Chương 4: Độc Dược Trừ Trùng
Gió lạnh rít qua từng khe nứt trên vách đá Hắc Phong, mang theo tiếng u u rợn người như tiếng quỷ khóc.
Trời vừa le lói rạng sáng. Sương mù màu lam xám ở tầng thấp của khu linh điền số chín vẫn chưa tan hết, lơ lửng quấn quanh từng gốc rạ và mặt bùn lầy. Cố Trường Sinh đẩy tấm phên nứa rách của túp lều số mười bảy bước ra ngoài. Không khí ẩm ướt, buốt giá xộc thẳng vào cuống họng khiến hắn phải ho khẽ mấy tiếng, vội vàng siết chặt vạt áo vải thô chắp vá quanh người.
Đôi bàn tay hắn sưng húp, mười đầu ngón tay nứt nẻ rớm máu sau một ngày cật lực đào rãnh tháo nước. Những vết xước do đá dăm cào rách tối qua nay đã đóng vảy đen, mỗi lần co duỗi đều kéo theo một cơn đau nhói buốt tận tim gan.
Cố Trường Sinh ngồi xổm bên mép thềm đất, mở bọc vải gai lấy ra một vốc Linh Mễ thô màu xám đục. Hắn không nhóm lửa nấu cháo. Củi khô quanh vùng này đều bị chướng khí hun đen, cháy chậm mà khói độc lại nhiều; hơn nữa thời gian buổi sáng là lúc chướng khí loãng nhất, hắn không thể lãng phí dù chỉ một khắc.
Hắn bỏ từng hạt gạo cứng như sỏi vào miệng, chậm rãi dùng răng nghiền nát. Hạt gạo sống vừa cứng vừa chát xít, cọ xát vào vòm họng khô khốc mang lại cảm giác đau rát khó chịu, nhưng theo từng ngụm nước suối lạnh nuốt xuống, một tia nhiệt lưu yếu ớt từ từ dâng lên nơi đan điền, xoa dịu cái bụng đang cồn cào vì đói.
Ăn xong nửa vốc gạo, Trường Sinh đứng dậy cầm lấy cuốc gỗ mun và chiếc liềm xương thú giắt bên hông, sải bước đi về phía ba mẫu linh điền dưới chân vách đá.
Sau một đêm được rãnh mương sâu hai thước dẫn dòng, nước độc đọng trên mặt ruộng đã rút cạn quá nửa, để lộ ra lớp bùn xám đen sủi bọt khí lưu huỳnh. Đất tuy vẫn còn nhão nhoét nhưng không còn cảnh ngập úng ngập đến mắt cá chân như hôm qua.
Trường Sinh lội xuống bùn, cẩn thận đi tới chỗ ba mươi gốc Huyết Ngưng Thảo ba năm tuổi đang héo rũ. Không còn nước độc ngâm ngập, mùi hôi thối của rễ mục bốc lên càng thêm nồng nặc. Trên lớp bùn ẩm quanh gốc cây, từng đàn Hủ Cốt Nghĩ đen trùi trũi to bằng hạt đỗ xanh đang túa ra từ các khe nứt, bu kín lấy những đoạn rễ màu huyết dụ lộ trên mặt đất để gặm nhấm chất dịch dinh dưỡng cuối cùng.
Những chiếc răng kìm bằng sừng đen bóng của lũ kiến độc cắn xé không ngừng, mỗi lần cắn vào rễ cây lại tiết ra một giọt mủ màu xám đục. Nơi nào dính phải mủ độc đó, vỏ rễ lập tức biến thành màu đen kịt, thối rữa rồi rữa nát thành bùn.
Nếu không trừ dứt điểm lũ Hủ Cốt Nghĩ này, chỉ trong vòng ba ngày nữa, toàn bộ ba mươi gốc linh thảo ba năm tuổi này sẽ chết rục hoàn toàn.
Cố Trường Sinh ánh mắt trầm tĩnh, không hề có chút hoảng loạn. Hắn quay đầu nhìn lên gò đá lởm chởm nằm chếch về phía tây của vách Hắc Phong. Nơi đó địa thế cao ráo, đón được chút ánh nắng le lói hiếm hoi xé qua tầng mây mù, cũng là nơi duy nhất quanh đây mọc xen lẫn một số loại cỏ dại phàm trần có tính nhiệt.
Hắn giắt lại liềm xương vào thắt lưng, bắt đầu leo lên gò đá.
Những tảng đá núi sắc nhọn như dao cạo cứa qua lớp đế rơm mỏng manh của đôi giày cỏ rách, chọc vào lòng bàn chân đau nhói. Cố Trường Sinh cắn răng chịu đựng, hơi thở đều đặn, ánh mắt sắc bén lướt qua từng khe đá, bụi gai.
Trí nhớ qua mục không quên trong đầu hắn bắt đầu mở ra những trang sách dược điển cổ xưa mà cha hắn - Cố Đại Sơn - từng cẩn thận chép lại trên những mảnh da dê cũ kỹ.
"Hoắc Hương Thảo: thân vuông, lá mọc đối xứng, có lông tơ mịn bao phủ, tính ấm vị cay nồng, xua tan âm hàn thấp khí, phàm nhân thường dùng để trừ uế khí trong mùa ôn dịch."
"Xích Hỏa Căn: cỏ dại ven vách đá cằn cỗi, rễ đỏ như máu, tính hỏa cực thịnh, dịch rễ có vị cay xé lưỡi, đốt cháy da thịt, độc trùng âm hàn chạm vào ắt nát vỏ rữa thịt."
Hai loại cỏ này ở thế tục chỉ là thảo dược trị cảm mạo, trừ hàn thấp thông thường, không chứa nửa điểm linh khí, người tu tiên căn bản không thèm liếc mắt nhìn lấy một cái. Nhưng đối với loài Hủ Cốt Nghĩ vốn sinh ra từ âm hàn chướng khí dưới lòng đất, tính hỏa và vị cay nồng của hai loại phàm thảo này chính là khắc tinh trí mạng nhất.
Trường Sinh men theo gờ đá hẹp, phát hiện một bụi Hoắc Hương Thảo mọc chen chúc trong khe nứt. Hắn không dùng tay bứt lá bừa bãi mà dùng liềm xương cẩn thận cắt sát gốc, giữ lại toàn bộ cành lá đầy lông tơ để tránh làm tinh dầu cay thất thoát.
Cách đó không xa, dưới một tảng đá dựng đứng hứng trọn gió rít, hắn tìm thấy những khóm cỏ lưa thưa mang sắc lá vàng úa. Cố Trường Sinh dùng mũi liềm đào sâu xuống lớp đất đá khô cằn ba tấc, lôi lên những đoạn rễ cây nhỏ bằng ngón tay út, màu đỏ tươi như than hồng ngầm. Vừa bẻ gãy một đoạn, một mùi cay nồng xốc thẳng vào mũi khiến mắt hắn cay xè, nước mắt giàn giụa.
Đúng là Xích Hỏa Căn.
Hắn không thu hái hết một chỗ để tránh để lại dấu vết quá lộ liễu, mà lầm lũi di chuyển qua ba bốn gò đá khác nhau, gom nhặt từng gốc từng rễ nhét đầy chiếc túi vải gai đeo sau lưng.
Khi mặt trời lên đến đỉnh đầu, xuyên qua làn mây mù xám xịt rải xuống chút ánh sáng nhờ nhợt, Cố Trường Sinh đã mang theo một túi đầy thảo dược trở lại một góc khuất dưới chân vách đá, ngay sát ranh giới mẫu ruộng của mình.
Hắn tìm một hòn đá hoa cương có bề mặt lõm sâu tựa như chiếc cối nhỏ, dùng một khúc gỗ lim cứng mài nhẵn làm chày.
Trường Sinh đổ toàn bộ rễ Xích Hỏa Căn vào cối, dùng sức giã nát. Nước dịch màu đỏ sẫm đặc quánh tiết ra, mang theo một làn hơi nóng hăng hắc bốc lên nghi ngút. Tiếp đó, hắn cho toàn bộ lá Hoắc Hương Thảo đã vò nát vào, tiếp tục giã đều tay cho đến khi hai thứ hòa quyện thành một hỗn hợp dịch thuốc màu nâu đỏ, sền sệt và bốc mùi cay nồng nặc đến nghẹt thở.
Hắn lại xúc một nắm bùn khoáng kiềm màu trắng xám ở chân vách đá rắc vào cối, khuấy đều. Đất kiềm sẽ giữ cho dược dịch không bị nước ẩm trong bùn linh điền làm loãng đi quá nhanh, đồng thời giúp thuốc bám chặt vào vỏ rễ cây.
Chuẩn bị xong xuôi, Cố Trường Sinh bưng bát đá đựng dược dịch, tiến về phía gốc Huyết Ngưng Thảo đầu tiên đang bị bầy kiến bu kín.
Hắn hít sâu một hơi, dùng một que gỗ nhỏ quệt một giọt dược dịch màu nâu đỏ rồi chấm nhẹ lên lưng một con Hủ Cốt Nghĩ đang bò trên mặt đất.
Xèo!
Một tiếng kêu rất nhỏ vang lên. Con kiến độc to bằng hạt đỗ lập tức quằn quại điên cuồng, lớp vỏ kitin màu đen bóng trên lưng nó như bị than hồng nung chảy, rỉ ra một làn khói trắng mỏng manh cùng giọt nước dịch màu xám. Chỉ sau vài hơi thở, con kiến co giật dữ dội rồi cứng đờ, chết rục tại chỗ.
Những con kiến xung quanh ngửi thấy mùi cay nồng của Xích Hỏa Căn và Hoắc Hương Thảo, lập tức trở nên hỗn loạn. Chúng nháo nhào buông rễ Huyết Ngưng Thảo ra, quay đầu tháo chạy tán loạn vào các khe nứt dưới lòng đất.
Ánh mắt Cố Trường Sinh lóe lên một tia sáng lạnh.
Phán đoán của hắn hoàn toàn chính xác. Độc trùng bậc thấp sinh tồn dựa trên bản năng âm hàn, đứng trước dược tính hỏa nhiệt cực đoan của phàm thảo tự nhiên, chúng hoàn toàn không có sức chống cự.
Không chần chừ thêm một khắc, Cố Trường Sinh lập tức bắt tay vào công việc cứu cây.
Hắn quỳ sụp hai đầu gối xuống lớp bùn xám lạnh buốt, mặc cho nước bẩn ngấm qua lớp vải quần làm buốt nhói hai khớp xương. Đôi bàn tay đầy vết thương cẩn thận gạt bỏ lớp bùn nhão quanh gốc Huyết Ngưng Thảo, để lộ ra toàn bộ hệ thống rễ cái và rễ phụ.
Tình hình tồi tệ hơn hắn tưởng. Hơn một nửa số rễ phụ đã bị Hủ Cốt Nghĩ gặm nham nhở và bắt đầu hóa đen, bốc mùi thối rữa nồng nặc. Nếu để nguyên phần rễ hoại tử này, chất độc sẽ theo mạch dẫn lan ngược lên rễ cái và thân cây, khiến linh thảo chết khô từ bên trong.
Cố Trường Sinh cầm chiếc liềm xương thú mài sắc, hít sâu một hơi để giữ cho đôi tay không run rẩy.
Hắn dùng mũi liềm nhẹ nhàng rạch bỏ từng đoạn rễ đen thối, động tác chuẩn xác và dứt khoát đến mức kinh người. Từng sợi rễ hỏng bị cắt đứt rơi xuống bùn, chỉ giữ lại những đoạn rễ còn giữ được sắc huyết dụ tươi tắn. Mỗi một nhát cắt đều là sự đánh cược sinh tử: cắt quá nông thì mủ độc còn sót lại, cắt quá sâu phạm vào rễ cái thì linh thảo sẽ lập tức mất hết linh khí mà chết khô.
Sau khi cắt sạch phần hoại tử của một gốc cây, Trường Sinh dùng que gỗ múc dược dịch màu nâu đỏ, cẩn thận bôi kín các vết cắt trên rễ cây. Dược dịch cay nóng lập tức tạo thành một lớp màng bảo vệ ngăn không cho chướng khí xâm nhập, đồng thời hơi nóng âm ỉ sẽ kích thích tế bào rễ mới đâm chồi. Cuối cùng, hắn đổ dược dịch vào toàn bộ hang ổ của lũ kiến xung quanh gốc rồi lấp đất bùn khô lên trên để giữ ấm.
Công việc đòi hỏi sự tập trung cao độ và tỉ mỉ đến tột cùng.
Gốc thứ nhất... gốc thứ hai... rồi gốc thứ năm...
Thời gian trôi qua từng khắc một cách nặng nề. Lưng Cố Trường Sinh còng rạp xuống bùn, đau buốt như muốn gãy làm đôi. Mồ hôi trên trán hắn túa ra như tắm, chảy dài xuống mi mắt làm cay xè, rơi lộp độp xuống mặt bùn lầy.
Trong quá trình đào bới, bầy Hủ Cốt Nghĩ bị động tổ bắt đầu điên cuồng phản kích. Vài chục con kiến độc liều mạng bò lên mu bàn tay và cổ chân trần của hắn, dùng cặp kìm sắc nhọn cắn ngập vào da thịt.
Cơn đau nhói buốt như có hàng chục cây kim tẩm băng độc đâm thẳng vào tủy xương ập đến. Chỗ bị cắn lập tức sưng tấy, mưng mủ màu xanh xám, da thịt tê dại đi một mảng lớn.
Cố Trường Sinh nghiến chặt răng đến mức bật máu tươi nơi khóe môi, không hề phát ra một tiếng rên rỉ. Hắn không dừng tay, tay trái vẫn giữ chặt gốc linh thảo, tay phải dùng que gỗ quệt một lượng lớn dịch Xích Hỏa Căn bôi thẳng lên mu bàn tay và cổ chân của chính mình.
Dược dịch cay nóng tiếp xúc với vết thương hở mang lại cảm giác đau đớn như bị sắt nung dí thẳng vào da thịt. Cố Trường Sinh toàn thân run rẩy kịch liệt, gân xanh trên trán nổi cộm như những con giun đất. Nhưng cảm giác nóng rát tàn khốc đó đã lập tức dập tắt nọc độc âm hàn của Hủ Cốt Nghĩ, mủ xanh xám bị ép trào ra ngoài, da thịt co rúm lại nhưng cảm giác tê dại dần dần biến mất.
Hắn tự tàn nhẫn với chính mình, dùng cơn đau này đè bẹp cơn đau khác để duy trì sự tỉnh táo.
Đến khi bóng hoàng hôn nhuộm đỏ rực cả bầu trời phía tây thung lũng Bách Thảo Phong, gốc Huyết Ngưng Thảo thứ ba mươi cuối cùng cũng được xử lý xong.
Cố Trường Sinh kiệt sức ngã ngồi bệt xuống bờ mương, toàn thân lấm lem bùn đất hôi thối và mồ hôi chua chát. Đôi bàn tay hắn sưng to gấp rưỡi bình thường, rộp lên những vết bỏng rát do dịch Xích Hỏa Căn ăn mòn, xen lẫn những vết cắn thâm tím của độc trùng.
Nhưng ánh mắt hắn nhìn về phía ba mươi gốc linh thảo lại ánh lên một tia kiên định sắc lạnh.
Những chiếc lá màu đỏ sẫm rũ rượi lúc sáng nay, sau khi được tháo nước độc và bôi thuốc trừ trùng, đã bắt đầu có dấu hiệu ngẩng đầu lên đón gió núi. Dù linh khí tỏa ra vẫn còn yếu ớt, nhưng huyết sắc trên thân cây đã không còn tiếp tục phai nhạt.
"Này, tên phế vật số 917 kia! Ngươi đang làm cái trò quỷ gì ở đó thế?"
Một giọng nói the thé, cay nghiệt đột ngột vang lên từ con đường mòn phía trên bờ ruộng.
Cố Trường Sinh trong lòng giật thót, nhưng nét mặt lập tức thu lại toàn bộ vẻ sắc bén, thay vào đó là vẻ mặt sợ hãi, khúm núm quen thuộc. Hắn vội vàng đứng dậy, quay người cúi đầu.
Người đi tới là gã tạp dịch số 906. Gã mặc bộ áo xám bẩn thỉu, vác một cái cuốc gỗ trên vai, khuôn mặt gầy đét như bộ xương bọc da đầy vẻ mỉa mai và khinh bỉ. Đôi mắt trũng sâu của gã quét qua con mương tháo nước dài mười trượng và ba mươi gốc Huyết Ngưng Thảo vừa được đắp đất mới quanh gốc.
"Ồ? Đào mương dẫn nước, lại còn lấy bùn đắp gốc nữa à?" Tạp dịch 906 khịt mũi một cái, cười gằn: "Đúng là đồ nhà quê phàm trần mới vào tông môn, tưởng trồng linh thảo cũng giống như trồng lúa nước dưới quê nhà ngươi sao? Đất này là đất chết ngấm chướng độc trăm năm, rễ cây đã thối từ trong tủy, ngươi có tát cạn nước thì tháng này cũng đừng hòng nộp đủ sáu mươi gốc!"
Cố Trường Sinh run rẩy lau mồ hôi trên trán, giọng nói run rẩy, ra vẻ ngây ngô chất phác:
"Sư... Sư huynh nói phải. Tiểu đệ... tiểu đệ ở quê chỉ biết làm nông, thấy nước úng thì đào rãnh tháo đi, lại thấy có sâu bọ thì hái ít cỏ dại cay trên gò đá giã nát rắc vào đuổi bớt... Cầu mong vớt vát được gốc nào hay gốc nấy, chứ nếu thiếu nhiều quá bị Mã quản sự đánh gãy chân thì tiểu đệ chết mất..."
Tạp dịch 906 nhìn thấy chiếc cối đá dính đầy bùn đất nâu đỏ và mùi hôi hăng hắc bốc lên từ người Trường Sinh, trong mắt thoáng hiện lên vẻ khinh bỉ tột cùng:
"Dùng cỏ dại phàm trần để trị độc trùng linh điền? Ha ha ha! Thật là chuyện nực cười nhất Bách Thảo Phong này! Ngươi cứ việc phí công vô ích đi. Để xem đến ngày hai mươi chín cuối tháng, lúc Mã quản sự tới thu nộp linh thảo, ngươi lấy cái gì ra mà đền mạng!"
Gã tạp dịch cười khằng khặc đầy khoái trá, dường như việc nhìn thấy một kẻ mới đến sắp bước vào cửa tử khiến gã tìm lại được chút khoái cảm thảm hại trong cuộc sống tôi tớ cùng cực này. Gã nhổ một bãi nước bọt xuống bùn rồi quay lưng bỏ đi về phía khu lều của mình.
Cố Trường Sinh vẫn duy trì tư thế cúi đầu khúm núm cho đến khi bóng dáng của gã 906 khuất hẳn sau rặng đá xa xa.
Khi hắn ngẩng đầu lên, vẻ sợ sệt trên mặt đã hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại sự lạnh lùng tĩnh mịch như mặt nước giếng sâu.
Kẻ khác coi thường hắn, chế giễu hắn, đối với hắn chính là lớp ngụy trang an toàn nhất. Trong cái vũng bùn tanh hôi này, một kẻ phế linh căn tỏ ra tài giỏi hay có hiểu biết sẽ chỉ chuốc lấy sự ghen ghét và tai họa sát thân. Càng hèn mọn, càng ngu ngốc trong mắt người khác, hắn càng có thêm không gian để tính toán đường sống cho mình.
Trường Sinh quay trở lại lều số mười bảy khi màn đêm đã hoàn toàn nuốt chửng lấy thung lũng.
Hắn ngồi trong góc tối, thắp một ngọn đèn dầu nhỏ tù mù, lôi cuốn sổ tay bằng vỏ cây mỏng ra. Dùng một mẩu than củi, hắn bắt đầu ghi chép lại toàn bộ số liệu ngày hôm nay:
"Ngày thứ hai. Ba mươi gốc Huyết Ngưng Thảo ba năm tuổi đã cắt rễ hoại tử, dùng dịch Hoắc Hương Thảo phối Xích Hỏa Căn trừ sạch Hủ Cốt Nghĩ. Dự tính: mất mười lăm ngày để rễ mới đâm chồi, mười ngày tiếp theo để hấp thu linh khí hồi phục dược tính."
"Hiện trạng tổng thể:
- Gốc đạt chuẩn ba năm tuổi khỏe mạnh: 21 gốc.
- Gốc ba năm tuổi đang hồi phục: 30 gốc.
- Tổng số có thể thu hoạch cuối tháng: 51 gốc.
- Định ngạch Mã quản sự yêu cầu: 60 gốc.
- Còn thiếu: 9 gốc."
Trường Sinh nhìn chằm chằm vào con số chín trên mặt vỏ cây, ngón tay siết chặt mẩu than củi đến mức vỡ vụn thành bột đen.
Thiếu chín gốc.
Quy củ của Bách Thảo Phong vô cùng tàn khốc: thiếu một gốc phạt trừ nửa phần linh mễ, thiếu từ mười gốc trở lên mới bị đánh năm mươi roi Hắc Tằng đằng và phế kinh mạch. Nếu hắn nộp năm mươi mốt gốc, thiếu chín gốc, tuy không bị đánh chết ngay tại chỗ, nhưng toàn bộ khẩu phần linh mễ của tháng sau sẽ bị tước đoạt sạch sẽ.
Không có linh mễ duy trì thể lực trong môi trường đầy rẫy chướng khí này, hắn sẽ chết đói hoặc chết vì chướng độc trước khi kịp bước sang tháng thứ hai. Hơn nữa, một khi đã để Mã quản sự nắm được thóp, gã điền đầu tham lam tàn độc đó nhất định sẽ tìm cớ đẩy hắn vào chỗ chết để chiếm đoạt ba mẫu ruộng hoặc bán hắn làm dược nô thí nghiệm đan dược.
Hắn không thể thiếu dù chỉ một gốc.
Hắn phải tìm cách biến chín gốc trong số những cây Huyết Ngưng Thảo hai năm rưỡi còn non nớt trên ruộng kia thành thục sớm hơn nửa năm, đuổi kịp kỳ thu hoạch cuối tháng này.
Nhưng làm sao để một gốc linh thảo phàm cấp hạ phẩm rút ngắn thời gian sinh trưởng sáu tháng chỉ trong vòng chưa đầy hai mươi ngày?
Trường Sinh tựa lưng vào vách đất lạnh ngắt, nhắm nghiền hai mắt. Trong bóng tối mịt mùng của túp lều rách nát, từng dòng ký ức về cấu tạo thảo mộc, dòng chảy linh khí trong đất, và sự tương sinh tương khắc giữa các loại khoáng thạch phàm trần bắt đầu xoay chuyển điên cuồng trong đầu thiếu niên mười bốn tuổi.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.