Chương 36: Khổ Tu Thạch Thất
Căn phòng đá số bảy mươi hai khu Tây Viện chìm trong một màu u tối lạnh lẽo. Không gian rộng chừng một trượng rưỡi bốn bề vây bọc bởi những khối đá hoa cương xám xịt, kín mít không một kẽ hở thông gió ra hành lang, chỉ duy nhất có một lỗ thông hơi nhỏ bằng miệng bát ăn cơm khoét chếch trên góc trần cao hướng ra triền núi phía tây. Gió lạnh mang theo hơi ẩm của rừng rậm rít từng hồi qua khe đá, thổi bạt những tia sáng lờ mờ từ viên đá lân tinh đặt nơi góc tường.
Cố Trường Sinh ngồi xếp bằng trên tấm dát giường bằng gỗ bạch tùng, lưng thẳng tắp như một cọc gỗ cắm sâu vào lòng đất. Hắn không thắp đèn dầu, cũng không nhóm lửa. Mùi khói bếp hay dầu tràm ở một nơi chật hẹp như thế này là điều tối kỵ, rất dễ khiến những kẻ nhạy cảm bên ngoài sinh nghi.
Mỗi ngày, khẩu phần của hắn chỉ vỏn vẹn hai nắm Linh Mễ thô và một mẩu rễ Khổ Đằng khô bằng ngón tay út. Hắn không nấu chín. Từng hạt gạo sống cứng như sỏi được hắn đưa vào miệng, dùng răng hàm nghiền nát chậm rãi, nhai kỹ đến khi chất bột chuyển thành một thứ dịch lỏng ngòn ngọt pha lẫn vị chát xơ xác nơi đầu lưỡi rồi mới nuốt xuống cuống họng. Sau đó, hắn nhấp một ngụm nước lã từ ống trúc để xua đi cảm giác cồn cào trong dạ dày.
Cái đói vẫn luôn âm ỉ cắn xé ruột gan hắn như một bầy kiến độc, nhưng sự tỉnh táo trong đôi mắt sâu hoắm của thiếu niên mười bốn tuổi chưa từng suy giảm dù chỉ một khắc.
Sau khi lớp Linh Mễ thô chuyển hóa thành một luồng nhiệt lượng yếu ớt lan tỏa khắp lục phủ ngũ tạng, Cố Trường Sinh liền khẽ xoay người, hướng mặt vào khe nứt sâu hoắm trên vách đá sau đầu giường.
Hắn khẽ phất vạt áo gai thô, để lộ bảy mầm non Hắc Độc Đằng đang bám chặt vào vách đá hoa cương.
Qua năm ngày đầu tiên, dưới sự tẩm bổ của tro than mai mực kết hợp bùn mương kiềm tính và mạt sắt thô, bảy mầm cây đã vươn dài hơn một gang tay. Thân cây to bằng chiếc đũa ăn cơm, uốn lượn ngoằn ngoèo như những con rắn nhỏ mang sắc tím đen đậm đặc. Trên lớp vỏ mỏng bắt đầu xuất hiện những đường vân răng cưa xám bạc li ti, từng chiếc lá hình mũi mác mọc so le đen bóng như sắt nguội, mép lá sắc lẹm khẽ rung rinh trong luồng gió lạnh luồn qua kẽ đá.
Nhưng quan trọng nhất là bộ rễ.
Những sợi rễ non trắng muốt ban đầu nay đã chuyển sang màu xám tro, quấn chặt lấy các mẩu quặng sắt vụn mà Trường Sinh rải dưới gốc. Đầu rễ không ngừng tiết ra một lớp chất dịch nhớt mỏng, sủi bọt khí cực nhỏ khi tiếp xúc với kim loại. Từng hạt mạt sắt sắc nhọn đang dần bị lớp dịch axit này bào mòn, tan rã thành một thứ bùn đen sền sệt, sau đó bị các mao mạch của rễ hút ngược vào thân cây.
Mỗi lần rễ độc đằng nuốt một lượng vụn sắt, thân cây lại khẽ co giật một nhịp, tỏa ra một mùi tanh nồng pha lẫn vị chua hăng hắc của quặng kim loại bị oxy hóa nồng nặc.
Cố Trường Sinh nheo mắt quan sát thật kỹ, trong đầu đối chiếu từng dòng khẩu quyết của Hoang Thảo Quyết:
"Hắc Độc Đằng lấy kim sát làm cốt, lấy mộc sát làm tủy. Muốn ngưng dịch thành châu, phải bức rễ đâm sâu vào lõi sắt, dùng mộc khí nghịch hành ép dịch độc tiết ra từ gai nhọn..."
Hắn hít sâu một hơi khí lạnh, chậm rãi nhắm mắt lại.
Tâm thần hắn chìm vào Khí Hải Đan Điền. Luồng xoáy Mộc linh khí màu xanh lục nhạt tại tầng một Luyện Khí bắt đầu chuyển động chậm rãi theo chiều ngược kim đồng hồ. Dưới sự khống chế chuẩn xác đến từng sợi tơ của thần thức, luồng linh khí không đi theo lộ tuyến chính quy của Dẫn Khí Quyết mà tách ra làm ba nhánh nhỏ, men theo các Lạc mạch hẹp và mỏng dính ở mạn sườn bên trái.
Một cơn đau rát buốt ập tới.
Lạc mạch vốn là những nhánh kinh lạc phụ, thành mạch xơ cứng và nhỏ hẹp hơn Thập Nhị Chính Kinh gấp nhiều lần. Khi luồng Mộc linh khí mang tính chất hoang dã của Hoang Thảo Quyết cọ xát vào vách mạch, cảm giác như có hàng trăm mũi kim nung đỏ chọc thẳng vào da thịt hắn. Cố Trường Sinh cắn chặt quai hàm, cơ mặt khẽ giật giật nhưng thân hình bất động như tượng đá. Hắn đã quen với loại thống khổ này từ những ngày bới rễ cây trong rừng thẳm.
Linh khí men theo cánh tay trái, tụ lại nơi ba đầu ngón tay trỏ, ngón giữa và ngón cái. Một màn sương lục mờ nhạt như tơ nhện khẽ bắn ra, nhẹ nhàng phủ lên ngọn của bảy cây Hắc Độc Đằng.
"Xoẹt... xoẹt..."
Bảy gốc độc đằng như bị kích thích mãnh liệt bởi Mộc linh khí thuần khiết, thân cây uốn éo vặn vẹo. Đám rễ bám dưới chân lập tức tăng tốc tiết dịch axit, tiếng xèo xèo gặm nhấm mạt sắt vang lên râm ran trong khe đá hẹp. Lớp dịch sắt đen ngòm bị hút ngược lên, truyền thẳng qua các đốt thân, khiến cho lớp da màu tím đen của độc đằng phồng rộp lên từng mảng nhỏ.
Trường Sinh duy trì việc rót linh khí chuẩn xác trong suốt nửa khắc. Khi trán hắn đã lấm tấm mồ hôi lạnh và đan điền bắt đầu truyền đến cảm giác khô cạn, hắn mới dứt khoát thu hồi linh lực, không tham lam thêm một tia nào.
Ngay khi linh khí rút đi, bảy gốc Hắc Độc Đằng lập tức rũ xuống, nhưng thân cây đã to hơn trước nửa phần, lớp vỏ ngoài trở nên thô ráp, cứng như gỗ lim ngâm nước lâu năm. Trên các nách lá, những chiếc gai nhọn hoắt dài nửa tấc bắt đầu nhú ra, đầu gai lấp loái một chấm bạc lỏng lanh, tỏa ra một mùi tanh kim loại khiến đầu óc người ta hơi choáng váng.
Cố Trường Sinh nhanh chóng lấy một vụn quặng sắt mới, dùng lưỡi dao găm cạo rớt thêm một lớp mạt sắt mịn phủ đều lên gốc cây, rồi tưới vào đó nửa muỗng nước ngầm đã hòa lẫn một ít tro than. Hắn dùng tấm ván mục che chắn khe nứt lại cẩn thận, quét dọn sạch sẽ những hạt bụi đá rơi vãi trên giường.
Làm xong tất cả, hắn mới ngồi thẳng lại, bắt đầu chuyển sang vận chuyển Dẫn Khí Quyết để thổ nạp.
Không gian xung quanh lại chìm vào tĩnh mịch. Từng sợi linh khí mỏng manh trôi nổi trong phòng đá bị đan điền của hắn chậm rãi kéo vào cơ thể, thanh lọc, chuyển hóa bù đắp lại chỗ linh lực vừa tiêu hao, đồng thời chậm rãi tôi luyện các kinh mạch vừa bị tổn thương.
Cứ như thế, ngày này qua ngày khác trôi qua trong đơn điệu và đau đớn cùng cực.
Đến ngày thứ mười của chuỗi ngày bế quan, biến động bên ngoài dãy phòng đá Tây Viện bắt đầu xuất hiện.
Thời hạn nộp nguyệt khóa ba mươi ngày của tông môn đang đến gần. Bầu không khí nơi khu ngoại môn vốn đã u ám nay lại càng thêm ngột ngạt, nồng nặc mùi tuyệt vọng và sát khí giấu kín.
Đêm hôm đó, Cố Trường Sinh đang duy trì trạng thái Khô Thảo Tức, nhịp tim hạ xuống chỉ còn hơn mười nhịp mỗi khắc, thân nhiệt lạnh ngắt như đá tảng. Đột nhiên, từ hành lang đá bên ngoài vang lên tiếng bước chân dồn dập, nện thình thịch lên nền đá hoa cương kèm theo tiếng xích sắt va chạm loảng xoảng.
"Mở cửa! Tôn Lão Tam, cút ra đây cho ta!"
Một giọng quát the thé đầy hống hách vang lên, xé toạc màn đêm tĩnh mịch. Cố Trường Sinh nghe rất rõ, đó là giọng của tên chấp sự đệ tử họ Triệu ở Chấp Sự Đường, kẻ phụ trách đôn đốc thu nộp linh thạch hàng tháng.
Tiếng then cửa gỗ phòng số sáu mươi chín cách phòng Trường Sinh ba gian run rẩy mở ra. Tiếp đó là tiếng quỳ sụp xuống nền đá và giọng van xin nghẹn ngào của một lão tu sĩ già:
"Triệu sư huynh... xin ngài rủ lòng thương... lão hủ tháng này săn bắt Xích Hỏa Hầu bị trúng độc chướng, tốn mất hai khối linh thạch mua Giải Độc Đan... Nguyệt khóa ba khối linh thạch, lão hủ chỉ mới gom được một khối rưỡi... Xin gia hạn cho lão hủ năm ngày, chỉ năm ngày thôi..."
"Gia hạn? Hừ!" Triệu chấp sự cười lạnh một tiếng, âm thanh sắc như dao cạo: "Quy củ tông môn do Chấp Pháp Đường định ra, ba khối linh thạch hạ phẩm hoặc ba mươi điểm cống hiến, thiếu một viên cũng là bất tuân môn quy! Ngươi đã nợ tháng thứ hai liên tiếp. Chấp Sự Đường không nuôi phế vật!"
"Triệu sư huynh! Cầu xin ngài! Đừng bắt lão hủ vào Hắc Ngục... Vào đó đào khoáng chướng khí ngập trời, lão hủ sống không quá nửa năm đâu..."
"Ầm!"
Một tiếng va đập nặng nề vang lên, kèm theo tiếng xương gãy giòn rụm và tiếng hộc máu của lão tu sĩ. Rõ ràng Triệu chấp sự đã ra tay bằng linh lực Luyện Khí tầng bốn, đánh bay đối phương vào tường đá.
"Kéo đi! Khóa đan điền lại, tống xuống khoáng mạch Hắc Ngục tầng ba!" Triệu chấp sự lạnh lùng ra lệnh cho hai tên đệ tử đi cùng.
Tiếng khóc lóc thảm thiết xen lẫn tiếng xiềng xích ma sát trên sàn đá xa dần rồi tắt hẳn nơi cuối dãy hành lang. Cả khu Tây Viện lại rơi vào sự im lặng chết chóc. Các phòng đá xung quanh không một ai dám ho he một tiếng, thậm chí không một cánh cửa nào hé mở. Ở nơi này, sự đồng cảm là thứ rác rưởi đắt đỏ nhất mà không một kẻ tu tiên nghèo hèn nào dám mang theo bên mình.
Bên trong phòng số bảy mươi hai, Cố Trường Sinh vẫn ngồi yên trong bóng tối. Nhịp thở của hắn không hề rối loạn, đôi mắt mở to nhìn chăm chú vào khe cửa đá.
Hắn biết rõ, nếu trong tám ngày tới hắn không gom đủ ba khối linh thạch hạ phẩm nộp cho Chấp Sự Đường, số phận của hắn sẽ không khác gì lão tu sĩ Tôn Lão Tam kia. Thậm chí với tu vi Luyện Khí tầng một sơ kỳ và thể trạng gầy gò này, nếu bị đày xuống Hắc Ngục đào khoáng dưới lòng đất, hắn sẽ chết rục xương vì chướng khí chỉ trong vòng ba tháng.
Áp lực sinh tử đè nặng lên lồng ngực, nhưng thay vì sợ hãi, nó lại biến thành một sự lạnh lùng sắc bén đến tàn nhẫn trong tâm trí thiếu niên.
"Còn tám ngày..." Hắn thầm tính toán trong lòng.
Những ngày tiếp theo, Cố Trường Sinh tăng cường độ kích thích Hắc Độc Đằng lên ba lần mỗi ngày. Mỗi lần vận chuyển Hoang Thảo Quyết, mạn sườn trái của hắn lại sưng tấy lên một mảng đỏ ửng, những mạch máu nhỏ dưới da nổi cộm như giun đất. Nhưng đổi lại, tốc độ sinh trưởng của bảy gốc độc đằng vượt xa dự tính ban đầu.
Đến ngày thứ mười bảy của kỳ bế quan, bảy gốc Hắc Độc Đằng đã vươn dài gần hai thước, thân cây to bằng ngón tay cái người lớn, lớp vỏ ngoài đen nhánh ánh lên sắc kim loại lạnh lẽo như thép tôi. Bộ rễ của chúng đã gặm sạch toàn bộ mẩu quặng sắt thô mà Trường Sinh cung cấp, chuyển hóa thành một nguồn kim độc nồng đậm chạy dọc thân cây.
Tại các nách lá, những chiếc gai nhọn hoắt dài chừng một tấc đã chuyển hoàn toàn sang màu xám bạc. Trên đỉnh của mỗi chiếc gai, một giọt chất dịch sền sệt màu xám đen, lấp lánh như thủy ngân đang ngưng tụ lại, tỏa ra một mùi tanh kim khí cực kỳ đậm đặc.
Hắc Ngân Trấp đã thành hình!
Cố Trường Sinh không vội vã. Hắn kiên nhẫn chờ đến giờ Tý đêm thứ mười bảy, khi toàn bộ sườn núi Bách Thảo Phong chìm sâu vào giấc ngủ và đội tuần tra của Chấp Pháp Đường vừa hoàn thành đợt quét la bàn qua sườn tây.
Hắn thắp một viên đá lân tinh nhỏ, đặt sát mép giường để ánh sáng chỉ vừa đủ soi rọi khe nứt. Hắn cẩn thận lấy ra hai chiếc lọ nhỏ bằng hắc sứ dày tráng men chịu axit nhặt từ bãi rác Dược Phế Khê, cùng với một chiếc thìa nhỏ mài bằng xương thú và mẩu sáp ong phong đan.
Hắn dùng một miếng vải ướt bịt kín mũi và miệng, chỉ để lộ đôi mắt sắc lạnh. Khí độc bốc ra từ Hắc Ngân Trấp nếu hít phải một lượng nhỏ cũng đủ làm tê liệt phế phủ của tu sĩ Luyện Khí tầng một.
Trường Sinh nín thở, bàn tay cầm chiếc thìa xương vững vàng như núi, không hề run rẩy dù chỉ một tia. Hắn nhẹ nhàng đưa đầu thìa hứng lấy giọt dịch độc nơi đầu gai thứ nhất.
"Tách."
Giọt dịch xám bạc đặc quánh rơi vào lòng thìa xương. Chiếc thìa khẽ run lên một nhịp, bề mặt xương phát ra tiếng xèo xèo cực nhỏ, lớp men xương bóng loáng lập tức bị ăn mòn thành một vết xám đục. Trường Sinh nhanh chóng nghiêng thìa, trút giọt dịch vào miệng lọ hắc sứ.
Một giọt... hai giọt... ba giọt...
Hắn tỉ mỉ thu hoạch từng giọt một từ bảy gốc độc đằng. Mỗi gốc cây chỉ cho đúng hai giọt Hắc Ngân Trấp tinh thuần nhất. Đến giọt thứ mười bốn, thân cây Hắc Độc Đằng lập tức khô quắt lại, lớp lá đen bóng rũ xuống, chuyển dần sang màu vàng úa của củi mục do đã cạn kiệt toàn bộ tinh hoa sinh cơ và kim sát khí.
Tổng cộng mười bốn giọt Hắc Ngân Trấp nằm gọn trong chiếc lọ hắc sứ thứ nhất, chỉ chiếm một phần năm đáy lọ nhưng tỏa ra một làn sương xám nhạt lởn vởn quanh miệng bình.
Trường Sinh lập tức dùng nút gốm đậy chặt miệng lọ. Sau đó, hắn vận một tia Hỏa linh khí tạp chất nơi lòng bàn tay, hơ nóng mẩu sáp ong phong đan cho chảy mềm ra, rồi trét kín quanh mép ren vặn của chiếc lọ, ngăn chặn tuyệt đối không cho một tia dược khí độc hại nào rò rỉ ra ngoài. Chiếc lọ sứ thứ hai hắn giữ lại làm dự phòng, cất kỹ dưới dát giường.
Làm xong mọi việc, Trường Sinh cẩn thận nhổ bật gốc bảy bụi Hắc Độc Đằng đã khô héo, dùng hai bàn tay nghiền nát thân cây thành một lớp bột tro vụn màu xám đen. Hắn rải lớp bột này vào góc tường ẩm ướt để khử kiềm cho đất, xóa sạch mọi dấu vết sinh trưởng của độc thảo trong phòng.
Mười bốn giọt Hắc Ngân Trấp.
Theo giá cả chợ đen mà hắn từng quan sát, mỗi giọt Hắc Ngân Trấp của Hắc Độc Đằng có niên hạn hai thước nuốt quặng sắt có thể bán được từ một đến hai khối linh thạch hạ phẩm cho những kẻ luyện chế độc tiễn hoặc tu sĩ tu luyện tà công Âm Kim. Mười bốn giọt này, nếu giao dịch trót lọt, sẽ mang lại cho hắn ít nhất mười lăm đến hai mươi khối linh thạch hạ phẩm.
Số tài nguyên này không những đủ để hắn nộp nguyệt khóa ba khối linh thạch cho Chấp Sự Đường, mà còn dư dả để mua thêm đan dược, phù triện và tài nguyên tu luyện cho chuỗi ngày tiếp theo.
Nhưng muốn đổi số độc trấp này thành linh thạch, hắn phải rời khỏi sơn môn Thanh Vân Tông, xuống chợ đen Hắc Thủy Đàm một chuyến nữa.
Thời hạn nộp nguyệt khóa chỉ còn đúng ba ngày.
Cố Trường Sinh cất kỹ lọ hắc sứ vào chiếc đãy vải da hoẵng giắt sát bên sườn trong lớp áo gai thô, kiểm tra lại thanh đoản đao Huyền Thiết bên hông, cây trâm sắt độc tẩm cước trên búi tóc, và tấm Khinh Thân Phù rách mép còn lại nửa phần linh lực.
Hắn tiến lại gần lỗ thông hơi nhỏ trên đỉnh trần đá, ngước nhìn ra bầu trời đêm sườn tây. Sương mù dày đặc đang cuộn trào quanh vách đá Ma Hạc Nhai, từng đợt gió lạnh rít lên từng hồi u uất qua rãnh quặng sắt rỉ đỏ.
Đêm nay, trăng non bị mây đen che khuất hoàn toàn. Đó là thời khắc hoàn hảo nhất để hắn vượt qua góc chết của cấm chế sơn môn.
Cố Trường Sinh khẽ nhắm mắt, vận chuyển Hoang Thảo Quyết. Luồng Mộc linh khí lập tức nghịch hành vào Lạc mạch, nhịp tim hắn hạ xuống, toàn bộ khí tức Luyện Khí tầng một biến mất không còn một vết tích, biến hắn thành một bóng đen vô tri vô giác hòa vào bóng tối của căn phòng đá.
Hắn nhẹ nhàng tháo then cài cửa gỗ, lách người ra hành lang vắng ngắt như một bóng ma.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.