Ta Ở Bách Thảo Phong Cầu Trường Sinh

Chương 3: Hủ Cốt Nghĩ

Đăng: 17/08/2026 06:31 3,302 từ 2 lượt đọc

Canh năm, tiếng chuông đồng từ sườn núi phía xa vọng lại, nặng nề gõ vào màn sương xám đục ba tiếng.

Đó là tiếng chuông thúc tạp dịch rời giường.

Cố Trường Sinh mở mắt, đồng tử đen nhánh lập tức khôi phục vẻ tỉnh táo sắc lạnh. Hắn không hề ngủ say suốt đêm qua. Nằm trên đống rơm mốc meo nồng nặc mùi ẩm thối của túp lều số mười bảy, từng cơn gió lạnh buốt lùa qua vách nứa hở hoác khiến lục phủ ngũ tạng hắn co thắt từng hồi. Chướng khí đầm lầy ban đêm dày đặc hơn ban ngày gấp bội, nếu không có nắm Dã Khương Thảo và Khổ Diệp Đằng nhai sống trước khi ngủ để giữ ấm lồng ngực, có lẽ sáng nay hắn đã biến thành một cái xác cứng đờ như người tiền nhiệm.

Hắn ngồi dậy, toàn thân đau nhức như bị búa tạ nện vào từng khớp xương. Lớp bã thuốc đắp ở mắt cá chân và cổ tay đã khô lại, bám thành một lớp vảy đen kịt. Trường Sinh không vội gỡ ra, hắn dùng hai dải vải rách xé từ gấu áo trong, quấn chặt lấy hai bắp chân từ mắt cá lên đến tận đầu gối, thắt nút thật chặt.

Trong cuốn sổ tay mỏng của gã tạp dịch đã chết có ghi một dòng chữ nguệch ngoạc: "Bùn lầy góc tây nam ăn da rữa thịt, độc trùng dưới bùn thấy máu là bu lại."

Trường Sinh kiểm tra lại đồ đạc. Cuốc gỗ mun vắt chéo sau lưng, cốt liêm bằng xương thú dắt ngang hông. Thanh thiết kiếm bọc bao bố rách được hắn giấu kỹ dưới lớp rơm mục sâu nhất sát chân tường. Ở nơi ngập tràn tạp dịch đói khát và độc địa này, dù là một thanh sắt phàm rỉ sét cũng có thể trở thành mồi lửa dẫn đến họa sát thân.

Bước ra khỏi túp lều, một luồng khí lạnh thấu xương mang theo mùi lưu huỳnh nồng nặc phả thẳng vào mặt.

Trước mắt hắn, khu linh điền số chín hiện ra như một bãi tha ma khổng lồ chìm trong biển sương lam xám. Hàng trăm mẫu ruộng bậc thang ngâm trong làn nước đen sẫm lấp loáng dưới ánh bình minh ảm đạm. Rải rác khắp các bờ ruộng là những bóng người gầy guộc, lưng còng rạp xuống, lầm lũi cắm mặt vào bùn đất như những bóng ma đói. Không một tiếng trò chuyện, không một lời chào hỏi. Ở cái nơi mà mạng người rẻ hơn cỏ rác này, mỗi hơi thở thừa thãi đều là sự lãng phí thể lực quý giá.

Cố Trường Sinh cúi gầm mặt, bước đi dọc theo con bờ ruộng trơn trượt về phía tây nam. Hắn đi rất chậm, mắt đảo quanh quan sát từng chi tiết nhỏ: độ lún của bùn đất, sắc tím trên lá lúa của các thửa ruộng xung quanh, và cả những vết lở loét đen sì trên bắp chân của những tạp dịch khác khi họ lội qua bờ.

Càng đi về phía góc tây nam giáp vách đá Hắc Phong, không khí càng trở nên lạnh lẽo quỷ dị. Vách đá dựng đứng đen ngòm như một bức tường thành khổng lồ chắn ngang trời, trên vách nứt nẻ những khe sâu hun hút, gió rít qua tạo thành những âm thanh the thé như tiếng quỷ khóc. Dưới chân vách đá là ba mẫu linh điền được giao cho hắn.

Mặt ruộng ở đây thấp hơn hẳn những nơi khác, nước đọng thành từng vũng đen ngòm, bên trên nổi váng dầu xám xịt và liên tục sủi những bọt khí nhỏ mang mùi trứng thối nồng nặc.

Cố Trường Sinh dừng lại ở bờ ruộng, đôi mày khẽ nhíu lại.

Ba mẫu đất này trồng toàn Huyết Ngưng Thảo. Theo những gì hắn đọc được trong cuốn sổ vỏ cây và kiến thức thảo mộc cha truyền lại, Huyết Ngưng Thảo khỏe mạnh phải có thân thẳng như mũi tên, lá hình mác màu xanh ngọc với những đường gân đỏ tươi như máu chảy bên trong. Nhưng trước mắt hắn, phần lớn các gốc linh thảo đều còi cọc, thân cây ngả màu vàng vọt, ngọn lá rũ rượi quăn queo, những đường gân đỏ trên lá nhạt nhòa gần như biến mất.

"Thảo nào Mã quản sự lại hào phóng 'giao phó' ba mẫu này cho ta." Trường Sinh cười lạnh trong lòng.

Hắn xắn ống quần quá gối, cẩn thận đặt chân xuống ruộng.

Ngay khoảnh khắc bàn chân trần chạm vào lớp bùn lầy, một cảm giác lạnh buốt như kim châm xông thẳng từ lòng bàn chân lên tận đỉnh đầu. Lớp bùn nhão nhoét, lạnh ngắt và nhớp nháp lún sâu qua mắt cá, ngập đến nửa bắp chân hắn. Dải vải tẩm Khổ Diệp Đằng phát huy tác dụng, ngăn không cho thứ bùn mang tính ăn mòn ngấm thẳng vào da thịt, nhưng cái lạnh thấu xương của Âm Hàn Thấp Độc thì không thể nào cản nổi.

Trường Sinh cắn chặt răng, chịu đựng cảm giác tê buốt, lội từng bước nặng nề đến bên một gốc Huyết Ngưng Thảo gần nhất.

Hắn quỳ một gối xuống mô đất nhô cao, rút cốt liêm bằng xương thú bên hông ra, cẩn thận nạo từng lớp bùn xung quanh gốc cây. Lưỡi liềm xương trơn láng gạt đi lớp đất mùn thối rữa, để lộ ra phần rễ cái của gốc linh thảo.

Đồng tử Trường Sinh co rút lại.

Rễ cái của cây Huyết Ngưng Thảo này lẽ ra phải có màu trắng ngà và mọng nước, nhưng hiện tại một nửa rễ đã biến thành màu đen sì, mềm nhũn và bốc mùi hôi thối nồng nặc. Tệ hơn nữa, bám dày đặc trên những đoạn rễ mục nát ấy là hàng chục con kiến nhỏ bằng hạt tấm, thân hình đen bóng gần như trong suốt, đầu có hai chiếc kìm cong vút sắc lẹm.

Hủ Cốt Nghĩ.

Trường Sinh nín thở, bất động như tượng gỗ. Ký ức về loài độc trùng này lập tức hiện rõ trong đầu hắn. Hủ Cốt Nghĩ là loài kiến chuyên ăn xác chết và thực vật mục rữa trong các đầm lầy chướng khí. Chúng cực kỳ nhạy cảm với linh khí và máu thịt sinh linh. Nọc độc của chúng chứa tính hàn cực độc, chỉ cần một vết cắn nhỏ cũng có thể làm thối rữa da thịt, nếu để nọc độc ngấm vào xương tủy thì chỉ có nước chặt bỏ tay chân.

Gốc rễ Huyết Ngưng Thảo bị ngập úng lâu ngày sinh ra thối rữa, mùi thối lại dẫn dụ Hủ Cốt Nghĩ từ trong các khe nứt của vách đá Hắc Phong bò xuống làm tổ. Cứ cái đà này, chẳng cần đến một tháng, toàn bộ ba mẫu linh thảo sẽ bị bầy kiến gặm sạch tận gốc rễ.

Trường Sinh nhẹ nhàng rút cốt liêm về, tuyệt đối không làm kinh động đến bầy kiến. Hắn đứng dậy, lội qua từng luống đất, cẩn thận đếm và đánh giá toàn bộ ba mẫu ruộng.

Sau gần nửa canh giờ, con số cụ thể đã được ghi tạc rành mạch trong đầu hắn:

Toàn bộ ba mẫu ruộng có tổng cộng tám mươi hai gốc Huyết Ngưng Thảo.

Trong đó, có ba mươi mốt gốc mới chỉ được một đến hai năm tuổi, thân lá nhỏ bé, hoàn toàn không đủ tiêu chuẩn cống nạp.

Năm mươi mốt gốc còn lại đạt độ tuổi ba năm, nhưng trong số đó có tới ba mươi gốc đang trong tình trạng thối rễ nặng nề, lá ngả vàng, bị Hủ Cốt Nghĩ bao vây. Chỉ có vỏn vẹn hai mươi mốt gốc nằm ở những gò đất cao hơn là còn giữ được chút sinh khí, gân lá le lói sắc đỏ.

Hai mươi mốt gốc.

Mà định ngạch Mã quản sự giao cho hắn vào cuối tháng là sáu mươi gốc ba năm tuổi.

Thiếu ba mươi chín gốc.

Nếu đến hạn không nộp đủ, thiếu một gốc trừ nửa phần linh mễ. Thiếu mười gốc trở lên... năm mươi roi Hắc Tằng đằng, phế bỏ kinh mạch, ném xác vào Hóa Thi Trì.

"Hắn vốn dĩ không cho ta con đường sống."

Gió từ vách Hắc Phong thổi thốc qua, rít gào từng cơn lạnh lẽo, hất tung những sợi tóc rối bù trước trán Cố Trường Sinh. Thiếu niên mười bốn tuổi đứng giữa bùn lầy tanh tưởi, đôi mắt không hề có lấy một tia hoảng loạn hay tuyệt vọng, chỉ có sự lạnh lùng đến tàn nhẫn.

Muốn sống, hắn phải làm cho ít nhất ba mươi chín gốc đang thối rữa kia hồi sinh và đạt chuẩn trong vòng chưa đầy một tháng.

Đó là điều mà bất kỳ gã tạp dịch nào nghe qua cũng sẽ cười nhạo là chuyện hoang đường. Cây cối đã thối rễ, lại bị độc trùng gặm nhấm, chỉ có đan dược chữa trị thảo mộc của tu sĩ Luyện Khí kỳ mới cứu vãn được. Một phàm nhân không có linh lực, không có tiền bạc như hắn thì lấy gì cứu?

Nhưng Cố Trường Sinh có thứ mà những kẻ khác không có.

Hắn sinh ra trong một gia đình dược nông nghèo hèn, từ năm sáu tuổi đã theo cha lội khắp các đầm lầy, khe suối phàm trần để hái thuốc. Hắn hiểu đất, hiểu nước, hiểu từng tính nết của cây cỏ hơn bất kỳ ai. Linh thảo dù mang linh khí, rốt cuộc vẫn là thảo mộc sinh trưởng từ đất mẹ.

Đầu tiên là nước và thổ nhưỡng.

Ba mẫu đất này trũng xuống, nước tù đọng không thoát được, lại thêm nước ngầm mang Âm Hàn Thấp Độc từ vách Hắc Phong liên tục rỉ ra rãnh đá chảy vào ruộng, khiến đất bị úng và nhiễm hàn độc trầm trọng. Muốn rễ cây không thối, việc đầu tiên là phải tháo cạn nước độc và chặn nguồn nước từ vách đá.

Thứ hai là Hủ Cốt Nghĩ.

Loài kiến này sợ nhất là vị cay nồng và tính hỏa. Dùng lửa đốt thì không thể, vì rơm rạ phàm trần cháy sinh khói độc sẽ làm cháy luôn lá Huyết Ngưng Thảo mỏng manh. Nhưng trong tự nhiên, vạn vật tương sinh tương khắc.

Cố Trường Sinh đưa mắt nhìn về phía gò đất đá lởm chởm cách đó không xa. Ở đó mọc đầy những bụi Hoắc Hương Thảo dại và rễ cây Xích Hỏa Căn còi cọc. Đó là những loài cỏ dại phàm trần vô giá trị đối với tu sĩ, nhưng thân rễ của chúng lại chứa lượng lớn tinh dầu cay nóng cực mạnh.

Hắn đã có phương án trong đầu. Từng bước, từng việc một, rõ ràng như khắc trên phiến đá.

Trường Sinh tháo cuốc gỗ mun sau lưng xuống.

Quy củ của Bách Thảo Phong cấm tiệt tạp dịch dùng nông cụ bằng sắt thép phàm trần, bởi vì tạp chất kim loại phàm tục sẽ làm ô uế và cắt đứt các mạch linh khí mỏng manh dưới lòng đất. Chiếc cuốc làm bằng gỗ mun nặng trịch, lưỡi cuốc dày cộp và tù túng, vung lên vô cùng tốn sức.

Hắn bắt đầu vung cuốc xuống bờ ruộng phía tây, nơi tiếp giáp với chân vách đá Hắc Phong.

Phập!

Lưỡi gỗ mun cắm phập vào lớp đất pha đá cứng như sắt. Cổ tay Trường Sinh chấn động run rẩy, một cơn đau buốt truyền thẳng lên bả vai. Thân thể suy dinh dưỡng mười bốn tuổi của hắn khẽ lảo đảo. Hắn nghiến chặt răng, lấy chân đạp mạnh vào vai cuốc, bẩy một tảng đất đen ngòm lẫn sỏi đá lên.

Hắn muốn đào một con mương dẫn nước sâu hai thước, chạy dọc theo bờ tây để gom toàn bộ nước độc rỉ ra từ vách đá, dẫn thẳng xuống hố trũng hoang phế ngoài rìa phân khu số chín. Đồng thời, hắn phải đào thêm ba rãnh thoát nước xương cá xuyên qua ba mẫu ruộng để hạ mực nước ngầm, giúp đất thở được.

Một nhát cuốc, hai nhát cuốc, rồi mười nhát cuốc...

Mồ hôi bắt đầu túa ra như tắm, hòa cùng sương mù lạnh buốt chảy ròng ròng trên trán, rớt xuống cay xè khóe mắt. Bàn tay non nớt của hắn vốn đã có nhiều vết chai sạn từ thuở nhỏ, nhưng trước sức nặng của cuốc gỗ mun và sự cản trở của rễ cây sỏi đá, lớp da mỏng nhanh chóng phồng rộp lên thành những bọng nước đỏ ửng.

Phập! Phập!

Mỗi lần vung cuốc là một lần bọng nước cọ xát vào cán gỗ thô ráp. Đến trưa, những bọng nước vỡ toác ra, máu tươi rỉ ra thấm đỏ cả cán cuốc mun. Vết thương hở tiếp xúc với bùn lầy chướng khí lập tức bỏng rát như bị than hồng dí vào da thịt.

Cố Trường Sinh không dừng lại. Hắn thậm chí không hề rên rỉ lấy một tiếng.

Khuôn mặt thiếu niên tái nhợt vì kiệt sức và mất nước, nhưng đôi mắt vẫn bình thản đến rợn người. Cứ mỗi lần cơn đau nhói lên làm đầu óc muốn choáng váng, hắn lại tự nhắc nhở bản thân bằng hình ảnh người cha lưng còng ở thôn Cố Gia, hình ảnh nụ cười khinh bỉ của tên đệ tử ngoại môn mặt vuông khi nhìn vào viên Trắc Linh Cầu u tối, và ánh mắt coi mạng người như cỏ rác của Chấp sự Lưu cùng Mã quản sự.

Nếu không nhẫn, hắn sẽ chết.

Nếu dừng lại, cái hố chôn hắn sẽ là Hóa Thi Trì sủi bọt máu.

"Này, thằng nhóc mới đến!"

Một giọng nói the thé, đầy vẻ châm chọc bất ngờ vang lên từ phía bờ ruộng bên cạnh.

Cố Trường Sinh dừng tay, hơi thở hổn hển nhưng nhịp thở được hắn nhanh chóng điều chỉnh lại cho đều đặn. Hắn ngẩng đầu nhìn lên.

Đứng trên bờ là một gã tạp dịch khoảng hai mươi lăm tuổi, thân hình gầy đét như một bộ xương bọc da, da mặt xám xịt bủng beo, mặc bộ áo vải xám rách tả tơi mang số hiệu Cửu Trăm Lẻ Sáu. Trên tay gã cầm một chiếc sọt tre đựng đầy những gốc cỏ dại vừa nhổ.

Gã nhìn con mương nông choẹt mà Trường Sinh vừa đào được một đoạn ngắn, rồi nhìn xuống đôi bàn tay đầm đìa máu của hắn, khóe môi nhếch lên một nụ cười quái gở:

"Mày đang làm cái trò vô ích gì thế? Đào mương tháo nước à? Ha ha ha! Thằng ngu, đất ở chân vách Hắc Phong này là đất chết! Mày có đào thủng cả núi thì chướng độc ngấm dưới lòng đất cả trăm năm nay cũng chẳng cạn được đâu. Thằng trước mày cũng hăng máu đào bới như thế, chưa đầy hai tháng đã ho ra máu đen rồi lăn đùng ra chết đấy!"

Cố Trường Sinh không hề tỏ ra tức giận, cũng không tranh cãi. Hắn buông cán cuốc, khom lưng cúi đầu thật thấp, giọng nói khàn đặc mang vẻ sợ sệt và cung kính của một kẻ mới đến:

"Sư huynh dạy phải. Tiểu đệ mới đến không hiểu chuyện, thấy nước đọng nhiều sợ rễ cây ủng nên mới làm bừa. Đa tạ sư huynh đã chỉ bảo."

Gã tạp dịch số 906 thấy Trường Sinh nhún nhường, vẻ mặt lộ rõ sự thỏa mãn của kẻ yếu đuối tìm được kẻ yếu hơn để giẫm đạp. Gã nhổ một bãi nước bọt màu vàng sẫm xuống bùn, khinh bỉ nói:

"Biết điều đấy. Tao khuyên mày một câu, đừng có tốn sức vô ích. Gom được mấy gốc Huyết Ngưng Thảo còn sống thì giấu đi, cuối tháng dập đầu lạy lục Mã quản sự, cúng cho lão vài lượng bạc hay thứ gì quý giá mày mang từ phàm gian lên, may ra lão đánh nhẹ tay cho giữ lại cái mạng quèn. Còn không thì... chuẩn bị chỗ mà chôn mình đi!"

Nói xong, gã cười khằng khặc rồi quay lưng bỏ đi, đôi chân khẳng khiu bước xiêu vẹo trên bờ đất.

Trường Sinh đứng thẳng người dậy, ánh mắt nhìn theo bóng lưng gã tạp dịch dần khuất trong sương mù. Sự sợ sệt trên mặt hắn biến mất không còn một dấu vết, chỉ còn lại sự lạnh lùng sâu thẳm.

Cầu xin? Hối lộ?

Hắn chẳng còn một đồng phàm trần nào, viên linh thạch cuối cùng cũng đã trao cho Chấp sự Lưu. Con đường duy nhất của hắn là tự dùng đôi bàn tay này xé toạc một lối sống.

Hắn cúi xuống, nhặt một nắm bùn đen trộn lẫn lá mục bên cạnh lên, trét thẳng vào hai lòng bàn tay đang rỉ máu.

Vị chát của lá mục và đất bùn làm vết thương xót buốt tận tim gan. Lông mày Trường Sinh giật giật, trán nổi đầy gân xanh, nhưng hắn vẫn cắn răng miết chặt bùn vào da thịt để cầm máu tạm thời.

Sau đó, hắn cầm lấy cán cuốc mun, tiếp tục bổ xuống.

Phập! Phập!

Từng tảng đất đen được bới lên. Mùi bùn thối, mùi lưu huỳnh xộc vào mũi nồng nặc.

Đến khi mặt trời khuất hẳn sau rặng núi Thanh Vân, bóng tối đặc quánh cùng sương mù lạnh lẽo nuốt chửng khu linh điền số chín, con mương dẫn nước dài mười trượng, sâu hai thước đã thành hình. Nước đen ứ đọng từ ba mẫu ruộng bắt đầu róc rách chảy vào mương, theo độ dốc từ từ rút ra vùng trũng phía xa.

Mặt ruộng dần lộ ra những mảng bùn ráo hơn, không còn cảnh váng dầu sủi bọt ngập ngụa như ban sáng.

Cố Trường Sinh kiệt sức, ngồi phịch xuống một phiến đá khô ráo dưới chân vách núi. Toàn thân hắn run rẩy vì đói và lạnh. Hai bàn tay hắn tê dại, máu và bùn khô lại thành một lớp vảy đen cứng ngắc dính chặt vào da thịt, mỗi lần co duỗi ngón tay là da thịt lại nứt toác ra đau đớn.

Hắn thò tay vào ngực áo, móc ra một nắm Linh Mễ thô màu xám đục.

Không có lửa để nấu, hắn nhét từng hạt gạo sống cứng như đá vào miệng, chậm rãi nhai. Tiếng gạo vỡ giòn tan trong miệng, khô khốc và đắng ngắt. Hắn nuốt từng chút một, cảm nhận luồng nhiệt lượng vô cùng yếu ớt từ hạt linh mễ tan ra nơi cuống họng, chảy vào dạ dày trống rỗng đang co thắt cồn cào.

Vừa nhai gạo sống, ánh mắt Trường Sinh vừa nhìn về phía những bụi Hoắc Hương Thảo và rễ Xích Hỏa Căn trên gò đá.

Nước đã bắt đầu thoát.

Ngày mai, sẽ là lúc hắn xử lý bầy Hủ Cốt Nghĩ.

Đêm ở Bách Thảo Phong lạnh buốt thấu xương. Tiếng gió rít qua khe đá Hắc Phong gầm rú như dã thú đói mồi. Thiếu niên mười bốn tuổi ngồi trong bóng tối mịt mùng, đơn độc gặm nhấm từng hạt gạo sống, đôi mắt sáng quắc như loài sói hoang rình mồi trong đêm lạnh.

Hắn muốn sống.

Và hắn sẽ sống lâu hơn tất cả những kẻ muốn hắn chết.

0