Chương 12: Đêm Không Lưu Dấu
Đêm đó, cách Thanh Hà Trấn tám mươi dặm, Hôi Lô Trấn mưa rất lớn.
Mưa xối xuống những mái ngói đen ngòm, trào qua máng nước mục nát rồi rơi xuống con ngõ hẹp phía sau Thực Cốt Đường thành từng dòng đục ngầu. Ánh đèn lồng trước cửa đường khẩu bị gió giật liên hồi, hắt ra thứ ánh sáng đỏ quạch như một con mắt đẫm máu sắp tắt.
Một gã nam tử áo xám ôm khư khư chiếc hộp gỗ trong ngực, lảo đảo chạy thục mạng qua màn mưa dày đặc.
Hắn thở dốc, lồng ngực phập phồng như bễ rèn, gương mặt trắng bệch vặn vẹo vì sợ hãi. Lớp bùn nhão dưới chân bắn tung tóe theo từng bước giẫm đạp điên cuồng. Máu từ vết chém lật thịt ở cánh tay trái rỉ xuống, vừa chạm đất đã bị nước mưa cuốn đi thành một vệt đỏ mỏng tanh.
Sau lưng hắn, con ngõ sâu hun hút tĩnh lặng đến rợn người.
Yên tĩnh đến mức đáng sợ, không có tiếng quát tháo truy bắt, không có tiếng binh khí va chạm, chỉ có tiếng mưa... nhưng gã áo xám biết, bọn họ vẫn ở phía sau.
Những kẻ mặc áo đen ấy không đuổi theo con mồi như người thường. Bọn họ giống như bóng tối của đêm mưa, vô thanh vô tức. Ngươi càng cắm đầu chạy, lại càng cảm thấy mình chỉ đang tuyệt vọng lao sâu hơn vào trong cái bóng của họ.
Thực Cốt Đường không phải thế lực lớn.
Ở Hôi Lô Trấn, bọn chúng khoác lớp áo thương nhân cổ vật, thu mua đồ vớt từ sông, bán vài món Uẩn Khí cấp thấp cho đám tu sĩ tán loạn nhưng sau lớp cửa gỗ đóng kín kia, chúng dùng cổ vật nhiễm oán niệm để luyện tà pháp, bắt kẻ lang thang, phu bến không nơi nương tựa và trẻ mồ côi thử Uẩn Khí bẩn.
Những kẻ bị đưa vào cửa sau Thực Cốt Đường, mười người thì có chín người không bước ra nữa. Người còn lại bước ra cũng không còn giống người. Vậy mà đêm nay, đường khẩu vốn khiến người trong trấn nghe tên đã cúi đầu tránh xa ấy lại yên tĩnh như một ngôi mộ vừa được đào sẵn.
Gã áo xám rẽ gập vào một ngõ cụt, tưởng chừng đã cắt đuôi được tử thần.
Nhưng khi vừa ngẩng đầu lên, bước chân hắn khựng lại, đồng tử co rút kịch liệt. Cách đó mười bước, một bóng áo đen đã đứng chờ sẵn dưới mái hiên tự bao giờ, nước mưa nhỏ xuống lách tách.
Kẻ đó mặc hắc y bó gọn, bên ngoài phủ một lớp áo choàng đen dài quá gối. Áo choàng đen không chỉ che thân, mà còn phủ lấp cả hành nang đeo sau lưng, khiến cả bóng người trong màn mưa trông như một mảng tối liền khối, không lộ nửa phần sơ hở.
Hành nang kia ép sát sống lưng, làm bằng da đen đã qua xử lý chống ẩm. Miệng túi buộc bằng dây da mảnh, gọn gàng đến mức dù người đó di chuyển trong mưa cũng không phát ra chút âm thanh va chạm nào. Loại hành nang ấy không giống túi đồ của lữ khách. Nó quá gọn, quá thực dụng, giống thứ chỉ những kẻ thường xuyên hành quân trong đêm, truy sát trong mưa và vá thương ngay giữa đường mới mang theo.
Từ sống mũi xuống đến cằm, hắn đeo một lớp bán diện tráo màu đen, gọn mà kín, chỉ để lộ đôi mắt hẹp dài lạnh lẽo như băng dưới đáy giếng. Mưa lớn như vậy, vạt áo hắn vẫn tĩnh lặng buông thõng, tuyệt nhiên không dính nửa vệt bùn.
Bên hông trái hắn treo một khối lệnh bài đen mờ.
Dạ bài.
Lệnh bài dài vừa một bàn tay nhỏ, mép bo tròn, mỏng mà nặng. Nó được đúc từ ô huyền thiết pha ô kim, mặt bài không phản sáng nhưng trong màn mưa lại có thứ sắc lạnh âm trầm như xương thép chôn dưới đất lâu năm. Mặt trước khắc chìm một chữ “Dạ” theo lối cổ triện, rãnh chữ ánh lên màu ngân xám lạnh lẽo. Mặt sau là ba đường nguyệt khuyết văn mảnh như móng tay, nông sâu rõ ràng.
Tam nguyệt khuyết.
Trong hệ thống của những kẻ áo đen này, đó tuyệt đối không phải hạng tầm thường.
“Các ngươi rốt cuộc là ai?” Gã áo xám gào lên, giọng vỡ vụn vì tuyệt vọng. Hắn giơ chiếc hộp gỗ lên cao. “Ta đã giao đồ rồi! Ta không giữ thứ đó nữa!”
Nam tử áo đen chậm rãi bước lên một bước.
Giọng hắn trầm và thấp, hòa vào tiếng mưa nhưng lại rõ mồn một bên tai: “Giữ hay không, không quan trọng.”
Hắn dừng lại: “Quan trọng là... ngươi từng đọc nó.”
Gã áo xám run rẩy, lùi lại đụng lưng vào bức tường đá lạnh ngắt: “Chỉ là một dòng chữ không nguyên vẹn! Chỉ là một mảnh cổ vật vớt từ dưới sông lên thôi mà!”
Nam tử áo đen không dừng bước, ánh mắt không gợn lấy một tia thương hại: “Có những chữ từ lúc bắt đầu... đã không nên đọc thành tiếng.”
Gã áo xám gào lên một tiếng, xoay người muốn lao qua hắn... nhưng trong màn mưa, bóng đen trước mặt bỗng nhòe đi.
Không phải biến mất.
Mà là quá nhanh, quá gọn khiến mắt người không kịp bắt lấy.
Một vệt đen lướt qua màn mưa.
“Tóp.”
Chiếc hộp gỗ rơi xuống vũng nước, phát ra một tiếng đục ngắt.
Gã áo xám từ từ khuỵu gối. Hai tay hắn ôm lấy cổ họng... nhưng không có âm thanh nào thoát ra được nữa. Máu ồ ạt tuôn ra, bị nước mưa lạnh lẽo gột thành một đường rãnh đỏ mỏng manh chảy thẳng xuống cống.
Nam tử áo đen khom người nhặt chiếc hộp gỗ lên. Hắn không mở ra ngay.
Một bóng áo đen khác lặng lẽ xuất hiện phía sau hắn. Người này tóc buộc cao, bán diện tráo che kín dưới mắt, Dạ bài bên hông chỉ có một đường nguyệt khuyết. Người đó thấp giọng hỏi: “Còn ba người trốn về hướng bến cũ trấn Thanh Hà.”
Nam tử áo đen mở hộp gỗ. Bên trong là một mảnh gốm vỡ, màu men xám xỉn, trên mặt có nửa vòng hoa văn nước xoáy. Dưới đáy hộp còn kẹp một mảnh giấy ngả vàng, nét chữ bị nước ẩm làm nhòe mất một nửa.
Chỉ còn đọc được hai chữ: Bất lưu.
Ánh mắt nam tử áo đen lạnh hơn: “Không để lại người đã xem qua nó.”
Người kia cúi đầu: “Rõ.”
Mưa rơi càng lớn.
Từng bóng áo đen tách ra khỏi màn đêm, lướt qua mái hiên, ngõ hẹp, tường đá và bóng cây, nhẹ đến mức như chưa từng đặt chân xuống đất. Áo choàng đen phủ qua hành nang sau lưng, trong gió mưa chỉ để lại những đường tà áo tối sẫm thoáng hiện rồi biến mất.
Có người của Thực Cốt Đường trốn trong chum nước sau bếp. Nắp chum vừa hé ra, một bàn tay đeo găng đen đã ấn xuống.
Không tiếng la.
Có kẻ chui vào kho củi, nín thở đến đỏ mắt.
Khoảnh khắc hắn tưởng mình sống sót, một lưỡi dao mỏng đã đặt ngang gáy.
Có gã hộ pháp Thực Cốt Đường liều mạng phá cửa sau, toàn thân quấn đầy Uẩn Khí đỏ sậm, định dùng cổ vật tà môn mở đường máu. Nhưng hắn vừa lao ra khỏi cửa đã thấy trước mặt có ba người áo đen đứng thành hình bán nguyệt.
Không ai nói một lời.
Một người vung tay.
Một người chặn đường.
Người còn lại chỉ điểm nhẹ vào giữa ngực gã hộ pháp. Uẩn Khí đỏ sậm quanh người hắn lập tức khựng lại như ngọn lửa bị ai bóp tắt. Gã hộ pháp trợn mắt, chưa kịp gầm lên đã ngã khuỵu xuống vũng bùn.
Đèn lồng trong Thực Cốt Đường lần lượt tắt.
Một chiếc.
Hai chiếc.
Ba chiếc.
Đến canh ba, cả đường khẩu chỉ còn tiếng mưa rơi.
Sáng hôm sau, người Hôi Lô Trấn phát hiện tấm bảng hiệu Thực Cốt Đường vẫn còn treo đó. Chén trà trên bàn trong đại sảnh vẫn còn đó. Sổ sách vẫn nằm ngay ngắn trên án. Bình phong vẫn sạch sẽ, những món cổ vật không liên quan vẫn còn nguyên.... nhưng không ai biết người bên trong hoặc đã chết hoặc biến mất.
Không có tiếng cầu cứu.
Không có dấu chân lộn xộn.
Không có vết đánh nhau kéo dài.
Thứ duy nhất khiến người đến sau cảm thấy bất thường nằm ở gian trong cùng của Thực Cốt Đường.
Trên bức tường đá phía sau án thờ cổ vật vốn có đặt một mảnh thạch phiến xám xanh. Theo lời người trong trấn, Thực Cốt Đường gần đây xem thứ ấy như bảo vật, ngày đêm cho người canh giữ.
Nhưng sáng hôm đó, thạch phiến đã biến mất.
Trên tường chỉ còn lại bốn vết móc sắt trống không và một vùng bụi sạch hình chữ nhật, rõ ràng từng có vật gì treo ở đó rất lâu. Dưới chân tường rơi lả tả vài mảnh vụn đá mỏng như vảy cá, mép cắt phẳng lì, giống như phần chữ khắc trên thạch phiến đã bị người ta dùng lưỡi dao cực sắc cạo đi trước khi mang vật ấy rời khỏi hiện trường.
Một gã học đồ sống sót vì trốn dưới hầm rác sau bếp run rẩy kể rằng, trước khi đêm mưa ấy ập xuống, trên thạch phiến hình như có một hàng chữ cổ. Hắn không nhận ra toàn bộ, chỉ từng nghe đường chủ lẩm bẩm hai chữ: Bất lưu.
Lời đồn mọc cánh, chỉ đến xế chiều hôm sau đã bay tới tận trấn Thanh Hà.
Dân buôn bán tụ tập ở chợ, phu bến nghỉ tay uống nước, khách qua đường tấp vào tửu quán, đi đến đâu cũng nghe người ta thì thầm to nhỏ.
Kẻ bảo Thực Cốt Đường dính phải cổ vật oán khí nặng, bị quỷ sông hiện hồn đòi mạng. Người bảo bọn chúng ăn chặn hàng của một thế lực lớn nên bị diệt khẩu. Có tiêu sư đi ngang qua Hôi Lô Trấn sáng hôm ấy khẳng định chắc nịch: hung thủ mặc áo đen, đi trong mưa mà áo không ướt, hiện trường không lưu lại một dấu chân, ngay cả nét chữ trên tường cũng bị cạo sạch.
Còn có người nói, những kẻ áo đen ấy trên mặt đều đeo diện tráo che nửa khuôn mặt, bên hông treo lệnh bài khắc chữ “Dạ”. Chỉ cần liếc thấy một cái, người ta đã cảm thấy như bị đêm tối nhìn chằm chằm.
Tin tức lọt vào Lục phủ, ba đứa trẻ họ Lục phản ứng vô cùng mãnh liệt. Tiểu Bảo sợ đến mức làm rơi cả miếng bánh nếp đang ăn dở: “Giết sạch cả một đường khẩu chỉ trong một đêm? Vậy... bọn họ có phải là đại ác nhân không?”
Hoài An thì siết chặt hai bàn tay quấn băng trắng, đôi mắt thiếu niên ánh lên một tia phức tạp: “Dù là ác nhân nhưng có thể một đêm lặng lẽ lật tung cả một thế lực như vậy... thật sự rất mạnh.”
Thanh Nghi nhíu chặt đôi mày thanh tú. Nàng nhìn sang vị tiên sinh đang tựa lưng vào cột hiên lật lật cuốn sổ, hỏi: “Tiên sinh, loại người đó... rốt cuộc thuộc cảnh giới nào?”
Tuệ Lâm không ngẩng đầu lên. Đầu ngón tay hắn khẽ xoay tràng hạt trên chuỗi trầm hương đen tuyền nơi cổ tay. Chuỗi hạt hôm nay dường như lạnh hơn bình thường một chút.
Hắn nhàn nhạt đáp: “Mạnh hay yếu không chỉ nhìn vào việc giết được bao nhiêu người. Có kẻ mạnh vì cứu được người, cũng có kẻ mạnh vì làm xong việc mà không để thiên hạ biết mình đã làm gì.”
Tiểu Bảo nuốt nước bọt: “Vậy bọn họ là loại nào?”
Tuệ Lâm lật thêm một trang sổ: “Loại tốt nhất là đừng gặp khi bụng đói.”
Ba đứa trẻ: “...”
Tuệ Lâm gấp cuốn sổ lại, vươn vai ngáp một cái.
“Đi thôi.”
Thanh Nghi ngẩn ra: “Đi đâu?”
“Tửu lâu.”
“Lúc này?”
“Ừ.” Tuệ Lâm nói rất nghiêm túc: “Các ngươi đang bị lời đồn dọa cho mặt mũi trắng bệch, muốn mạnh thì trước hết bao tử phải đầy. Đói bụng thì không thể đột phá được.”
Nghe đến ăn, Tiểu Bảo lập tức quên mất một nửa nỗi sợ ác nhân: “Tiên sinh muôn năm!”
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.