôm đó trên ghế trống chưa kịp nguội."
Thanh Hoan không nhớ rõ mình bắt đầu khóc từ lúc nào.
Nước mắt không hề báo trước. Nàng đang đọc, mắt cay lên một chút, đọc thêm vài dòng thì giọt đầu tiên đã rơi xuống tấm lụa, loang thành một vệt ẩm nhỏ trên nền trắng, làm nhòe đi một con chữ. Nàng không lau. Một phần vì một tay đang giữ lụa, tay kia giữ mép dưới cho lụa khỏi cuộn lại, không tiện buông ra. Một phần vì nàng cũng không muốn lau. Lau đi thì cảm giác này trôi mất, mà nàng chưa muốn để nó trôi đi.
Nàng cứ ngồi như vậy. Nước mắt rơi xuống lụa, xuống mu bàn tay, lăn qua kẽ ngón rồi nhỏ xuống mặt suối phía dưới, tan vào dòng nước trong vắt không để lại một dấu vết nào. Nước suối vẫn chảy, vẫn lăn tăn, vẫn lấp lánh như chẳng có gì xảy ra. Nó đã nhận nước mắt của nàng nhiều lần đến mức không buồn gợn sóng nữa.
Đây không phải lần đầu tiên và cũng chắc chắn sẽ không phải lần cuối. Nàng biết rõ điều đó, và nàng không thấy xấu hổ vì nó. Chỉ là cứ đọc xong một tấm lụa nào đó thì nàng lại không kìm được, và nàng đã thôi cố kìm bản thân từ rất lâu rồi. Có những lần nàng tự nhủ lần này sẽ không khóc, đọc xong rồi đứng dậy đi làm việc khác cho xong, nhưng rồi đến đoạn cuối thì tay vẫn run, mắt vẫn cay, và nàng lại ngồi đó như bây giờ.
Cái đau của người đàn bà bán canh đó không phải loại đau lớn lao. Không có biến cố kinh thiên động địa, không có ân oán tình thù, không có gì đặc biệt để người đời sau truyền tụng. Chỉ là một người yêu một người, rồi người đó đi trước, và người ở lại tiếp tục đặt một bát canh lên một cái ghế trống suốt mười năm trời, cho đến ngày chính mình cũng đi.
Nàng đưa mắt nhìn xuống mặt suối, thấy bóng mình lờ mờ trong làn nước, mắt đỏ hoe, vài sợi tóc xổ ra khỏi cây trâm gỗ vì ngồi đã lâu. Nàng nhìn bóng mình một lúc, không lau mặt, không sửa tóc, đến khi một cánh hoa đào từ trên cây rơi xuống chạm mặt nước, gợn lên mấy vòng tròn nhỏ xô cho bóng nàng vỡ ra lệch lạc, nàng mới khẽ thở hắt một hơi dài.
Nàng cuộn tấm lụa lại, từ từ, cẩn thận lựa cho vết ẩm nước mắt nằm vào phía trong để khỏi làm hỏng những dòng chữ khác. Rồi đặt nó sang một bên, riêng ra, không lẫn với mấy tấm còn lại.
Bên cạnh còn bốn tấm lụa nữa nàng chưa giặt, nàng nhìn chúng một lúc rồi không với tay lấy. Buổi chiều hãy còn dài, giặt lúc nào cũng kịp, nhưng vừa đọc xong tấm vừa rồi thì nàng cần ngồi yên thêm một chút đã.
Nàng nhúng cả hai tay vào suối, để nước lạnh chảy qua kẽ ngón. Cái lạnh vừa đủ để đầu óc tỉnh táo trở lại, không lạnh đến mức phải rụt tay ra. Nàng vẫn hay làm thế mỗi lần đọc phải một tấm lụa nặng, cứ ngồi nhúng tay vào nước cho đến khi cái cảm giác đầy ứ trong lồng ngực vơi bớt đi. Không phải phương pháp gì cao siêu, chỉ là một thói quen nhỏ nàng tự tìm ra qua bao nhiêu năm ngồi một mình bên suối này.
Cánh hoa đào lúc nãy rơi trên mặt nước đã trôi đi. Một cánh khác lại rụng, lần này đậu lên vai nàng.
Nàng không phủi. Cứ để nó nằm đó.
Lụa mệnh số của thần tiên thì trắng tinh, không một con chữ.
Thanh Hoan biết điều này đã lâu, nhưng chiều nay, khi mắt còn cay và đưa nhìn xấp lụa chưa giặt bên cạnh, nàng lại bất chợt nghĩ đến nó. Lụa của phàm nhân ghi sẵn từ lúc lọt lòng, sinh ra đã có chữ, đã có một con đường vạch sẵn để mà đi. Còn lụa của thần tiên trắng trơn, vì thần tiên không nằm trong vòng luân hồi, không ai viết mệnh thay họ, họ tự đi con đường mình chọn, tự viết lấy đời mình.
Nghe thì hay. Tự do, không ràng buộc, không định sẵn.
Nhưng nàng lại nghĩ, nếu không ai viết thì ai giữ lại. Người đàn bà bán canh kia ít ra còn nằm trên một tấm lụa, còn có nàng đọc được, biết được. Còn thần tiên thì lụa trắng trơn, đi xong là đi, không ai đọc giùm.
Chỉ là một ý nghĩ thoáng qua, nàng không giữ lại, rồi nàng với tay lấy tấm lụa kế tiếp.
Nàng lau tay vào vạt áo, bắt đầu giặt.
Tay nàng quen việc đến mức có thể vừa giặt vừa nhìn đi nơi khác. Nàng đưa mắt sang bên kia suối, nơi mấy con chim nhỏ đang tranh nhau một chỗ đậu trên sợi dây phơi lụa. Chúng tranh chỗ theo kiểu rất quyết liệt mà không con nào chịu làm đau con nào, chỉ xòe cánh, kêu chí chóe, hích vai đẩy nhau, con này vừa đậu xuống thì con kia đã chen tới. Nàng nhìn chúng một lúc, đến khi một con cuối cùng giành được chỗ và những con còn lại miễn cưỡng vỗ cánh bay sang cành khác, nàng mới bật cười khẽ.
Tiếng cười của nàng không lớn, chỉ là một hơi thở ra có âm điệu, nhưng nó làm khóe mắt còn đỏ của nàng dịu lại đôi chút. Người ta nói tên nàng, Thanh Hoan, nghĩa là niềm vui trong trẻo. Nàng vẫn thấy cái tên đó hơi quá rộng so với một tiên nữ hạ cấp ngồi giặt lụa cả ngày, nhưng những lúc như thế này, nhìn mấy con chim giành nhau một chỗ đậu rồi tự thấy buồn cười, nàng nghĩ có lẽ cái tên cũng không đến nỗi đặt sai hoàn toàn.
Nhưng ngay khi tiếng cười còn chưa tắt hẳn, nàng nghe thấy tiếng bước chân.
Từ phía lối vào, xa xa, tiếng lá khô bị giẫm lên, lạo xạo. Nhịp chân không vội vàng nhưng cũng không thong thả, là nhịp của người đang đi thẳng đến đây và biết rõ mình muốn đến đây, chứ không phải kẻ tình cờ lạc bước. Không phải tiếng gió luồn qua cỏ, không phải tiếng mấy con chim, là tiếng bước chân của người.
Mà ở Dao Trì này, đã rất lâu rồi không có bước chân nào của người lạ tìm đến.
Thanh Hoan vội nhấc tay lên lau mắt. Một lần, hai lần, rồi nàng kéo vạt áo thấm thêm một lượt nữa cho thật chắc, đưa tay vuốt lại mấy sợi tóc xổ ra, giắt gọn vào sau tai.
Xong xuôi, nàng ngồi thẳng lưng lại, cúi đầu xuống, tiếp tục kỳ cọ tấm lụa đang cầm trên tay, chăm chú nhìn vào nó như thể nàng vẫn đang ngồi làm việc bình thản từ đầu chí cuối và chẳng có chuyện gì vừa xảy ra cả.
Tiếng bước chân mỗi lúc một gần.
Mắt nàng thì vẫn còn đỏ. Điều đó nàng không giấu được, cũng chẳng làm gì kịp nữa, chỉ đành thầm mong người đang đến là một ai đó vô tâm, không để ý đến những chuyện nhỏ nhặt như đôi mắt đỏ của một tiên nữ giặt lụa.
Nhưng người đang bước tới kia, lại là kẻ nhìn gì cũng thấy.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.