Chương 6: Người Đưa Thư Không Đầu
Sáng hôm sau, sương mù trên sông Triệu Giang vẫn chưa chịu
tan hết. Lớp sương dày đặc, đục ngầu như sữa đặc bảng lảng quấn lấy những mái
ngói rêu phong, len lỏi qua từng con ngõ nhỏ của kinh thành Đại Đô, biến mọi cảnh
vật trở nên mờ ảo, quạnh quẽ đến rợn người. Tại nhà xác âm u của phủ nha, không
khí ảm đạm và lạnh lẽo bao trùm. Thi thể không đầu vớt được từ chiếc thuyền hoa
đêm qua được đặt nằm cống hiến trên bục đá nghiệm thi, những giọt nước sông lẫn
máu thâm đen vẫn tí tách nhỏ xuống nền nhà thành những tiếng tỏm... tỏm...
đều đặn giữa không gian im phăng phắc.
Sau một hồi dùng kẹp sắt kiểm tra thẻ bài bằng đồng dính
đầy máu và bùn đất tìm thấy bên hông nạn nhân, quan phủ Kỳ Tán tái mét mặt mày.
Đôi bàn tay ông run rẩy khiến chiếc thẻ bài va vào nhau kêu leng keng, giọng
nói lạc đi vì kinh hãi: “Không thể nào... Kẻ chết lại chính là người đưa thư mật
của phủ quan chúng ta. Hôm qua ta vừa mật phái hắn đi chuyển một công văn khẩn
cấp, sao có thể...”
Lanh không nao núng, cô đeo găng tay vải thô, tỉ mỉ dùng
kéo cắt lớp áo vải bị nước sông ngâm đến trương phình của nạn nhân. Từ một chiếc
túi bí mật được may lót vô cùng tinh vi bằng chỉ tơ tằm ở lớp áo trong cùng, cô
rút ra một mảnh giấy da dê được bọc kỹ lưỡng trong một lớp da thú chống nước.
“Đại nhân, nhìn này. Hắn không phải bị giết cướp của.
Hung thủ truy sát hắn vì thứ khác, hoặc giả đã bỏ sót thứ này trong lúc vội vã
phi tang xác.” – Lanh vừa nói vừa giao mảnh giấy còn vương mùi nước sông tanh nồng
cho Thanh.
Thanh đón lấy, cẩn thận trải mảnh bản đồ da dê lên chiếc
bàn gỗ gụ cũ kỹ. Dưới ánh sáng vàng vọt, tù mù của ngọn đèn dầu, những đường mực
tơ tằm cổ xưa vẽ nên các nét ngoằn ngoèo, phức tạp như một ma trận. Điểm bắt đầu
là một góc khuất của phủ nha, kéo dài qua các dãy phố cổ rồi đâm thẳng tới vùng
núi đá hiểm trở phía Nam, ngay sát vách tường bao cao vút của Trịnh Phủ.
Lanh ghé sát ngọn đèn bão, ngón tay thon dài chỉ vào một
ký hiệu hình một chữ thập ngầm được vẽ bằng mực đỏ tươi ẩn giữa những lùm cây
trên bản đồ: “Đây là ký hiệu đánh dấu mật đạo của các kỹ sư công trình hoàng
gia thời trước.”
Kỳ Tán cau mày sâu hoắm, chắp tay sau lưng đi đi lại lại
trên nền đất ẩm, những chiếc bóng loang loáng kéo dài trên tường vôi: “Trịnh Phủ
có mật đạo sao? Ta trị vì Đại Đô mười năm nay, lính canh Trịnh gia dày đặc như
nêm, chưa từng nghe đến việc có đường ngầm thông ra ngoài núi.”
Anh Mo đứng bên cạnh, tay vẫn cầm chiếc bút lông định ghi
chép nhưng cứ run bần bật, mặt cắt không còn một giọt máu. Gã lắp bắp chen vào,
giọng sực mùi rượu nếp: “Bẩm... bẩm đại nhân, hạ quan khi lục tìm các văn thư cổ
trong kho tư liệu bám đầy bụi bặm của tiền triều, từng nghe phong thanh một lời
đồn ma quái. Rằng dưới lòng đất phía Nam Đại Đô có một hệ thống đường ngầm kiên
cố xây từ thời chiến tranh loạn lạc trăm năm trước, dùng để triều đình di tản
khi thất thủ.”
Thanh ngước mắt lên, ánh nhìn sắc lẹm như xoáy vào tâm
can gã thư sinh : “Ai là người xây dựng nó?”
Mo nuốt khan một ngụm nước bọt, đầu lắc quầy quậy như cầy
sấy: “Không ai biết cả. Nghe nói các thợ xây năm đó đều bị ban rượu độc, bức tử
ngay sau khi công trình hoàn thành để giữ bí mật tuyệt đối. Bản vẽ gốc cũng đã
bị triều đình thiêu hủy.”
Đêm hôm đó, bầu trời Đại Đô đen kịt không một bóng trăng,
những đám mây dày đặc như mực đổ che kín hoàn toàn các vì sao, chỉ còn tiếng
gió hú ghê rợn thổi qua những tán cây cổ thụ. Thanh, Lanh và một nam nhân lạ mặt
bí mật lẻn vào khu rừng rậm rạp phía Nam. Nam nhân đi cùng họ tên là Tuất. Hắn
là một tên trộm vặt khét tiếng trong vùng, có biệt tài bẻ khóa và khinh công
khá tốt, chuyên lẻn vào hậu viện Trịnh Phủ để trộm đồ cổ kiếm ăn nên thông thuộc
từng bụi cây hòn đá nơi đây.
Tuất có dáng người gầy gò, khẳng khiu như bộ xương khô, mặc
bộ quần áo vải thô màu xám tro để dễ bề lẩn trốn trong đêm. Lúc này, hắn đang
run rẩy cầm chiếc đèn bão được che bớt ánh sáng bằng một tà áo, răng đánh vào
nhau lập cập: “Thám tử đại nhân... ta nói trước, ta chỉ dẫn các vị đến vị trí
mà ta từng thấy lính canh Trịnh gia hay lảng vảng thôi nhé... Lát nữa vào trong
có gặp ma không đầu hay quỷ sa tăng thì đừng có gọi tên ta đấy! Đất này linh
thiêng và độc địa lắm...”
Thanh lờ đi lời cằn nhằn của Tuất. Hắn cúi người, gạt những
lớp lá mục thối rữa dưới gốc một cây đa cổ thụ ngàn năm tuổi, nơi những rễ cây
to lớn như những con mãng xà cắm sâu vào lòng đất. Bằng nhãn lực phi thường,
Thanh phát hiện ra một phiến đá lớn có khe hở bất thường, xung quanh cỏ dại được
ngụy trang vô cùng khéo léo. Hắn dùng thanh đoản đao nậy mạnh, phiến đá nặng nề
phát ra tiếng khù khục rồi dịch chuyển sang một bên.
Phù...
Một luồng khí lạnh lẽo, buốt giá mang theo mùi ẩm mốc
long cốt và mùi tanh hôi của lòng đất bốc lên nồng nặc khiến ai nấy đều rùng
mình. Một lối đi tối om với những bậc thang bằng đá thô ráp dẫn sâu xuống lòng
đất hun hút hiện ra trước mắt cả nhóm. Thanh im lặng ra hiệu, tay nâng cao đèn
bão rồi bước xuống trước, bóng hắn chìm dần vào khoảng tối vô tận.
Càng đi sâu xuống dưới, không gian càng rộng ra, biến
thành một hang động tự nhiên khổng lồ. Và rồi, từ cự ly xa sâu bên trong lòng đất,
những thanh âm rì rầm của tiếng người nói chuyện xen lẫn tiếng kim loại va chạm
leng keng bắt đầu vọng lại, phá tan cái tĩnh mịch, ma quái của màn đêm dưới
lòng đất.
Được yêu thích bởi: Công Bằng
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.