Chương 9: Cổ Điện Tàng Ý.
Quyển 1: Chương 9: Cổ Điện Tàng Ý.
Nguyên Phục chống tay ngồi dậy, lưng tựa vào thành giường, sắc mặt tuy vẫn nhợt nhạt, nhưng thần sắc đã ổn định hơn nhiều. Viên đan dược của Trịnh Thanh Nghi quả nhiên không phải vật tầm thường. Chân khí trong cơ thể hắn tuy vẫn chưa hoàn toàn ổn định, song đã không còn nguy hiểm tính mạng.
Chỉ là, lời đề nghị của Trịnh Thanh Nghi như một tảng đá ném vào mặt hồ phẳng lặng. Có thể suy đoán của hai người là sai, nhưng có một điểm Trịnh Thanh Nghi nói rất chính xác. Giang hồ này là một vũng bùn lớn, một khi đã dẫm chân vào, muốn rút ra sạch sẽ là chuyện không tưởng. Nhất là khi danh tiếng càng lớn, càng khó lội qua vũng bùn này.
Huyết Khí vượt cấp chém ngược Chân Khí trên giang hồ không phải không có, nhưng giết ma đạo cự phách lại là một chuyện khác. Nguyên Phục khẽ siết chặt nắm tay, cảm nhận luồng chân khí cuộn trào với ý cảnh Nộ vẫn còn đang âm ỉ trong kinh mạch. Hắn không xem chuyện mình nổi danh là vinh quang, chẳng qua đó là một bản án tử hình treo lơ lửng trên đầu mà thôi.
"Được."
Nguyên Phục trầm giọng.
"Ta đi cùng tiểu thư. Nhưng thật lòng mà nói, ta kinh mạch tổn thương, dù bước vào Chân Khí cảnh mười phần công lực may ra cũng chỉ phát huy được sáu thành. Chuyến đi này hung hiểm, ta cũng không chắc mình có theo hay không kịp bước chân tiểu thư. Vậy nên, ta có ba điều kiện.”
Trịnh Thanh Nghi khẽ mỉm cười, nụ cười hiếm hoi khiến ánh sáng ban mai càng trở nên chói mắt:
"Chuyện đó có chi khó đâu. Công tử cứu Trịnh Gia trong nguy nan, một viên đan dược khó bày đặt lòng cảm tạ. Công tử cứ việc nói ra, chỉ cần yêu cầu không trái đạo nghĩa giang hồ là được.”
Nguyên Phục thấy nàng đã nói đến phân thượng này, cũng không khách sáo:
“Thứ nhất, tại hạ gia cảnh khốn khó. Từ khi học võ đến nay chưa biết đan dược mùi vị như thế nào. Vậy nên, muốn ta cùng tiểu thư điều tra, thù lao chính là đan dược.”
Trịnh Thanh Nghi không cần nghĩ ngợi, lập tức gật đầu đồng ý, nói:
“Không khó, chưa cần nói tới Trấn Nhạc Môn. Ngay cả Trịnh Gia cũng tích trữ không ít đan dược hỗ trợ tu luyện. Chỉ là công tử thương thế chưa lành, phải đợi ta cầu được Thanh Linh đan chữa khỏi hoàn toàn mới nên phục dụng.”
Nguyên Phục lại tiếp:
“Thứ hai là binh khí! Tại hạ tuy có võ công quyền cước, nhưng thực lực tám phần lại nằm ở đao pháp. Bách luyện binh khí sớm đã không chịu nổi tại hạ kình lực, cần một thanh bảo đao thuận tay.”
Trịnh Thanh Nghi nghe xong có chút trầm tư, lát sau chợt nói:
“Công tử xin chờ một chút.”
Nói rồi không để hắn kịp phản ứng, liền quay người rời đi. Khoảng tầm nửa nén nhang thời gian, trong tay nàng cầm theo một chiếc hộp gỗ dài chừng ba thước, bề mặt mang theo những vết cháy xém loang lổ, tựa như từng bị lửa dữ thiêu đốt qua vô số lần, song kỳ lạ ở chỗ, những vết cháy ấy không làm tổn hại kết cấu, trái lại còn khiến lớp gỗ càng thêm cứng rắn, đường vân càng hiện rõ, uốn lượn như long xà ẩn hiện.
Dưới ánh sáng ban mai, từng thớ gỗ ánh lên sắc đỏ sậm mơ hồ, như than hồng đã nguội. Điều kỳ lạ là từ khi Trịnh Thanh Nghi cầm theo vật này bước vào phòng, Nguyên Phục có thể cảm nhận được một cỗ ấm áp nhàn nhạt tỏa ra từ thân hộp.
Hắn khẽ nhíu mày, trong lòng thoáng chút chờ mong. Hộp gỗ này đã bất phàm như thế, vật chứa bên trong hiển nhiên cũng không phải tầm thường. Chỉ thấy, Trịnh Thanh Nghi nhẹ nhàng đặt hộp xuống bàn, đầu ngón tay khẽ lướt qua mặt gỗ, giọng nói bình tĩnh mà mang theo vài phần trịnh trọng:
“Gỗ này sinh trưởng nơi núi cao hiểm trở, thường xuyên bị thiên lôi đánh trúng. Trải qua năm tháng bị lửa thiêu mà không tàn, sét đánh mà không tán, ngược lại hấp thụ lôi hỏa chi lực, kết thành linh mộc. Mệnh danh là Lôi Hoả Mộc.”
Nàng dừng lại một nhịp, ánh mắt thoáng lướt qua Nguyên Phục, rồi tiếp:
“Bên trong… là thứ mà công tử cần.”
Nói rồi nàng mở nắp hộp. Chỉ nghe cạch một tiếng trầm thấp, nắp hộp vừa hé, một luồng nhiệt khí bỗng chốc lan ra, như đổ thêm dầu vào ngọn lửa đang âm ỉ khiến bừng cháy lên. Không khí trong phòng chợt rung nhẹ, những ngọn nến vốn đã tắt lịm từ lúc nào, lúc này lại phụt một tiếng, đồng loạt bùng cháy, ánh lửa lay động không yên. Bên trong hộp, một thanh trường đao lặng lẽ nằm đó.
Đao dài chừng bốn thước, sống đao dày nặng, lưỡi đao hơi cong về phía trước, toàn thân đen bóng như mực, lốm đốm những vân bạc, lấp lánh mờ ảo, như tinh quang rơi rụng giữa đêm sâu. Chưa cần chạm vào, đã có thể cảm nhận được một cỗ khí tức nội liễm, không lộ phong mang, nhưng ẩn ẩn lại khiến người ta sinh ra cảm giác khó lòng coi nhẹ.
"Đây là Hoả Ngân Đao, được rèn từ thiên ngoại vẫn thiết. Là binh khí mà Quốc Công dùng thời còn trẻ. Năm đại ca ta tròn mười tám, được Quốc Công tặng lại xem như quà trưởng thành.”
“Đao này không phải thần binh, chỉ được xem như lợi khí. Điều quý nhất không nằm ở bản thân thanh đao, mà nó từng được đệ nhất binh gia sử dụng qua. Phải biết, võ công của Quốc Công không cao, nhưng tâm cảnh trong giang hồ này không có địch thủ.”
Dừng một chút lấy hơi, nàng lại tiếp
“Đáng tiếc, đại ca ta không theo nghiệp binh gia, đối với bảo đao này vô duyên.”
Ánh mắt nàng chuyển sang Nguyên Phục, trở nên nghiêm túc hơn:
“Ngược lại công tử mặc dù tu hành Tâm Cảnh Võ Học, khẩu quyết chữ Nộ lại rất dễ lầm đường ma đạo. Ý cảnh trong thanh đao này, tuy không đề thăng chiến lực. Nhưng… phần nào đó có thể giúp công tử kiềm chế cơn giận bản thân, giữ lại chút thanh minh cuối cùng.”
Nói rồi nàng đóng lại hộp gỗ, nhẹ đẩy về phía hắn. Nguyên Phục không vì có được bảo đao mà lộ vẻ vui mừng, cũng không vì lời cảnh tỉnh mà dao động. Hắn chỉ khẽ nhìn lướt qua thanh đao một cái, rồi thu ánh mắt lại, thần sắc vẫn bình thản như cũ.
Một lát sau, hắn mới chậm rãi lên tiếng:
“Điều kiện thứ ba… nói khó thì không hẳn, mà nói dễ cũng chưa chắc đã đơn giản.”
Hắn dừng lại một nhịp, như đang cân nhắc từng chữ, rồi tiếp:
“Chuyện lần này, hai người chúng ta cùng tra xét. Có thể lần ra kẻ đứng sau, cũng có thể cuối cùng vẫn là một màn sương mù. Nếu tìm được thì không cần nói nhiều…”
Giọng hắn trầm xuống, nhưng lại rõ ràng từng chữ:
“Chỉ là… nếu không tìm ra.”
Ánh mắt Nguyên Phục lúc này hơi hạ xuống, nhưng trong đó lại ẩn ẩn một tia kiên quyết:
“Ta muốn tiểu thư bảo đảm một việc.”
Trịnh Thanh Nghi không nói gì, chỉ lặng lặng nhìn hắn. Nguyên Phục nói:
“Hồng Thiên Võ Quán… không được liên lụy vào vũng nước đục này.”
Trong phòng thoáng chốc yên tĩnh lại. Hắn khẽ siết ngón tay, giọng nói vẫn bình tĩnh, nhưng thấp thoáng một tầng nặng nề khó nhận ra:
“Ta từ nhỏ lang bạt, được thu nhận vào võ quán, mới có chỗ dung thân. Sư phụ, sư huynh… đối đãi với ta không khác gì người nhà. Ta chết, cùng lắm chỉ là số mệnh. Nhưng bọn họ… không có lý do gì phải thay ta gánh hậu quả.”
Dường như cảm nhận được Nộ Ý trong từng lời nói của hắn, Trịnh Thanh Nghi trịnh trọng gật đầu, đáp:
“Không cần đợi điều tra xong, ta sẽ ngay lập tức an bài. Nếu như cử người bảo hộ bọn hắn, rất dễ bị ánh mắt xung quanh để ý tới. Vậy nên, ta sẽ lấy cho công tử một danh phận giả, từ nay trở đi công tử cùng Hồng Thiên Võ Quán lại không có liên hệ gì.”
Nói đến đây, để hắn thêm yên tâm, Trịnh Thanh Nghi lại nói tiếp:
“Công tử yên tâm, những hộ viện biết rõ công tử thân phận chân thật đều đã thiệt mạng dưới tay đám người kia. Bây giờ nắm rõ thông tin, chỉ có hai người là tiểu nữ cùng thân phụ mà thôi.”
Ba điều kiện đều được nàng đáp ứng rất thoải mái, Nguyên Phục cũng không còn yêu cầu gì thêm, chỉ nói:
“Nếu đã vậy, bao giờ chúng ta xuất phát?”
Trịnh Thanh Nghi ngoảnh mặt nhìn sắc trời, ước lượng thời gian xong đáp:
“Ba ngày sau công tử thương thế hẳn cũng không còn đáng ngại. Tiểu nữ sẽ chuẩn bị ba cỗ xe ngựa phía sau hậu viện, hai cái làm nghi binh chạy về cổng phía đông và nam, chúng ta ngồi xe còn lại chạy cổng Tây. Mặc dù phía tây phải đi thêm trăm dặm đường, nhưng đám người kia chắc là sẽ không nghĩ đến.”
Nguyên Phục nghĩ thầm trong bụng, nếu đám tặc nhân kia đã dám dẫn người đến đồ sát Trịnh Phủ. Chỉ là kế nghi binh làm sao cắt đuôi nổi? Nhưng lúc này hắn cũng không có kế sách hay hơn, đành gật đầu theo ý nàng.
—
Ba ngày trôi qua rất nhanh.
Trong ba ngày ấy, Nguyên Phục không hề cưỡng ép tu luyện, chỉ điều dưỡng thân thể, cố gắng ổn định chân khí. Trịnh Thanh Nghi cũng không nhàn rỗi, một mặt xử lý hậu sự trong phủ, một mặt âm thầm dò hỏi tin tức.
Đến tối ngày thứ ba, hai người theo kế đã định rời khỏi Trịnh phủ. Trời tối nhập nhèm, đường phố tuy không cấm đi lại ban đêm nhưng vẫn vắng hoe người. Nguyên Phục khoác một chiếc áo choàng đơn giản, sau lưng đeo Hoả Ngân Đao. Trịnh Thanh Nghi đứng bên cạnh, bạch y như cũ, trường kiếm đeo bên hông.
Không rõ vì thất bại lần trước hay nguyên do gì, hai người khởi hành cực kỳ thuận lợi. Từ Vân Lâm Thành đến Quảng Minh Thành khoảng chừng hai trăm dặm, xuất phát từ của tây phải vòng qua hai ngọn núi, tổng cả thảy ba trăm dặm. Nếu đi xe ngựa cũng mất bốn ngày.
Nhưng hai người đi từ đêm hôm trước đến trưa ngày hôm sau vẫn không thấy truy binh hay sát thủ phục kích. Mắt thấy thời tiết nóng nực, Trịnh Thanh Nghi đề nghị nghỉ ngơi dưỡng sức. Lại đi thêm một quãng, thấy phía trước là chân núi, phong cảnh đẹp đẽ lạ thường. Mặt núi hướng sông, núi tuy cao mà không dốc, sông tuy sâu mà chẳng đục, đất không rộng nhưng bằng phẳng, rừng không lớn nhưng rậm rạp. Cây cối xanh tươi um tùm, ngắm mãi mà không chán.
Nguyên Phục nhìn ngẩn người một lúc, lại chú ý giữa sườn núi có điện thờ, bèn hỏi:
“Nơi này thật đẹp, không biết núi sông có tên hay không? Lại có điện thờ giữa núi, không biết là thờ phụng lộ thần tiên nào?”
Trịnh Thanh Nghi đáp:
“Núi gọi Ngọc Đái Sơn, sông tên Lam Thuỷ. Điện thờ kia thờ phụng một vị võ đế, danh hào Hắc Đế.”
Nói rồi nàng trầm tư suy nghĩ trong chốc lát, dường như đang sắp xếp ngôn ngữ. Mãi lâu sau mới nói:
“Đại ca ta từng đi qua nơi này, tìm hiểu truyền thuyết Hắc Đế. Tức cảnh sinh tình có làm một bài thơ.”
Nói rồi ngâm lên:
“Núi cao vạn nhận nhập vân thanh
Lam Thủy thiên thu vọng đế danh
Hàn vi khởi thế thân thành nghiệp
Chinh chiến kinh niên huyết nhuộm thành
Bắc địa binh qua thiêu sử tịch
Nam thiên cổ tích tán dư thanh
Giang sơn nhất thống thành hư ảnh
Chỉ hữu bia tàn ký Hắc danh.”
Nguyên Phục từ khi tới thế giới này chưa có một phút giây nào ngơi nghỉ, đều đang lăn lộn kiếm sống. Đối với anh hùng thiên hạ, lịch sử triều đại không tìm tòi nghiên cứu. Nay nghe được có một vị đế vương được thờ phụng ở đây thì tò mò lắm:
“Tiểu thư kiến thức uyên bác, trong lúc rảnh rỗi có thể hay không kể ta nghe truyền thuyết vị Hắc Đế này?”
Trịnh Thanh Nghi nhìn về phía điện thờ lưng chừng núi, giọng nói chậm rãi, như chỉ thuận miệng nhắc lại một câu chuyện cũ.
“Vị Hắc Đế này… trong sách sử vốn có ghi lại rõ ràng, nhưng phương Bắc sợ Hắc Đế danh vọng. Sau khi ngài chết liền phái trọng bình xâm lấn nước ta, lại thiêu sạch sử tịch. Mãi sau này Thánh Tông lên ngôi dẹp loạn tứ phương, cho người sưu tầm lại sách sử mới khôi phục được phần nào.”
Nói rồi ánh mắt nàng toát ra chút kiêu ngạo, tiếp lời:
“Ta đại ca Trịnh Quang Minh, chính là người được Thánh Tông giao phó, chuyên đi tìm hiểu dân gian truyền miệng. Vị Hắc Đế này cũng là đại ca dùng một năm thời gian mày mò, mới tìm lại được điện thờ.”
Nguyên Phục nghe nàng luyên tha luyên thuyên một hồi lâu mà chưa tới trọng điểm, trên đầu nổi hắc tuyến, nói:
“Rốt cuộc vị Hắc Đế này lai lịch ra sao?”
Trịnh Thanh Nghi dường như biết mình nói hơi luyên thuyên, mặt đỏ rần lên như táo chín, ánh mắt hơi gắt liếc nhìn Nguyên Phục, nhẹ giọng đáp:
“Thuở loạn thế, chiến hỏa liên miên, dân chúng lầm than, phương Bắc thiết kỵ dẫm đạp sơn hà. Hắc Đế sinh ra bên cạnh Lam Thuỷ, từ nhỏ phơi nắng dầm mưa, lấy săn bắn, đốn củi mà sống, quanh năm da dẻ sạm đen.”
Nàng dừng lại một nhịp, ánh mắt khẽ chuyển:
“Mắt thấy cảnh dân chúng khổ cực, ngoại địch hoành hành, Hắc Đế đứng ra tụ tập dân chúng, dần dần thành một toán nghĩa binh. Ban đầu chỉ là vài chục người, sau đó trăm người, rồi ngàn người. Đánh một trận thắng một trận, đánh cho phương Bắc khiếp đảm.”
Gió từ phía sông thổi lên, mang theo hơi nước mát lạnh.
“Nghe nói mỗi lần ra trận, Hắc Đế luôn luôn xung phong đi đầu. Áo giáp đơn sơ, mặt mũi đen sạm, cầm một cây nhạn anh thương tung hoành vô địch. Giữa khói lửa chiến trường, nhìn vào chẳng khác gì than đen.”
“Người phương Bắc nhiều lần giao chiến, thấy người này mặt mày đen sạm, bèn gọi là… Hắc tướng quân! Danh xưng ấy ban đầu chỉ là cách gọi miệt thị. Nhưng càng về sau, mỗi lần nghe đến cái tên Hắc tướng quân, quân địch đều kinh hồn bạt vía.”
“Tiểu nữ không thông binh pháp, nhưng nghe Quốc Công rất kính trọng vị Hắc Đế này. Nói là thiên tài dùng binh trăm năm có một. Đến khi cục diện xoay chuyển, ngoại tộc bị đánh lui, thiên hạ dần yên,dân chúng tôn ông lên làm đế, danh hiệu Hắc Đế.”
Nàng nhìn về phía điện thờ, khẽ nói:
“Tiếc là sách sử mất đi, lại không rõ tên ngài là gì.”
Hai người men theo con đường đá uốn lượn, từng bậc từng bậc dẫn lên sườn núi. Đường không dài, nhưng quanh co khúc khuỷu, cây cối hai bên che phủ, ánh sáng ban ngày lọt xuống chỉ còn lốm đốm như những mảnh vụn.
Càng lên cao, không khí càng trở nên tĩnh mịch.
Gió thổi qua tán lá, phát ra âm thanh xào xạc, hòa cùng tiếng nước Lam Thủy phía dưới vọng lên, tạo thành một thứ âm hưởng trầm thấp, kéo dài không dứt.
Chưa đến nửa khắc, trước mắt hai người đã hiện ra một tòa điện thờ.
Ngôi điện không lớn, tường đá đã nhuốm màu thời gian, mái ngói cũ kỹ, vài chỗ rêu phong phủ kín. Trước điện có một khoảng sân nhỏ lát đá xanh, hai bên trồng tùng bách, thân cây già cỗi, cành lá xum xuê, đứng đó tựa như những lão nhân canh giữ nơi này qua bao nhiêu năm tháng.
Cánh cửa gỗ khép hờ, bên trên treo một tấm biển đã bạc màu, chỉ còn lờ mờ hai chữ Hắc Đế.
Nguyên Phục đứng trước cổng điện, ánh mắt khẽ lướt qua, trong lòng không hiểu sao lại sinh ra một cảm giác khó tả. Hai người vừa bước vào trong sân, liền thấy một lão nhân đang quét lá.
Lão mặc áo vải thô, màu xám bạc đã sờn cũ, tóc bạc trắng, buộc đơn giản sau gáy. Tay cầm chổi tre, từng nhịp quét đều đặn, động tác không nhanh không chậm, nhưng lại có một loại tiết tấu ổn định khó nói thành lời.
Nghe tiếng bước chân, lão dừng lại, ngẩng đầu nhìn hai người.
Ánh mắt lão không sắc bén, cũng không đục ngầu như người già bình thường, mà toát ra một vẻ trầm lắng nhưng không phải do năm tháng, mà là ý cảnh.
Nguyên Phục trong vô thức bàn tay sờ vào chuôi đao, ánh mắt trở nên sắc bén cực kỳ. Lão nhân này không đơn giản!
Trịnh Thanh Nghi cũng giống như hắn, nhưng nàng lại không có vẻ xung động như vậy, mà khẽ chắp tay, thi lễ:
“Xin hỏi lão trượng, người là thủ từ nơi này sao?”
Lão nhân gật đầu, giọng khàn mà chậm:
“Giữ điện mà thôi, không dám nhận hai chữ thủ từ.”
Trịnh Thanh Nghi lại hỏi:
“Chúng ta đi ngang qua đây, thấy điện thờ Hắc Đế, nên muốn vào thắp nén hương, không biết có tiện không?”
Lão nhân đặt chổi sang một bên, chậm rãi đáp:
“Điện thờ vốn không cấm người, hai vị xin cứ tự nhiên.”
Nói rồi, lão quay người, đi về phía cửa chính, đưa tay đẩy nhẹ. Cánh cửa gỗ phát ra một tiếng kẽo kẹt trầm đục, chậm rãi mở ra. Bên trong điện không rộng, ánh sáng có phần u ám. Chính giữa đặt một bệ thờ bằng đá, trên đó là một pho tượng.
Pho tượng không cao lớn, cũng không chạm trổ tinh xảo. Người trong tượng mặc giáp đơn sơ, tay cầm trường thương, đứng thẳng như núi. Khuôn mặt không rõ nét, chỉ có thể thấy đường nét thô ráp, đặc biệt là phần da mặt được tạc sậm màu hơn bình thường, nhìn vào tưởng chừng như một người nông dân phơi nắng phơi sương chỉ vì miếng cơm manh áo.
Không có khí thế uy nghi lẫm liệt, cũng không có thần thái siêu phàm thoát tục. Nhưng càng nhìn lâu, lại càng khiến người ta sinh ra một loại cảm giác khó tả; như thể người này từng đứng giữa thiên quân vạn mã, không cần lời nói, cũng đủ khiến kẻ địch lui bước.
Trịnh Thanh Nghi bước lên trước, lấy ba nén hương, châm lửa, rồi cung kính cúi đầu hành lễ.
Nguyên Phục đứng lặng trước pho tượng Hắc Đế, ánh mắt không rời. Hắn không nghiên cứu lịch sử, cũng không biết vị Hắc Đế này rốt cuộc là người như thế nào.
Nhưng không hiểu vì sao, khi đứng trước pho tượng này, trong lòng lại có chút tĩnh lại. Nguyên Phục cũng học theo Trịnh Thanh Nghi cung kính cắm hương bái lễ, ánh mắt từ đầu chí cuối vẫn dừng trên pho tượng.
Lát lâu sau, Nguyên Phục dời đi ánh mắt, quay lại hỏi lão giả:
“Xin hỏi lão tiên sinh, người nào đã tạc tượng Hắc Đế?”
Lão thủ từ chậm rãi nói:
“Trước đây cũng có một cậu trai trẻ từng ghé qua tìm hiểu Hắc Đế, xưng là người Triều đình phục hồi sách sử, cũng hỏi lão một câu y như vậy. Đáng tiếc, lão là người đến sau, không rõ điều này.”
Lão dừng lại một chút, rồi tiếp:
“Thiếu niên, nhìn bức tượng này có cảm tưởng gì?”
Khói hương lững lờ bay lên, từng vòng từng vòng xoay nhẹ không tan, mà tụ lại trước mặt tượng, rồi chậm rãi lan ra, tựa như có một quỹ tích vô hình dẫn dắt. Không biết từ khi nào, hắn đã nhắm mắt lại, lẩm bẩm đáp:
“Giận! Một cỗ tức giận khó tả.”
Lão nhân nghe xong, hai mắt bắn ra tinh quang sáng chói, gấp gáp hỏi lại:
“Ngoài tức giận ra, còn có gì nữa không?”
Nguyên Phục vẫn nhắm mắt, nhẹ nói:
“Trong giận có ái. Vì ái mà giận.”
Trịnh Thanh Nghi đứng bên nghe hai người nói chuyện, cũng âm thầm cảm nhận bức tượng. Nhưng ngoài gió lạnh siu siu ra thì không cảm giác được gì.
Chợt nghe lão nhân cười lên ha hả, nói lớn:
“Hay! Hay lắm. Tâm hệ thương sinh, nộ khởi bất bình. Nộ phi vì kỷ, chỉ trảm cường nhân. Thấy loạn không lui, gặp ác tất tiến. Nhất đao định thế, hộ tận lê dân.”
Nguyên Phục ngẩn người, hắn rốt cuộc cũng hiểu. Vì sao bức tượng này lại phát ra ý cảnh Ái cùng Nộ.
Ái là ái dân thương sinh. Nộ là nộ trảm bất bình.
Hai loại ý cảnh này chính là Hắc Đế tâm cảnh. Không biết bị người nào dùng thủ đoạn thông thiên phong ấn vào trong tượng đá. Chỉ khi người nào mang đủ hai loại ý cảnh Ái cùng Nộ mới có thể kích phát.
Nguyên Phục trước đây được Trịnh Thanh Nghi chữa thương, trong cơ thể còn lưu một chút Ái ý cảnh. Kết hợp với Nộ của hắn. Trong lúc vô tình cảm nhận được luồng ý cảnh từ bức tượng.
Trong đan điền, chân khí vốn tán loạn bỗng bị dẫn dắt, tựa dòng nước tìm được lòng sông, lặng lẽ quy tụ. Khoảnh khắc ấy, trước mắt Nguyên Phục dường như không còn là điện thờ cũ kỹ, mà là một chiến trường mịt mù khói lửa.
Một thân ảnh đứng giữa vạn quân. Dù trước mặt là thiết kỵ trùng trùng vẫn không hề chùn bước, vì sau lưng chính là dân sinh trăm họ.
Nguyên Phục trong lòng chấn động. Ầm! Một tiếng trầm đục vang lên trong cơ thể hắn. Chân khí vốn rời rạc, trong khoảnh khắc ấy đột nhiên tụ lại, xoay chuyển, hình thành một vòng tuần hoàn rõ rệt. Kinh mạch bị thương đang được ý cảnh uẩn dưỡng, dần dần hồi phục.
Nguyên Phục mở bừng mắt. Trong đáy mắt nổi lên huyết sắc, nhưng không còn hỗn loạn như trước, mà ẩn ẩn mang theo một tầng thanh minh. Hắn hít sâu một hơi. Bây giờ không cần Thanh Linh đan hắn cũng có thể tự chữa thương kinh mạch. Nộ Thiên Tâm Kinh giống như bước lên một cảnh giới cao hơn, dù hắn không biết nên gọi nó là gì.
Nguyên Phục đứng đó rất lâu, không nói một lời. Trịnh Thanh Nghi đứng bên cạnh, cảm nhận được khí tức của hắn biến hóa, trong lòng kinh hãi, nhưng lại không dám lên tiếng quấy nhiễu.
Nguyên Phục cảm nhận cơ thể thay đổi rõ rệt, ám thương tưởng chừng như mất mấy tháng bỗng chốc tan biến hết cả. Hắn quay lại nhìn lão thủ từ một lúc, rồi trịnh trọng chắp tay, nói:
“Đa tạ.”
Lão nhân không còn vẻ lãnh đạm như trước, nhiệt tình nói:
“Thiếu niên, hai ta hữu duyên. Có hay không nguyện ý cùng lão phu ở đây trông miếu?”
Nguyên Phục mỉm cười, lễ phép nói:
“Nơi đây sơn thanh thuỷ tú, thực sự thích hợp ẩn cư. Nhưng tiểu tử đã nhận lời giúp người, không tiện thất hứa. Nếu sau này không chốn dung thân, nguyện trở về cùng tiền bối tại nơi đây thủ từ.”
Lão nhân cũng không cưỡng cầu, gật đầu nói:
“Người tuổi trẻ, cũng nên xông xáo giang hồ, không uổng một thân bản sự. Sau này chơi chán, cửa miếu này luôn luôn rộng mở chờ tiểu hữu trở về.”
Nói rồi, lão nhân lấy từ trong tay áo ra một cuốn sách đưa qua:
“Lão chỉ có một môn công tâm pháp, nhưng tụ tập cả đời sở học. Binh pháp dạy, binh quý tinh mà không quý đa, tiểu hữu xin nhận lấy.”
Nguyên Phục nâng hai tay, thận trọng đón lấy, cúi thấp người xuống, nói:
“Đa tạ lão tiền bối ưu ái.”
Cuốn sách vào tay, hắn chưa kịp mở ra, đã cảm nhận được một cỗ khí tức nặng trầm, không giống một cuốn bí tịch bình thường, mà tựa như ẩn chứa một đoạn lịch sử dài đằng đẵng.
Lão thủ từ nhìn hắn, ánh mắt lúc này đã khác hẳn ban đầu, không còn là vẻ trầm lặng vô danh. Giọng lão chậm rãi:
“Nộ từ tâm sinh, giữ mà không phát. Cái đó gọi là Dĩ Ái dưỡng tâm, dĩ tĩnh tàng nộ. Nộ tích bất phát, phát tất đoạn tuyệt.”
Nguyên Phục khẽ giật mình, lập tức hiểu ý, liền gật đầu:
“Tiểu tử ghi nhớ.”
Lão nhân khẽ ừ một tiếng, rồi quay đầu nhìn về phía pho tượng Hắc Đế. Một lúc lâu sau, mới chậm rãi nói:
“Bao nhiêu năm rồi… cuối cùng cũng gặp người hữu duyên.”
Không biết câu nói ấy là nói với hắn, hay nói với chính mình.
Gió từ cửa điện thổi vào, khói hương lay động, bóng tượng chập chờn, tựa như trong khoảnh khắc, người trong tượng kia… thật sự đang nhìn xuống thế gian. Hắn không nói thêm gì, chỉ cúi đầu một lần nữa, rồi quay người bước ra ngoài điện.
Trịnh Thanh Nghi theo sát phía sau, ánh mắt nhiều lần nhìn hắn, nhưng lại không hỏi. Nàng biết đây chính là cơ duyên của Nguyên Phục.
Hai người rời khỏi điện thờ. Ánh nắng ngoài sân đã ngả về chiều, xuyên qua tán tùng bách, rơi xuống từng vệt dài trên nền đá. Mọi thứ… dường như không có gì thay đổi.
Gió sông Lam Thủy thổi qua, cuốn theo lá khô bay lượn. Trong điện thờ, lão thủ từ đứng một mình, ánh mắt nhìn về pho tượng. Rất lâu. Rất lâu sau, lão mới khẽ thở ra một hơi:
“Bệ hạ… cuối cùng lão cũng đợi được người hữu duyên rồi.”
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.