Vấn Hồng Trần

Chương 2: Bước Chân Vào Hồng Trần

Đăng: 06/06/2026 00:08 2,158 từ 3 lượt đọc

Hoàn thành toàn bộ di nguyện của sư phụ, thiếu niên dựng một tấm bia mộ bằng gỗ đơn sơ, cắm ngay nơi ông gửi lại nắm xương tàn. Hắn ngồi thẫn thờ bên ngôi mộ suốt ba ngày đêm, mặc cho sương xuống lạnh vai. Đến ngày thứ tư, khi giọt nước mắt cuối cùng đã hong khô, hắn mới đứng dậy, dứt khoát quay lưng lên đường. Thực chất, hắn cũng chẳng biết tương lai nằm ở ngả nào, nên đành chọn tiếp tục cất bước về hướng Nam.

Hành trang sư phụ để lại chỉ vỏn vẹn trong một chiếc túi vải nhỏ được xếp gọn gàng: một bộ quần áo cũ, bộ đạo bào “trân quý của sư phụ” cần đưa về sư môn, một cây rìu nhỏ găm bên hông, mấy sợi dây câu, một túi bánh ngô khô khốc, cùng ba khối bạc vụn và ít đồng tiền lẻ.

Đây là toàn bộ gia sản mà hai thầy trò tích góp suốt bao năm qua. Bình thường sư phụ dè xẻn từng cắc, chẳng nỡ tiêu pha, giờ đây lại để lại tất cả cho hắn. Suốt dọc đường trước kia, họ chủ yếu sống bằng nghề hái thảo dược, bẫy vài con thú nhỏ hoặc bắt cá dưới suối để đổi lấy lương thực, cuộc sống chưa bao giờ biết đến hai chữ dư giả. Thiếu niên vốn không có khái niệm rõ ràng về tiền bạc, hắn chỉ lờ mờ nhớ rằng: một chiếc bánh nướng bình thường giá năm đồng; ngủ lại khách điếm một đêm tốn cả khối bạc vụn; còn một bộ quần áo mới tinh cũng phải mất mấy lượng bạc.

Nhắc đến quần áo, đạo bào của sư môn lại càng là thứ xa xỉ. Cách đây vài năm, sư phụ từng định mua cho hắn một bộ đạo bào nhỏ, nhưng bộ rẻ nhất tiệm cũng hét giá hơn bốn lượng bạc. Lúc ấy, ông chỉ đành ngậm ngùi mua cho hắn một bộ đồ thô phổ thông của con nhà nông — bộ đồ hắn vẫn đang mặc trên người đến tận bây giờ. Còn bản thân sư phụ, từ ngày hắn biết bám đuôi ông, ông cũng chỉ thay đổi đúng hai bộ đạo bào. Qua bao năm tháng dầm mưa dãi nắng, chúng đã phai màu nghiêm trọng, sờn cũ kỹ, nhưng may mắn là vẫn chưa rách miếng nào.

Theo những gì thiếu niên nhận biết, thế giới này tương đối bình yên, hoặc có lẽ là do hắn chưa từng chạm tới những góc tối nhem nhuốc của nó. Người dân ở đây chất phác, ngày ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời, chủ yếu đi bộ để trao đổi vật dụng với các làng xóm lân cận. Nhà nào giàu có lắm mới sắm nổi chiếc xe bò, xe trâu, thường tụ họp thành từng đoàn để đi về trong ngày hoặc vài ngày. Trước đây, hai thầy trò hắn thường bám theo các đoàn xe này để vừa đổi chác đồ đạc, vừa dò hỏi đường sá. Riêng xe ngựa thì cực kỳ hiếm thấy. Mỗi khi có chiếc xe ngựa nào bụi mù phi qua, hay có người cưỡi ngựa lướt ngang, dân làng đều lộ rõ vẻ kính nể, tự giác dạt ra xa để giữ khoảng cách.

Trước mắt, với kinh nghiệm hơn mười năm lội suối trèo đèo, "hái hoa bắt bướm" cùng sư phụ, thiếu niên đã trang bị cho mình những kỹ năng sinh tồn không tệ: bắt cá, đặt bẫy, bắn chim... nhìn chung là không sợ chết đói. Thế nhưng thực tế ở bìa rừng, chim chuột rắn rết tuy nhiều nhưng chúng cực kỳ tinh ranh, chạy nhanh như gió. Trông mong vào việc bẫy được chúng thì thà đi đào nấm, hái măng rừng còn chắc dạ hơn. Hắn tính toán dọc đường sẽ hái thêm rau dại, thảo dược để đổi lấy chút lương thực, giống như cách mà hai thầy trò vẫn hay làm.

Nghĩ đến đây, hắn chợt thở dài khi nhận ra: "bí kíp truyền thừa" của nghề đạo sĩ trong hắn căn bản là một con số không tròn trĩnh. Sư phụ mang danh đạo sĩ, nhưng suốt mười mấy năm qua, hắn chưa từng thấy ông thi triển chút bản lĩnh thần thông nào, hoặc giả là chưa có cơ hội để ông ra tay. Đôi lúc hắn còn hoài nghi không biết sư phụ mình là chân nhân đắc đạo hay chỉ là một ông thầy bói dạo.

Tuy vậy, bảo sư phụ không dạy gì thì cũng không đúng. Ông bắt hắn luyện hít thở và ngồi thiền mỗi ngày. Tác dụng thần kỳ thế nào thì hắn chịu, chỉ biết mỗi lần nhập định, hắn cứ mở mắt ra là... trời đã sáng bạch. Nhưng bù lại, việc này giúp hắn khôi phục thể lực cực nhanh, xua tan mọi mỏi mệt sau một ngày dài di chuyển, thế nên hắn luyện tập đến mức vô cùng thuần thục.

Về phần võ công phòng thân, sư phụ có một thanh kiếm gỗ nhưng chưa bao giờ rút ra, lúc nào cũng treo lủng lẳng sau lưng, và trong buổi hỏa táng hôm ấy, nó đã hóa thành tro bụi cùng thể xác của ông. Thiếu niên nghĩ bụng, sau này có dịp cũng phải kiếm một thanh kiếm gỗ đeo chơi, làm màu một chút trông cũng không tệ.

Thực ra, bản lĩnh lớn nhất mà sư phụ truyền lại cho hắn chính là... chạy. Cách vận lực, tư thế đặt chân, phối hợp nhịp nhàng với hơi thở nhập định — tất cả biến hắn thành một mũi tên xé gió, có khi chó săn chạy cũng không đuổi kịp. Đúng như lời sư phụ răn dạy: "Chỉ cần giữ đủ khoảng cách, mọi nguy hiểm trên đời đều có thể hóa giải."Tính xác thực của câu nói này thế nào, có lẽ phải đợi hắn tự thân thử nghiệm mới rõ.

Đi bộ đến giữa trưa, thiếu niên bắt gặp một ngôi làng nhỏ ven đường. Không còn sư phụ dẫn lối, việc một mình băng rừng vượt núi khiến hắn có chút bất an. Nhớ lời ông dặn "không được đi quá xa nơi có người", hắn quyết định vào làng hỏi đường cho chắc chắn.

Theo lời người dân, cứ dọc theo hướng này hơn mười cây số về phía Tây sẽ gặp một con quan đạo lớn dẫn thẳng xuống phương Nam. Hỏi đường xong, hắn lễ phép cảm ơn rồi vội vã lên đường, vừa để tránh trời tối, vừa tranh thủ dọc đường kiếm cái gì bỏ vào bụng.

Đường sá thời này phát triển hơn hắn nghĩ. Con đường được lát bằng một loại đá màu đỏ ngả nâu vững chãi, bề ngang rộng rãi, đủ cho bốn năm người dàn hàng ngang bước đi. Trên đường, từng nhóm dân làng dắt theo xe bò đang ngược chiều trở về, có lẽ họ đã vãn phiên chợ sớm, trên xe lỉnh kỉnh những vật phẩm vừa trao đổi xong.

Hơn một canh giờ sau, thiếu niên cuối cùng cũng đặt chân đến giao lộ quan đạo. Xung quanh người xe tấp nập, tiếng rao hàng, mặc cả vang lên rộn rã. Khung cảnh náo nhiệt này khiến một đứa trẻ quanh năm ở trong rừng như hắn có chút choáng ngợp. Hắn tấp vào một quán nhỏ ven đường, gọi một bát mì nóng để lót dạ.

Lúc này, cái khó của việc đi một mình mới thực sự hiện rõ. Sáng giờ hắn chỉ kiếm được ít măng rừng, vài con cua đá cùng nắm trái cây dại, đổi ra tiền chẳng đáng mấy đồng, ăn vào thì chỉ tổ "nhét kẽ răng". Số sản vật đó hắn vẫn chung thủy để trong gùi, vừa ăn mì vừa trầm ngâm tính toán: số tiền mang theo quá ít, nếu cứ tiêu pha ăn uống kiểu này thì chẳng mấy chốc sẽ sạch túi.

Còn về lý do tại sao lại hoang phí ăn một bát mì thịt lúc này? Đó là vì sư phụ từng dạy: "Lúc nào cũng phải giữ cơ thể ở trạng thái tốt nhất để đề phòng bất trắc. Tuyệt đối không được nhịn đói để dành tiền, vì khi nguy hiểm ập đến, cái bụng rỗng sẽ không cho con đủ sức để chạy đâu."

“ Tiểu huynh đệ, sao lại ngồi ăn một mình thế này? Ta ngồi cùng có được không?”

Một giọng nói cắt ngang dòng suy nghĩ của hắn. Một gã thanh niên bước đến, nở nụ cười vô cùng thân thiện.

"Vô sự hiến ân cần, phi gian tức đạo."


Lời răn của sư phụ như một dòng nước mát chạy dọc sống lưng, đánh thức sự cảnh giác của thiếu niên. Hắn nuốt vội sợi mì, lập tức bày ra vẻ mặt ngây ngô, rụt rè đáp:

“ Dạ, ta đi cùng sư phụ đến đây. Người đang đi mua ít đồ đạc nên bảo ta ngồi ăn mì đợi. Không biết vị đại ca này là...?”

Gã thanh niên nghe thấy chữ "sư phụ" thì ánh mắt khẽ lóe lên, nhưng nụ cười trên môi vẫn không đổi:

“ À, ta là Lý Tứ, làm nghề "cò" ở khu vực này. Nếu ngươi cần tìm nguồn hàng, bán đồ, hay kiếm xe ngựa, tìm khách điếm nghỉ ngơi... ta đều có thể hỗ trợ từ A đến Z. Ta thấy tiểu huynh đệ ngồi một mình, dáng vẻ lại giống người từ trên núi mới xuống bán hàng, nên mới có ý tốt hỏi thăm xem có giúp được gì không thôi.”

“ Đa tạ Lý đại ca. Ta ăn xong là đi tìm sư phụ ngay rồi, chắc không cần phiền đến huynh đâu ạ. Cảm ơn huynh nhiều.”

“ Thôi được rồi, không cần khách khí. Sau này có việc gì cứ đến khu này hô tên Lý Tứ là có người chỉ. Tạm biệt huynh đệ!”

Nhìn bóng lưng Lý Tứ rời đi, thiếu niên thầm toát mồ hôi hột. Qua vài câu thăm dò ngắn ngủi, hắn nhận ra một sự thật đáng sợ: Ngay từ khoảnh khắc hắn bước chân vào khu chợ này, hắn đã lọt vào tầm ngắm của kẻ khác. Họ liếc mắt một cái liền biết hắn là đứa trẻ từ trong núi ra. Điều này trước đây khi đi cùng sư phụ chưa bao giờ xảy ra. Hắn tự cúi đầu nhìn lại mình, có lẽ bộ quần áo thô kệch và chiếc gùi đầy măng dại đã bán đứng hắn. "Sau này phải cẩn thận hơn mới được," hắn tự nhủ.

Sau khi trả ba đồng tiền mì cho chủ quán, trong túi hắn hiện tại còn đúng hai mươi mốt đồng. Còn ba khối bạc vụn, hắn đã khôn ngoan giấu kỹ ở một nơi khác trên người từ trước, đề phòng trường hợp bị móc túi hay gặp cướp thì không bị mất trắng.

Hắn ngồi lại quán thêm một lúc, giả vờ húp nước mì nhưng ánh mắt lặng lẽ quan sát xung quanh. Quả nhiên, có một nhóm người chuyên đứng ở các góc khuất, đảo mắt như rang lạc để soi xét dòng người qua lại, sau đó tách nhau ra tiếp cận mục tiêu, y hệt gã Lý Tứ lúc nãy.

Hắn cũng phát hiện ra quy luật phân loại của đám "cò" này.

Kiểu thứ nhất: Những người mặc đồ vải ngắn, dắt theo trâu bò hoặc đeo giỏ tre, trông nghèo rách và "quê mùa" như hắn là đông nhất. Nhóm này ít được săn đón, thường chỉ có một hai tên cò lếch thếch tiến đến hỏi han qua loa.

Kiểu thứ hai: Những người đi đơn lẻ hoặc đi thành nhóm hai ba người, nhưng trên lưng đeo binh khí, thần thái sắc lạnh. Nhóm này được đám cò chào đón nhiệt tình và kính cẩn hơn hẳn.

Kiểu cuối cùng: Những thương đội lớn, rầm rộ vài chục người, xe hàng san sát và có hộ vệ vũ trang đi theo bảo vệ. Đây chính là "miếng mồi béo bở" nhất. Mỗi khi có thương đội tiến vào bến, gần như toàn bộ đám cò trong chợ đều ùa ra, tranh giành, chào mời vô cùng náo nhiệt.

Nhìn thấy một thương đội lớn vừa tiến vào quan đạo gây nên một trận hỗn loạn ầm ĩ, mắt thiếu niên sáng lên. Hắn nhanh chóng đứng dậy, lợi dụng lúc đám đông đang chen lấn, xô đẩy nhau, khéo léo nghiêng người hòa vào dòng người tấp nập.

Hình bóng nhỏ nhắn của thiếu niên nhanh chóng chìm khuất vào đại lộ lớn, chính thức đạp những bước chân đầu tiên vào guồng quay của hồng trần đại thế...

0
Ủng hộ tác giả Nam Hoàng Nếu có yêu thích tác phẩm mọi người xin hãy chia sẻ cho bạn bè để cùng lan toả đến cộng đồng nhé...