Vực Oán

Chương 4: Manh Mối

Đăng: 28/06/2026 13:39 1,814 từ 1 lượt đọc

Cơn mCơn mưa rào rả rích kéo dài suốt đêm vẫn chưa dứt hẳn, sương mù xám xịt bao phủ dày đặc khiến tầm nhìn mờ mịt.

Tiếng mõ gõ của Trưởng làng báo hiệu 6:00 sáng vang dội từ đầu đê vọng lại, tiếng gỗ khô khốc gõ cọc... cộc... cộc... như găm thẳng vào thần trí của những kẻ sống sót qua đêm đầu tiên.
Giờ giới nghiêm kết thúc.
Mọi người lục tục kéo nhau ra khỏi các phòng trú ẩn tạm bợ trong làng cổ. Gương mặt ai nấy đều xám xịt, hai mắt trũng sâu đỏ ngầu những tia máu vì mất ngủ, lạnh buốt và nỗi khiếp sợ vô hình rình rập suốt đêm qua.
Họ tập trung dưới cổng làng cũ nát bám đầy rêu phong và bùn đất đỏ ngầu chảy ra từ bờ đê sông Hồng.

“Mẹ kiếp... đau... đau chết tao mất! Chân tao... chân tao sắp đứt lìa rồi!”
Tiếng gào rú đau đớn, thê thảm của Lý Quốc Bảo làm vỡ tan bầu không khí u ám của buổi ban mai.
Gã thợ xây to khỏe trước đây nay đang ngồi gục bên cột cổng làng mục nát, hai tay ôm chặt lấy cổ chân trái co rúm người lại.
Mọi người xúm lại nhìn, rồi đồng loạt thối lui vài bước, sắc mặt trắng bệch ra vì ghê tởm và sợ hãi.
Cổ chân của Bảo bị cào rách một mảng thịt lớn sâu hoắm lộ cả xương trắng bên trong.
Nhưng vết thương không hề chảy máu đỏ như người bình thường, mà rỉ ra thứ dịch nhầy màu đen hôi thối nồng nặc, từng sợi oán khí xám xịt nghi ngút bốc lên từ phần thịt thối rữa loang lổ. Oán khí lan đến đâu, lớp da thịt xung quanh dần chuyển sang màu xám đen như xác chết trôi lâu ngày.

Bác sĩ Phan Thanh Sơn khẽ đẩy gọng kính vàng, cúi người xuống quan sát một cái rồi lập tức đứng thẳng dậy, lắc đầu lạnh lùng:
“Cái này... không phải vết thương thông thường do thú dữ hay vật nhọn gây ra. Y học bình thường vô phương cứu chữa. Oán khí đã ăn vào xương tủy gã rồi, chỉ có thể chờ chết.”
“Mẹ kiếp! Mày là bác sĩ mà không cứu được tao à? Đồ vô dụng!” Bảo trợn mắt gầm gừ đầy điên loạn, định gượng đứng lên nhưng cơn đau nhức nhối kịch liệt khiến gã lập tức ngã quỵ xuống bùn đất, miệng sùi bọt mép rên rỉ liên hồi.
“Đã bảo rồi. Vi phạm quy tắc thì phải tự chịu lấy kết cục.” Lâm Văn Dũng đứng tựa vào bức vách cổng làng ẩm ướt, chiếc Chuông Đồng Báo Oán đeo ở thắt lưng gã lúc này đã hoàn toàn im tiếng. Gã lạnh lùng quét mắt qua nhóm người rồi cất giọng ra lệnh:
“Ban ngày là thời gian duy nhất an toàn để đi tìm manh mối thoát khỏi cái cõi này. Muốn sống thì chia nhóm ra mà điều tra. Tao và một nhóm sẽ đi về căn nhà ngói của Trưởng làng phía Bắc để lục soát. Số còn lại tự chia nhau lục soát mấy căn nhà hoang hoặc bãi sông phía đầu làng.”

“Tại sao bọn tôi phải nghe theo anh sắp xếp?” Lê Minh Hoàng, gã công tử bột ăn mặc đồ hiệu giờ đã lấm lem bùn đất, hất cằm càu nhàu đầy kiêu ngạo dù mặt gã vẫn còn trắng bệch sau vụ suýt chết đuối ở đê tối qua. “Biết đâu anh tìm được đường ra rồi cố tình đẩy bọn tôi đi hướng khác làm bia đỡ đạn? Tôi sẽ tự lên đê tìm đường khác, đéo đi theo ai hết.”
“Tùy.” Dũng liếc gã một cái lạnh tanh, không thèm tranh cãi thêm. “Kẻ ngu thì chết sớm, bớt một miệng ăn.”
Tạ Văn Tài đứng gần đó khạc một bãi đờm xuống vũng nước lũ đỏ lòm, mắt láo liên nhìn cái chuông đồng trên thắt lưng Dũng, lầm bầm đầy vẻ cờ bạc:
“Chia nhóm cũng được, nhưng tìm được đồ cổ hay vật hộ thân gì thì phải chia đều, đừng có cậy là kẻ đi trước mà nuốt hết một mình.”
Mọi người xung quanh bắt đầu xì xào bàn tán đầy nghi kỵ, lòng tham lam và nỗi sợ hãi hòa quyện vào nhau tạo nên một bầu không khí u ám, ngột ngạt.

Gia An đứng bên ngoài đám đông im lặng quan sát. Bàn tay cậu nắm lấy vạt áo khoác của Thùy Chi khẽ siết nhẹ, dắt cô bé quay người đi về hướng con đường đất nhỏ dẫn ra quán nước chè đầu làng, tránh xa cuộc tranh cãi vô bổ và đầy sát khí của đám người.
Con đường đất trơn trượt bám đầy bùn đỏ.
Quán nước chè xanh của Bà Sáu Mù nằm hiu hắt dưới một mái hiên lá cổng làng xơ xác, dường như bị lãng quên bởi thời gian.
Một làn khói ẩm mỏng manh từ bếp than củi nhỏ tỏa ra, lẫn vào màn sương mù xám xịt đang bao phủ toàn bộ làng cổ.
Bên trong quán, bà lão da dẻ nhăn nheo bọc trong bộ quần áo vải thô màu nâu sồng cũ nát. Đôi mắt mù trắng dã đờ đẫn hướng ra ngõ nhỏ. Đôi tay gầy guộc của bà chậm rãi múc thứ nước chè xanh nghi ngút khói vào những chiếc bát sành mẻ cũ kỹ.
Gia An cùng Thùy Chi bước vào dưới mái hiên dột nát, chọn một góc bàn gỗ cũ đặt sát vách đá ong ẩm ướt.
“Cụ ơi, cho chúng cháu hai bát chè ấm.” Gia An lên tiếng, giọng nói bình tĩnh lạ thường giữa cõi chết này.
Người rót nước bỗng nhiên khựng lại.
Đầu bà lão hơi nghiêng, đôi tai khẽ động đậy như đang nghe ngóng thứ gì đó vô hình.
Đôi mắt mù không tròng đột ngột hướng thẳng về phía Gia An.
Bà hít một hơi thật sâu, mũi phập phồng, sắc mặt nhăn nheo bỗng chốc cứng đờ lại.
“Mùi đồng rỉ... lạnh ngắt... tanh mùi oán khí...”
Giọng nói thều thào, khàn khàn run rẩy của bà vang lên giữa làn khói bốc nghi ngút:
“Cậu... mang chiếc khay trầu đồng của dòng họ Lê quay lại rồi sao? Cậu đã mở mật thất rồi sao?”

Gia An khẽ giật mình, chiếc khay trầu đồng trong túi áo khoác bỗng nhiên tỏa ra một luồng khí lạnh nhè nhẹ chạy dọc sống lưng.
“Cụ biết nguồn gốc chiếc khay trầu này?” Gia An ghé sát người hỏi nhỏ, mắt cảnh giác nhìn ra màn sương mù ngoài cửa quán.
Bà Sáu Mù đặt chiếc gáo dừa xuống chậu nước, đôi bàn tay gầy guộc trơ xương chà xát vào nhau run bần bật.
“Nợ máu... Nợ máu phải trả bằng máu... Sông Thần nổi giận đòi người họ Lê... Chiếc khay đồng của oan hồn đã về đòi mạng rồi. Năm xưa họ Lê đã tế sống đứa trẻ câm dưới chân đê để giữ cho đê không vỡ, giờ oan hồn nó hiện về đòi nợ dòng họ đó...”
Bà lão mù cúi thấp đầu, thì thào bằng giọng nói nửa tỉnh nửa điên chứa đầy nỗi khiếp sợ:
“Muốn sống... thì phải mang chiếc khay trầu đồng cổ này trả lại ban thờ tổ họ Lê trong Phủ thờ... Khóa chặt cửa phủ thờ lại, thắp ba nén nhang tạ tội suốt một đêm... Oán khí tiêu tan thì sông thần mới tha cho con đường sống...”

Gia An nheo mắt suy nghĩ.
Trả khay trầu về ban thờ tổ họ Lê và khóa chặt cửa từ đường?
Manh mối này nghe có vẻ hợp lý, nhưng trong lòng cậu dâng lên một dự cảm bất tường vô cùng mãnh liệt.
Phủ thờ họ Lê là nơi tập trung oán khí tích tụ hàng trăm năm của cả dòng họ bị nguyền rủa, nếu tự khóa mình bên trong suốt một đêm dưới sự cấm chế của cõi âm, liệu có thực sự là cách thoát thân, hay đó là tự chui đầu vào rọ làm mồi cho oán linh?
Nhưng hiện tại, đây là manh mối duy nhất họ có được để bắt đầu hành trình phá giải lời nguyền Vực Oán này.
“Phủ thờ họ Lê nằm ở đâu hả cụ?” Thùy Chi rụt rè hỏi nhỏ, đôi mắt nhỏ nhắn đầy vẻ cảnh giác nhìn bà lão.
Bà Sáu Mù khẽ cười khẩy, nụ cười quỷ dị méo mó trên khuôn mặt già nua đầy nếp nhăn.
“Nằm sâu ở ngõ cuối làng. Nhưng nơi đó bị xích sắt quấn chặt, khóa bằng ổ khóa đồng cổ của dòng họ. Chìa khóa chính nằm trong tay Trưởng làng Lê Bá.”
Bà lão mù ngừng một chút, làn khói chè xanh phả lên khiến gương mặt bà càng thêm mờ ảo, ma mị trong căn lều ẩm ướt.
“Nhưng con trai tôi... trước đây nó là người trông coi từ đường... Nó có giữ một chiếc chìa khóa phụ trước khi bị lôi xuống sông.”
“Vậy chìa khóa phụ đó ở đâu?” Gia An nhanh chóng hỏi.
“Nó làm rơi chiếc lược sừng cũ... di vật duy nhất còn sót lại của nó... ngoài triền đê cấm phía Đông trước khi mất tích dưới lòng sông Hồng cuồn cuộn nước đỏ.”
Bà lão run rẩy chỉ cánh tay gầy guộc ra phía triền đê hoang vu bị sương mù che phủ ngoài xa.
“Tìm lại chiếc lược sừng mang về đây cho tôi... tôi sẽ giao chìa khóa phụ cho cậu.”

Triền đê cấm phía Đông.
Mặc dù cấm kỵ của làng cấm bước lên đê sau 18:00 tối, nhưng ban ngày sương mù vẫn dày đặc bao phủ triền đê hoang vắng không một bóng người qua lại.
Nước sông Hồng cuồn cuộn đỏ ngầu dưới chân dốc đứng réo vang ngày đêm, tiếng sóng vỗ rì rầm nghe như tiếng khóc than của hàng vạn vong hồn đang chực chờ lôi kéo người thế mạng dưới sông sâu.
Gia An đứng dưới chân đê, kéo cao cổ áo khoác để cản bớt gió lạnh mang theo mùi bùn tanh tưởi xộc thẳng vào mũi.
“Chi... bám sát anh.”
Cậu dắt Thùy Chi bắt đầu bước từng bước lên dốc đê trơn trượt bám đầy cỏ dại đẫm sương đêm.
Hai bóng người nhỏ bé nhanh chóng bị sương mù xám xịt nuốt chửng hoàn toàn, bắt đầu hành trình tìm kiếm chiếc lược sừng đầy rủi ro mà không hề hay biết những cạm bẫy chết chóc đang rình rập phía trước bờ sông cuồng nộ.

0