Chương 46: Dẫn Nước Tẩy Độc
Gió đêm tại hẻm núi Ma Hạc Nhai rít qua khe đá, mang theo cái lạnh thấu xương của sương muối và mùi hăng nồng của lưu huỳnh bốc lên từ lòng đất nứt nẻ.
Cố Trường Sinh không dừng tay. Lưỡi xẻng sắt cùn rỉ sét tiếp tục cắm phập xuống lớp đất cứng như đá ong, tạo nên những tiếng cọt kẹt trầm đục bị tiếng gió rít át đi. Hắn dùng mũi chân đạp mạnh lên sống xẻng, tận dụng triệt để sức nặng cơ thể và sự dẻo dai của gân cốt sau hai lần linh khí tẩy tủy. Từng tảng đất đóng váng kiềm trắng xám, dày chừng nửa tấc, bị hắn nạy tung lên, phơi bày tầng đất sét đen ngòm bên dưới đang bốc khói nhiệt mỏng manh méo mó.
Đó là đan hỏa độc tích tụ suốt ba năm từ Đan Dược Viện. Mùi khét lẹt của bã thuốc cháy quyện với vị chua chát xộc thẳng vào cánh mũi khiến họng hắn khô rát. Vết rách nơi sườn trái vừa mới khép vảy hồng nhạt khẽ nhói lên sau mỗi nhịp vận sức, nhưng nhịp thở của hắn vẫn duy trì đều đặn: ba nhịp hít ngắn, một nhịp thở dài.
Theo ghi chép trong Thổ Nhưỡng Thiên của Bách Thảo Kinh, đan hỏa độc thuộc loại hỏa độc ngưng tụ trong thổ trạch, tính chất ngoan cố, thiêu rụi sinh cơ. Muốn trồng được U Lan Thảo vốn mang âm tính, việc đầu tiên không phải là bón phân tưới nước, mà là xẻ rãnh thoát nhiệt. Nếu vội vàng gieo hạt, phôi mầm sẽ bị luộc chín ngay trong lòng đất chỉ sau nửa canh giờ.
Sau bốn canh giờ lao động cật lực trong bóng tối, đến khi phía chân trời đằng đông hắt lên một vệt sáng màu lòng đỏ trứng gà lờ mờ, năm đường rãnh chính theo trục dọc và mười lăm nhánh rãnh xương cá theo trục ngang đã hoàn thành trên phạm vi nửa mẫu đất đầu tiên. Mỗi rãnh sâu đúng một thước hai tấc, rộng tám tấc, đáy rãnh hơi dốc về phía góc trũng sát vách đá Ma Hạc Nhai.
Hắn cắm xẻng xuống đất, chống tay lên cán gỗ, khẽ lau mồ hôi đang chảy dài xuống cằm. Lòng bàn tay hắn rách toác vài chỗ do ma sát với cán xẻng thô ráp, rỉ ra những giọt máu tươi hòa lẫn bùn đất xám xịt. Trường Sinh không buồn băng bó, chỉ bốc một nắm đất khô cọ mạnh vào lòng bàn tay để máu đông lại, ánh mắt bình thản nhìn về phía chân vách đá sừng sững cách đó ba mươi trượng.
Nơi đó, từ một khe nứt tự nhiên trên vách đá granite đen ngòm, một dòng nước ngầm lạnh buốt chảy róc rách quanh năm. Dòng nước này bắt nguồn từ đỉnh núi cao quanh năm phủ tuyết, luồn lách qua các mạch đá khoáng trước khi rỉ ra ngoài, mang theo hàn khí tự nhiên thuần khiết nhưng không lẫn linh khí tạp nham. Đây chính là thứ dung môi giải nhiệt tốt nhất mà trời đất ban cho mảnh đất chết này.
Trường Sinh xách chiếc thùng gỗ mục nát, cầm xẻng bước về phía chân vách đá. Hắn không đi thẳng mà men theo gờ đất cao, mắt đảo quanh từng hốc đá để kiểm tra dấu vết. Khu vực này vắng lặng đến rợn người, ngoại trừ tiếng nước nhỏ giọt và vài cành cây khô kêu răng rắc dưới bước chân.
Đến gần khe đá, Trường Sinh dùng xẻng dọn sạch đống rác lá mục và rêu độc bám quanh miệng dòng chảy. Một luồng hơi lạnh phả thẳng vào mặt hắn, buốt buốt như băng tuyết đầu mùa. Hắn dùng xẻng vạt một rãnh dẫn nước sâu chừng nửa thước, nối thẳng từ miệng khe đá Ma Hạc Nhai chạy dài về phía hệ thống rãnh xương cá vừa đào trên linh điền số 13.
Xoàn xoạt.
Tảng đá chèn miệng rãnh bị bẩy bật ra. Dòng nước ngầm lạnh buốt lập tức ùa vào mương dẫn, cuồn cuộn chảy về phía mảnh ruộng nứt nẻ.
Xì xì...
Khoảnh khắc dòng nước băng giá chạm vào lớp đất sét đang âm ỉ nhiệt độc dưới đáy rãnh, một chuỗi âm thanh xèo xèo vang lên dữ dội. Khói trắng bốc lên cuồn cuộn kèm theo mùi hôi thối nồng nặc của lưu huỳnh và axit chua loét. Lớp váng muối kiềm trắng xám trên bề mặt mép rãnh nhanh chóng bị dòng nước xối tan rã, sủi bọt trắng xóa như vôi sống gặp nước.
Trường Sinh đứng đầu gió, mắt nheo lại quan sát phản ứng của đất. Dòng nước lạnh chảy đến đâu, màu đen bóng của đất sét nhiễm độc lập tức co rút lại, nhạt dần thành màu nâu sẫm. Nhiệt lượng bị giam hãm dưới lòng đất suốt ba năm theo hơi nước thoát mạnh ra không trung, làm méo mó cả cảnh vật xung quanh trong bán kính mười trượng.
"Nước lạnh xối rửa liên tục trong hai ngày hai đêm, đan hỏa độc sẽ tiêu tán bảy phần. Lớp kiềm mặt bị rửa trôi, đất sẽ tơi xốp trở lại." Hắn thầm tính toán trong đầu, ngón tay khẽ miết lên thẻ bài điền vụ bằng gỗ bên hông. Thời hạn ba mươi ngày giao nộp hai mươi cân U Lan Thảo không cho phép hắn lãng phí dù chỉ một khắc.
Để nước tự do chảy tràn ngập các rãnh xả độc, Trường Sinh quay người đi về phía nhánh rạch Dược Phế Khê cách đó năm mươi bước.
Dược Phế Khê là con suối xả thải phế liệu của Đan Dược Viện, nước suối có màu đen nhờ nhờ, bề mặt nổi váng dầu ngũ sắc lập lòe độc hại. Tuy nhiên, theo những gì Trường Sinh đã quan sát kỹ lưỡng trong những ngày còn làm tạp dịch, tầng đáy sâu nhất của dòng suối này lại lắng đọng một lượng lớn bùn hữu cơ cực kỳ màu mỡ. Đó là bã của hàng vạn gốc linh thảo thông thường bị thiêu đốt chưa hết trong quá trình luyện đan, tích tụ qua năm tháng mà thành. Dù lẫn tạp chất độc hại từ cặn đồng và tro lò, nhưng chất mùn thảo mộc trong đó lại dồi dào sinh khí hơn bất kỳ loại phân bón phàm trần nào.
Trường Sinh đứng bên bờ rạch, cẩn thận quấn hai lớp vải thô quanh cẳng chân và bắp tay để tránh nước độc bắn vào da thịt. Hắn cúi người, dùng xẻng sục sâu xuống đáy nước đen ngòm, xúc lên từng tảng bùn dẻo quánh màu đen mun.
Tảng bùn được hất lên bờ đất khô ráo. Mùi chua nồng của bã thuốc lên men bốc lên nồng nặc. Trường Sinh ngồi xổm xuống, lấy que xương thú mài mỏng giắt trong tay áo ra, tỉ mỉ gạt từng mẩu cặn đồng vụn sáng lấp lánh và những mảnh gốm vỡ sắc nhọn ra khỏi đống bùn. Những mảnh kim loại này nếu để lẫn trong đất sẽ làm xước rễ non của U Lan Thảo, khiến độc tố xâm nhập làm thối rễ cây con.
Sau khi lọc sạch tạp chất cơ học, hắn lấy từ trong chiếc túi vải thô để ở góc chòi lá ra hai bó Tuyết Gai Thảo khô – thứ thảo mộc giá rẻ mà hắn đã dùng một khối linh thạch mua từ lão tạp dịch già ở Tạp Dịch Phường.
Tuyết Gai Thảo vốn sinh trưởng ở vùng núi tuyết cực bắc, thân cây chứa đầy tính hàn, vị chát đắng. Tro của rễ cây này có tính kiềm nhẹ tự nhiên, đặc biệt có khả năng trung hòa axit và hút sạch mùi tử khí trong bùn thối.
Trường Sinh gom đống rễ Tuyết Gai Thảo khô vào một góc chòi lá khuất gió, đặt trên phiến đá phẳng. Hắn không dùng bùi nhùi đánh lửa phàm trần để tránh tạo ra khói đen gây chú ý. Đưa bàn tay phải áp sát vào đống rễ khô, Trường Sinh điều động một tia Hỏa linh khí tạp chất yếu ớt nơi Đan Điền, ma sát với Mộc linh khí ở huyệt Lao Cung trong lòng bàn tay.
Một đốm lửa màu đỏ sẫm âm ỉ bùng lên không khói. Rễ Tuyết Gai Thảo khô lập tức bén lửa, cháy rực một cách êm thấm rồi biến thành một lớp tro mịn màu trắng bạc lấp lánh.
Chờ tro nguội hẳn, Trường Sinh dùng xẻng xúc từng xẻng bùn đen từ Dược Phế Khê đổ vào tro Tuyết Gai Thảo, đồng thời rải thêm một lớp tro củi bếp đã sàng lọc kỹ. Tỷ lệ phối chế trong đầu hắn hiện lên vô cùng chuẩn xác: mười phần bùn đen Dược Phế Khê, ba phần tro Tuyết Gai Thảo, hai phần tro củi khử chua.
Hắn cầm xẻng trộn đều. Động tác đảo bùn nhịp nhàng, dứt khoát.
Bùn đen bốc mùi hôi thối ban đầu dần dần biến đổi. Dưới tác dụng trung hòa của tro rễ cây hàn tính, lớp váng dầu ngũ sắc biến mất hoàn toàn, mùi chua nồng chuyển thành mùi đất ẩm mát lạnh ngai ngái. Đây chính là Hàn Âm Linh Nê – loại đất bùn nhân tạo tốt nhất để ươm trồng các loại linh thảo thuộc tính hàn mọc trong bóng râm.
Trường Sinh dùng ngón tay chấm một ít bùn đưa lên đầu lưỡi khẽ nếm. Vị chua đã biến mất, chỉ còn lại vị chát nhẹ và cảm giác tê lạnh lan tỏa ở đầu lưỡi. Hắn khẽ gật đầu, nhổ bọt nước miếng ra ngoài.
"Đất đã thuần. Chỉ cần đợi nước rửa sạch rãnh ruộng là có thể lót bùn xuống đáy."
Bỗng nhiên, từ phía không trung xa xa, một tiếng xé gió rất khẽ vang lên.
Đồng tử Trường Sinh co rút lại. Phản xạ sinh tồn trui rèn qua vô số lần cận kề cái chết khiến hắn lập tức buông xẻng, thụp người xuống dưới bóng râm của vách đá Ma Hạc Nhai, lưng áp chặt vào rãnh đá chứa quặng sắt oxy hóa.
Hoang Thảo Quyết lập tức nghịch chuyển.
Mộc linh khí âm hàn trong Đan Điền rút cạn khỏi kinh mạch chính, chui rúc vào các Lạc mạch nhỏ hẹp ven sườn. Nhịp tim của hắn chậm dần, từ sáu mươi nhịp mỗi khắc tụt xuống chỉ còn một nhịp sau mỗi mười hơi thở. Thân nhiệt hạ xuống ngang bằng với tảng đá lạnh ngắt sau lưng. Toàn bộ dao động linh lực của Luyện Khí tầng hai sơ kỳ bị bóp nghẹt hoàn toàn, biến hắn thành một bụi cỏ khô vô tri vô giác trong mắt các công cụ dò tìm.
Vút.
Một vệt sáng màu xám tro lướt qua bầu trời phía trên hẻm núi Ma Hạc Nhai. Đó là hai đệ tử Chấp Pháp Đường mặc đạo bào viền đen, đứng trên một tấm Phi Hành Phù hình chiếc lá liễu. Kẻ đứng đầu tay cầm chiếc la bàn đồng bát quái, mặt la bàn phát ra những tia sáng vàng nhạt quét hình nan quạt xuống mặt đất bên dưới.
"Lý sư huynh, linh điền số 13 này năm nào cũng bỏ hoang, đan hỏa độc ngút trời, quét làm gì cho tốn linh thạch của la bàn?" Đệ tử đứng sau càu nhàu, giọng nói lọt xuống khe đá theo chiều gió.
Gã cầm la bàn họ Lý hừ lạnh một tiếng: "Ngươi thì biết cái gì? Triệu chấp sự bên Chấp Sự Đường vừa phân bổ tên tiểu tử mới tấn thăng ngoại môn đến đây nhận vụ môn. Hắn dặn ta để mắt tới một chút. Xem chừng tên ranh con này không hiểu chuyện, đắc tội với Triệu sư huynh rồi."
"Ồ? Có kẻ dám nhận mảnh tử địa này sao? Đúng là tự tìm đường chết. Một tháng sau không giao đủ hai mươi cân U Lan Thảo, tiền phạt nợ môn vụ đủ để tống hắn xuống tầng ba Hắc Ngục khoáng mạch đào đá cả đời."
"Hừ, la bàn không có dao động linh áp Luyện Khí tầng hai trở lên. Phía dưới chỉ có một tên phế vật Luyện Khí tầng một đang đào mương dẫn nước. Nhìn bộ dạng lấm lem bùn đất chẳng khác nào con chó đói. Đi thôi, đến khu rừng gai Thấp Âm kiểm tra Lưu sư huynh, gã đó biết điều hơn, tháng nào cũng có vài đồng phế liệu lót tay."
Chiếc Phi Hành Phù lướt đi, vệt sáng vàng của la bàn quét qua đỉnh đầu Trường Sinh rồi biến mất sau rặng núi phía tây.
Dưới rãnh đá, Cố Trường Sinh vẫn giữ nguyên tư thế bất động suốt năm mươi nhịp thở. Hắn không vội vàng thở ra, mắt lạnh lùng nhìn theo hướng hai tên đệ tử Chấp Pháp Đường vừa bay khuất.
Lời bàn tán của chúng không làm tâm hắn gợn sóng dù chỉ một chút. Sự khinh miệt của kẻ khác đối với hắn không phải là sỉ nhục, mà là lớp ngụy trang hoàn hảo nhất. Càng bị xem là phế vật, hắn càng an toàn trong bóng tối.
Trường Sinh chậm rãi đứng dậy, vận hành lại Dẫn Khí Quyết để dòng máu ấm chảy đều khắp cơ thể. Hắn quay trở lại chòi lá, lấy chiếc niêu đất sứt quai ra, đổ nước ngầm từ khe đá vào, rồi thả vào đó vài mẩu rễ Khổ Đằng mười năm tuổi.
Đặt niêu đất lên phiến đá, hắn lại dùng kỹ thuật ma sát linh khí ở lòng bàn tay để đun nóng đáy niêu. Không một sợi khói nào bốc lên. Nước trong niêu dần sôi sục, rễ Khổ Đằng tiết ra một chất dịch màu nâu đen sánh đặc, bốc lên mùi đắng ngắt đến tận óc.
Nước thuốc Khổ Đằng này có độc tính nhẹ, nhưng lại chứa dược lực kích thích mạnh mẽ đối với các loại hạt giống họ Lan.
Trường Sinh thò tay vào ngực áo, cẩn thận lấy ra gói vải nhỏ chứa ba mươi lăm hạt giống U Lan Thảo tốt nhất mà hắn đã dùng linh khí tơ nhện sàng lọc đêm qua. Từng hạt giống căng tròn, vỏ ngoài có vân tím mờ mờ.
Hắn đợi nước thuốc nguội bớt, chỉ còn âm ấm bằng nhiệt độ cơ thể, rồi thả nhẹ nhàng ba mươi lăm hạt giống vào trong niêu.
Dưới đáy niêu, những hạt giống U Lan Thảo khô khốc sau nhiều tháng cất giữ bắt đầu háo hức hút lấy dưỡng chất đắng chát. Vỏ ngoài của chúng dần mềm ra, lớp vân tím ánh lên một tia sinh cơ yếu ớt nhưng vững chắc.
"Ngâm trong nước Khổ Đằng sáu canh giờ, phôi mầm sẽ phá vỡ lớp vỏ cứng. Lúc đó rãnh đất cũng vừa nguội hẳn."
Trường Sinh cất niêu thuốc vào một hốc khuất dưới gầm phản gỗ trong chòi lá, bên trên phủ một lớp rơm khô để che mắt. Sau đó, hắn lấy từ trong túi vải ra một nắm Linh Mễ thô còn lẫn vỏ trấu.
Hắn không nấu cơm. Ở nơi trống trải này, việc nhóm lửa nấu nướng ban ngày là hành động ngu xuẩn nhất. Trường Sinh bốc từng hạt Linh Mễ sống bỏ vào miệng, dùng hàm răng nghiền nát lớp vỏ cứng ráp, nuốt từng ngụm bột gạo khô khan cùng với nước lạnh từ khe đá. Vị chát ngắt và khô khốc cọ rách cả niêm mạc họng, nhưng từng tia linh khí vi lượng từ hạt Linh Mễ lập tức lan tỏa vào dạ dày, xoa dịu cơn cồn cào đang thiêu đốt ruột gan hắn.
Ăn xong nửa vốc gạo, Trường Sinh cầm lấy xẻng sắt, bước ra ngoài trời nắng gắt.
Hắn lại tiếp tục cúi đầu xới đất. Nửa mẫu ruộng thứ hai vẫn đang chờ được xẻ rãnh, và trước khi mặt trời lặn hôm nay, hắn phải hoàn thành toàn bộ hệ thống mương xả độc cho trọn vẹn năm mẫu đất chết.
Tiếng xẻng sắt cắm vào đất đá lại đều đặn vang lên giữa khe núi vắng lặng, trầm ổn, kiên nhẫn, như chính con đường mà hắn đang bước đi.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.