Chương 11: Đêm Rằm Xuất Sơn
Ngày thứ ba sau khi hái được Hàn Âm Đài, màn sương độc bao phủ khắp triền núi Bách Thảo Phong dường như càng thêm đặc quánh.
Trời vừa tờ mờ sáng, Cố Trường Sinh đã thức giấc. Toàn thân hắn đau nhức như bị nghiền nát, từng thớ thịt căng cứng sau những ngày lao dịch liên miên. Bả vai trái bị lửa độc thiêu rụi nay đã đóng một lớp vảy đen kịt, cứng quắc như vỏ cây khô. Mỗi lần hắn vung tay hay gập người, lớp vảy ấy lại nứt toác ra từng đường rãnh nhỏ li ti, rỉ ra thứ huyết thanh nhờn nhợt lẫn máu tươi, mang theo cảm giác ngứa ngáy và đau rát đến tận óc.
Hắn ngồi trên tấm ván sàn mục nát, cắn chặt một mẩu củi khô trong miệng, đưa tay bóp nhẹ xung quanh vết thương để đẩy hết mủ đọng ra ngoài. Cơn đau co rút khiến sống lưng hắn run rẩy, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm manh áo gai rách rưới. Hắn không kêu rên lấy một tiếng. Nhổ mẩu củi ra, Trường Sinh lấy chút bột lá Bách Túc Thảo đã phơi khô rắc đều lên miệng vết thương, sau đó siết chặt lại lớp vải băng bẩn thỉu.
Sinh tồn ở nơi này không có chỗ cho sự yếu mềm. Một tên tạp dịch tàn phế không thể cuốc đất đồng nghĩa với cái chết.
Hắn quỳ sụp xuống, cẩn thận gạt lớp đất ngụy trang ở góc lều, mở nắp hầm đất nhỏ. Hơi nóng âm ỉ từ đống tro mùn cưa và mảnh ngói gốm lập tức phả lên mặt hắn. Phương pháp Âm Hỏa Ôn Bồi quả thực huyền diệu như những gì Bách Thảo Kinh Sơ Lược miêu tả. Trải qua ba ngày ba đêm sấy chậm bằng thứ hỏa khí tiềm tàng không khói, năm lạng rêu tươi mọng nước đã hoàn toàn ngưng tụ.
Trường Sinh dùng đôi đũa tre gắp từng cụm rêu ra ngoài. Chúng đã teo tóp lại, biến thành những sợi mỏng manh như tơ tằm, màu lam sẫm ngả đen, bề mặt phủ một tầng phấn trắng li ti như sương muối mùa đông. Mùi tanh nồng nguyên bản của rêu ẩm đã biến mất, thay vào đó là một luồng hàn khí thuần khiết, the mát xộc thẳng vào xoang mũi.
Cân thử trên chiếc cân con bằng gỗ tự chế, đúng hai lạng sáu tiền.
"Hai lạng sáu tiền Hàn Âm Đài khô thượng phẩm..."
Đôi mắt thâm quầng của Cố Trường Sinh lóe lên một tia sáng lạnh lẽo. Dược tính ngưng tụ đến mức này, dù ở bất kỳ phường thị nào cũng là nguyên liệu luyện chế Băng Tâm Đan hoặc Thanh Hỏa Đan cực kỳ được săn đón. Hắn cẩn thận bọc số rêu khô vào ba lớp giấy dầu chống ẩm, sau đó nhét kín vào một ống tre khô đã trát sáp ong kín miệng, giấu sâu vào đáy tay nải.
Việc đầu tiên đã xong. Việc thứ hai là số linh điền trước cửa.
Trường Sinh bước ra khỏi túp lều, vác cuốc bắt đầu công việc của ngày mới. Khí lạnh buổi sớm đâm buốt vào da thịt, nhưng dưới lớp đất bùn ẩm ướt của khoảnh ruộng số mười bảy, hỗn hợp Huyết Cốt Dưỡng Căn Bùn ủ suốt mấy ngày qua đã bắt đầu phát huy tác dụng. Mùi tanh tưởi của xác chuột và rễ cây mục rữa nay đã biến chuyển thành một mùi ngai ngái nồng đậm của đất màu mỡ. Đất phèn xám xịt ban đầu đã chuyển sang màu nâu đen xốp mịn.
Hắn tỉ mỉ dùng ngón tay ấn từng lỗ sâu chừng hai đốt lóng tay, thả vào đó một hạt mầm Huyết Ngưng Thảo, rồi cẩn thận lấp đất bùn lại. Sáu mươi hạt giống được gieo đều đặn, thẳng tắp như kẻ chỉ. Với lượng dưỡng chất từ bùn máu thịt này, trong vòng mười ngày tới, hạt giống sẽ nảy mầm vượt trội so với các thửa ruộng khác mà không cần hắn phải ngày đêm tưới tắm linh tuyền.
Mã quản sự cùng hai tên tạp dịch chấp pháp lững thững đi ngang qua bờ ruộng vào buổi trưa. Thấy Trường Sinh vẫn lầm lũi cắm cúi cuốc đất, trên lưng áo loang lổ vết máu khô, gã điền đầu chỉ liếc mắt khinh khỉnh rồi nhổ một bãi nước bọt xuống rãnh nước:
"Số chín trăm mười bảy, liệu hồn mà chăm sóc đám mầm non cho cẩn thận. Tháng sau Chấp Sự Đường nâng mức nộp lên bảy mươi gốc, thiếu một cây là lấy mạng chó của ngươi đền vào đấy."
Trường Sinh lập tức dừng cuốc, cúi rạp người xuống, giọng run rẩy vẻ sợ sệt:
"Dạ, bẩm quản sự đại nhân, tiểu nhân nhất định dốc hết tàn lực, không dám lười biếng nửa khắc."
Chờ cho tiếng bước chân của đám người Mã quản sự đi xa hẳn, Cố Trường Sinh mới từ từ ngẩng đầu lên. Ánh mắt hắn không còn vẻ sợ hãi hèn mọn, chỉ còn lại sự thâm trầm như nước giếng cổ. Hắn biết rõ quy tắc của nơi này: kẻ yếu muốn sống sót thì trước tiên phải học cách làm một con giun con dế biết điều.
Trời ngả về chiều. Chướng khí từ các khe núi bắt đầu cuồn cuộn dâng lên, nhuộm đỏ cả vòm trời phía tây bằng một màu ráng chiều ma quái.
Trường Sinh xách một xô nước phân bón đi về phía ranh giới khu số mười. Dưới gốc liễu gai khô héo, hố đất ẩm ướt vẫn bốc lên mùi hôi thối đặc trưng của xác thịt hoại tử. Gã tạp dịch số Cửu Trăm Lẻ Sáu vẫn nằm co quắp ở đó, hơi thở thều thào như đứt quãng.
Trường Sinh thả xuống nửa củ khoái sọ luộc và một nắm lá Bách Túc Thảo tươi.
"Áo choàng giấu ở đâu?" Trường Sinh ngồi xổm xuống, giọng nói trầm thấp bị tiếng gió rít qua cành liễu át đi.
Gã số Cửu Trăm Lẻ Sáu run rẩy mở mắt, nhìn thấy nắm lá thuốc thì trong mắt lóe lên sự thèm khát điên cuồng. Gã cắn răng, lắp bắp qua kẽ răng đen sì:
"Dưới... dưới sàn túp lều cũ của ta... góc hướng bắc... đào sâu một thước... có một hòm gỗ bọc da trăn... Ngươi... ngươi nhớ lời hứa... đêm nay nếu sống sót trở về... phải mang cho ta một nắm gạo linh mễ..."
"Nếu ta về được, ngươi sẽ có gạo."
Trường Sinh buông một câu lạnh nhạt, quay người rời đi. Hắn không vội vàng đến túp lều khu số mười ngay mà đợi đến khi trời tối hẳn, khi màn đêm hoàn toàn nuốt chửng Bách Thảo Phong và tiếng gõ mõ canh hai của đệ tử tuần tra vừa dứt.
Lợi dụng bóng tối và sự che phủ của chướng khí, Trường Sinh như một bóng ma luồn lách qua các bụi gai góc ranh giới, tiến vào túp lều hoang tàn của khu số mười. Nơi này nồng nặc mùi ẩm mốc và phân chuột. Hắn dùng con dao găm nhỏ cẩn thận nạy tấm ván mục ở góc bắc, đào sâu xuống lớp đất sét nén chặt.
Mũi dao chạm vào một vật cứng. Hắn lôi lên một chiếc hòm gỗ nhỏ bọc da trăn đã mốc meo. Cạy nắp hòm, bên trong là một tấm áo choàng màu đen làm từ da hoẵng rừng.
Tấm áo choàng rất nhẹ nhưng cực kỳ dai chắc. Vừa mở ra, một mùi hăng nồng xộc thẳng vào mũi. Đó là mùi của dạ tiêu phối hợp với bột khoáng thạch ngầm. Loại hợp chất này có khả năng che giấu thân nhiệt, hấp thụ mùi máu tanh và làm nhiễu loạn những luồng linh thức dò xét yếu ớt của tu sĩ Luyện Khí sơ kỳ.
Trường Sinh vuốt ve bề mặt da hoẵng ráp mịn, khẽ gật đầu. Tên tàn phế kia không nói dối. Chiếc áo này đủ để che giấu một phàm nhân như hắn lẩn khuất trong bóng đêm.
Hắn mang chiếc áo về lại lều số mười bảy, bắt đầu chuẩn bị hành trang cho chuyến đi sinh tử.
Thanh thiết kiếm rỉ sét được hắn mài lại thật sắc bén dọc theo mép đá mài, sau đó quấn chặt chuôi kiếm bằng dải vải gai để chống trơn trượt do mồ hôi tay. Con dao găm nhỏ được giắt ngang hông, nơi thuận tay rút ra nhất. Hai gói bột ớt khô trộn lưu huỳnh và vôi sống nhét ở hai bên túi áo trong. Cuối cùng, hắn đếm đúng mười hạt Linh Mễ thô gói vào một góc vải nhỏ, để riêng làm phí vào cửa phường thị.
Trên chiếc bàn gỗ mục, ngọn đèn dầu hạt cải leo lét hắt bóng Cố Trường Sinh lên vách đất. Thiếu niên mười bốn tuổi đứng đó, thân hình gầy guộc nhưng ánh mắt sắc bén như chim ưng đêm. Hắn khoác tấm áo choàng da hoẵng lên người, kéo chiếc mũ trùm đầu sâu xuống, che khuất toàn bộ gương mặt, chỉ để lộ ra đôi mắt lạnh lẽo sau lớp khăn đen bịt mặt.
Canh ba.
Đêm nay là đêm rằm. Vầng trăng tròn vành vạnh treo lơ lửng trên đỉnh trời, nhưng ánh trăng bạc khi rọi qua tầng chướng khí dày đặc của núi Thanh Vân chỉ biến thành một thứ ánh sáng lờ nhờ, ma quái như mắt quỷ.
Tiếng chuông đồng báo canh từ Chấp Sự Đường xa xa vọng lại, trầm đục và thưa thớt. Đệ tử tuần tra vòng ngoài đã đổi ca, đây là khoảng trống thời gian duy nhất trong đêm.
Cố Trường Sinh khẽ đẩy cánh cửa liếp, bóng dáng hắn lập tức hòa tan vào màn sương mù mịt.
Hắn không đi theo con đường mòn dẫn xuống chân núi, nơi có trạm gác của ngoại môn đệ tử. Con đường hắn chọn là một khe nứt hiểm trở chạy dọc theo vách đá phía tây nam Bách Thảo Phong. Nơi này dốc đứng gần như dựng đứng chín mươi độ, đầy rẫy đá tai mèo lởm chởm và rễ cây độc, nhưng bù lại, chướng khí ở đây đậm đặc nhất, chim muông không dám làm tổ, càng không có bóng dáng tuần tra của người Thanh Vân Tông.
Trường Sinh bám chặt các mấu đá, từng bước trườn xuống. Lớp vảy trên bả vai trái lại nứt ra, đau buốt thấu xương, nhưng hơi thở của hắn vẫn giữ ở mức cực kỳ ổn định. Hắn vận dụng toàn bộ sự dẻo dai của cơ thể một đứa con dược nông từng leo trèo hái thuốc từ thuở nhỏ, dẫm lên từng điểm tựa mà trí nhớ siêu phàm của hắn đã ghi tạc từ trước.
Gió đêm rít gào bên tai, mang theo cái lạnh thấu xương của núi cao. Dưới chân hắn là vực sâu thăm thẳm ngập tràn sương độc xám xịt. Chỉ cần trượt chân một tấc, thân xác phàm nhân này sẽ tan xương nát thịt dưới đáy vực.
Một khắc. Hai khắc.
Cuối cùng, mũi giày cỏ của Trường Sinh cũng chạm vào nền đất ẩm ướt dưới chân thung lũng sườn tây. Hắn không dừng lại thở dốc mà lập tức cúi thấp người, luồn qua những bụi cây gai rậm rạp, tiến về hướng tây nam.
Mười lăm dặm đường rừng trong đêm tối là một thử thách khủng khiếp đối với phàm nhân. Rừng rậm chân núi Thanh Vân không hề yên bình. Tiếng gầm gừ trầm thấp của dã thú, tiếng vỗ cánh phần phật của loài dơi ăn đêm và mùi tanh nồng của rắn độc lẩn khuất khắp nơi. Nhưng nhờ có lớp dạ tiêu trên áo choàng da hoẵng cùng sự cảnh giác cao độ, Trường Sinh khéo léo tránh né mọi vùng lãnh thổ của hung thú.
Hắn đi như một cái bóng không phát ra tiếng động, mắt nhìn bốn phương, tai nghe tám hướng. Mỗi gốc cây dị dạng, mỗi vũng nước đọng đều trở thành mốc định vị trong đầu hắn.
Sau hơn một canh giờ di chuyển liên tục, không khí xung quanh đột nhiên trở nên ẩm ướt và lạnh lẽo lạ thường. Mùi bùn sình thối rữa nồng nặc bốc lên, át cả mùi chướng khí của rừng già.
Đầm Hắc Thủy đã ở ngay trước mắt.
Đó là một vùng đầm lầy rộng lớn, nước đen ngòm như mực tàu, phẳng lặng không một gợn sóng. Xung quanh đầm là những thân cây cổ thụ chết khô, cành lá trơ trụi giương lên nền trời đêm như những bộ xương khô khổng lồ. Ánh trăng rằm rọi xuống mặt nước đen đặc, tạo nên những vệt sáng lấp lánh lạnh lẽo.
Trường Sinh dừng lại sau một gốc cây khô lớn, điều chỉnh lại nhịp thở đang dồn dập. Hắn nheo mắt quan sát vách núi đá vôi dựng đứng ở phía bên kia đầm lầy.
Theo lời tên số Cửu Trăm Lẻ Sáu, lối vào phường thị ngầm nằm ở một hốc đá nứt tự nhiên phía sau thác nước cạn.
Đúng lúc này, từ trong bụi rậm cách hắn khoảng ba mươi trượng, một bóng đen cao gầy cũng trùm áo choàng kín mít lướt nhanh qua bãi sình lầy, hướng thẳng về phía vách đá. Tốc độ của kẻ đó cực nhanh, bước chân đạp lên lau sậy mà không hề phát ra tiếng động lớn, rõ ràng là một tu sĩ đã có tu vi Luyện Khí sơ kỳ.
Trường Sinh nín thở, ép chặt lưng vào thân cây mục, bất động như một tảng đá. Hắn chờ cho kẻ kia đi khuất vào bóng tối của vách đá chừng nửa tuần hương, sau đó mới cẩn thận bước ra khỏi chỗ ẩn nấp.
Hắn men theo bờ đá gồ ghề ven đầm, tránh xa những vũng nước đen sâu không đáy. Khi đến gần vách đá, một mùi lưu huỳnh và khói đuốc mờ nhạt thoảng qua mũi. Trước mặt hắn là một khe nứt hẹp chỉ vừa một người lách qua, bên ngoài có rèm dây leo gai rủ xuống che chắn.
Hai bóng người lực lưỡng đứng sừng sững trong bóng tối của khe nứt. Cả hai đều mặc áo giáp da thú thô sơ, tay cầm trường đao sáng loáng, trên thân thể mơ hồ tỏa ra một tầng linh áp nhàn nhạt. Đó là tu sĩ Luyện Khí tầng hai hoặc tầng ba, những kẻ làm nhiệm vụ gác cổng cho chợ đen.
Thấy Cố Trường Sinh tiến lại gần, một tên gác cổng giơ ngang thanh đao, giọng nói khàn đặc đầy sát khí vang lên:
"Đứng lại. Quy củ cũ."
Trường Sinh không nói một lời, hơi cúi đầu để chiếc mũ trùm che kín mặt, tay thò vào trong áo lấy ra bọc vải nhỏ chứa mười hạt Linh Mễ thô, đặt lên chiếc đĩa đồng gắn trên vách đá.
Tên gác cổng liếc mắt nhìn đĩa đồng, dùng đầu ngón tay gạt nhẹ đám hạt linh mễ, cảm nhận tia linh khí yếu ớt bên trong, sau đó hừ lạnh một tiếng:
"Linh mễ phẩm chất hạ đẳng... Vào đi. Nhớ kỹ, bên trong cấm động thủ công khai. Ra khỏi cửa động, sống chết tự chịu."
Thanh trường đao thu lại. Trường Sinh lặng lẽ thu tay về, lách người qua khe nứt hẹp hòi.
Vừa bước qua cửa đá, một luồng không khí hỗn tạp, ồn ào và nóng bức lập tức ập vào mặt hắn.
Phía sau khe nứt là một hang động ngầm khổng lồ, sâu hun hút vào lòng núi. Dọc theo hai bên vách đá ẩm ướt là hàng chục quầy hàng tạm bợ được dựng bằng đá tảng hoặc những tấm bạt rách. Những ngọn đèn dầu cá le lói tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, soi rọi hàng trăm bóng người trùm áo choàng đen, bịt mặt kín mít đang đi lại thầm lặng như những hồn ma dưới âm phủ.
Mùi máu tanh của yêu thú, mùi dược liệu ngai ngái, mùi kim loại rỉ sét và mùi mồ hôi hôi hám quện chặt vào nhau đặc quánh.
Tiếng mặc cả thì thào, tiếng trao đổi linh thạch lách cách, thỉnh thoảng xen lẫn tiếng thở dốc đầy cảnh giác của những kẻ mang bảo vật bên mình. Nơi này không có quy củ của tông môn, không có đạo đức thế tục, chỉ có sự trao đổi trần trụi giữa lợi ích và sự sinh tồn.
Cố Trường Sinh kéo chặt vạt áo choàng da hoẵng, bàn tay phải đặt hờ lên chuôi thanh dao găm giắt bên hông. Hắn hít một hơi thật sâu làn khói ngột ngạt của hang ngầm, ánh mắt sắc lạnh quét qua từng quầy hàng phía trước.
Chợ đen Hắc Thủy Đàm. Hắn đã tới.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.