Giác Quan 66

Quyển 1: Phần 1 - Hạ: Những Đứa Trẻ Không Có Tên

Chương 1: Đứa Trẻ Sinh Ra Trong Doanh Trại

Đăng: 25/10/2026 21:28 4,851 từ 6 lượt đọc

LỜI DẪN từ tác giả:

Có những tổ chức được thành lập bằng quyết định, có trụ sở, con dấu, biên chế và một cái tên mà người ta có thể tìm thấy trong hồ sơ nhà nước.

Cũng có những tổ chức không cần những thứ ấy.

Trong nhiều năm, ở những nơi chẳng ai để ý, một mạng lưới rất nhỏ âm thầm tìm kiếm những đứa trẻ có vài đặc điểm khác thường. Không nhất thiết là thần đồng. Không cần khỏe nhất, học giỏi nhất hay có trí nhớ tốt nhất. Đôi khi thứ khiến họ dừng lại chỉ là một cách nhìn, một phản ứng xảy ra sớm hơn người khác nửa nhịp, khả năng nhận ra một chi tiết sai giữa hàng trăm thứ hoàn toàn bình thường.

Phần lớn những đứa trẻ ấy rồi cũng lớn lên như bao người khác.

Một số được tiếp tục quan sát.

Rất ít trong số đó được giữ lại.

Không ai đến trước cửa nhà nói rằng chúng đã được lựa chọn. Bố mẹ chúng không ký vào bất kỳ giấy tờ nào. Bản thân những đứa trẻ càng không biết có người đang theo dõi cách chúng học, cách chúng sợ hãi, cách chúng phán đoán, cách chúng đối xử với người khác và cả cách chúng phản ứng khi tin rằng chẳng có ai nhìn mình.

Người ta không vội biến chúng thành thứ gì cả.

Họ để chúng đi học.

Để chúng chơi.

Để chúng phạm sai lầm, yêu một người, ghét một người, thất bại, trưởng thành.

Đôi lúc, một người bảo vệ trường học xuất hiện.

Một bác sĩ.

Một người khách qua đường.

Một cuộc gặp tưởng như tình cờ.

Phần lớn đều thực sự là tình cờ.

Chỉ có một vài lần không phải.

Bởi thứ tổ chức ấy tìm kiếm không phải những đứa trẻ giỏi.

Họ tìm những con người mà nhiều năm sau, trong một tình huống nơi một quyết định chậm vài giây có thể khiến rất nhiều người không trở về, vẫn có khả năng nhìn thấy điều mà tất cả những người còn lại đã bỏ qua.

Không phải đứa trẻ nào được quan sát cũng trở thành một trong số họ.

Và không phải ai trở thành một trong số họ cũng sống đủ lâu để biết vì sao mình được chọn.

Mùa hè năm 1985, trong một bệnh xá nhỏ giữa doanh trại quân đội, một đứa trẻ được sinh ra.

Bố mẹ đặt tên nó là Trần Quốc An.

Họ chỉ mong con mình có một cuộc đời bình an.

Ở một nơi khác, nhiều năm trước khi cậu bé ấy đủ lớn để hiểu thế nào là bí mật, một hồ sơ đã bắt đầu được mở.

Không có tên.

Chỉ có bốn con số:

7647.

Và ở một góc rất nhỏ của hệ thống ấy, có một cái tên hầu như không bao giờ được viết ra.

66.

Xin cám ơn độc giả đã quan tâm đến truyện ngắn này, sau đây truyện ngắn xin bắt đầu vào chương 1.
------


NHỮNG ĐỨA TRẺ KHÔNG CÓ TÊN

“…Anh nghĩ 7647 sẽ đi rất xa. Không phải vì nó đánh giỏi nhất. Có người mạnh hơn nó, bắn chuẩn hơn nó, sức bền tốt hơn nó. Nhưng nó nhìn thấy những thứ người khác hay bỏ qua…”
- Trích thư Lão Ưng gửi vợ

------

Mùa hè năm 1985 nóng đến mức lớp nhựa đường trước cổng doanh trại mềm ra dưới bánh xe tải. Giữa trưa, hàng xà cừ già đứng im phăng phắc, ve kêu đặc quánh trên những vòm lá, từng đợt nối nhau không dứt khiến cả khoảng sân rộng như rung lên trong nắng. Những dãy nhà tập thể quét vôi vàng đóng gần hết cửa. Người lớn tranh thủ ngủ trưa, trẻ con bị lùa vào trong nhà, ngay cả mấy con chó thường ngày vẫn nằm phục dưới gầm xe cũng chỉ lè lưỡi thở, không buồn ngẩng đầu khi có người đi qua.

Ở cuối dãy bệnh xá, một chiếc quạt trần cũ quay lừ đừ trong căn phòng nhỏ. Nó chẳng làm không khí mát hơn bao nhiêu. Cứ ba vòng, ổ trục lại phát ra một tiếng cộc khô khốc, đều đến mức sau một lúc người trong phòng dường như chẳng còn nghe thấy nữa.

Ngoài hành lang, một người đàn ông mặc quân phục đã đi qua đi lại không biết bao nhiêu lần. Trong tay ông là một bao thuốc Tam Đảo bị bóp đến nhàu nhĩ. Ông vốn không hút thuốc, vậy mà cứ một lúc lại rút một điếu ra, xoay giữa hai ngón tay rồi nhét trở lại, giống như cần có thứ gì đó để đôi bàn tay đỡ trở nên thừa thãi. Khi cánh cửa phòng sinh mở ra, ông dừng lại nhanh đến mức gót giày va mạnh xuống nền xi măng.

Cô y tá trẻ kéo khẩu trang xuống, lấy mu bàn tay lau mồ hôi quanh thái dương rồi nói: “Con trai.”

Người đàn ông đứng yên mất vài giây. Hai vai ông từ từ hạ xuống, giống một người vừa nhận ra mình đã nín thở quá lâu. “Vợ tôi?”

“Ổn cả.”

Ông gật đầu liên tục. “Ổn là được.”

Đi được hai bước về phía cửa, ông lại quay lại. Khuôn mặt vốn nghiêm nghị bỗng có chút lúng túng rất không hợp với bộ quân phục đang mặc. “Thằng bé… khỏe chứ?”

Cô y tá bật cười. “Khóc to lắm.”

Lần này ông cũng cười.

Đứa trẻ ấy được đặt tên là Trần Quốc An. Người bố nói chữ An nghĩa là bình an. Không phải cái tên cầu kỳ, cũng chẳng gửi gắm tham vọng lớn lao gì. Sau những năm tháng người lớn đã đi qua quá nhiều chuyện không yên ổn, ông chỉ muốn con trai mình có một đời sống bình thường, học hành tử tế, lớn lên khỏe mạnh, làm một công việc đàng hoàng rồi lập gia đình như bao người khác.

Người mẹ lúc ấy quá mệt để nói nhiều. Chị chỉ nằm nghiêng nhìn đứa bé quấn trong chiếc khăn vải trắng đã giặt đến mềm nhũn. Ngoài cửa sổ, một chiếc xe tải quân sự bất ngờ nổ máy, động cơ diesel rung lên làm những ô kính cũ khẽ run trong khung gỗ. Quốc An giật mình, hai bàn tay nhỏ xíu co lại bên ngực rồi vài giây sau lại ngủ tiếp.

Không ai trong căn phòng ấy biết rằng nhiều năm về sau, chính hai chữ bố mẹ chọn cho nó trong ngày đầu tiên bước vào cuộc đời lại trở thành thứ nó phải mất gần cả đời để tìm lại.

Quốc An lớn lên trong doanh trại. Những ký ức đầu tiên của cậu không phải công viên hay cửa hàng đồ chơi, mà là tiếng kẻng buổi sáng vọng qua những dãy nhà còn đẫm hơi sương, những đôi giày đen được đánh bóng đặt ngay ngắn trước cửa, mùi dầu máy pha lẫn mùi cơm từ nhà ăn tập thể và tiếng radio rè rè vào mỗi tối, khi người lớn phải xoay mãi chiếc ăng-ten mới nghe rõ được giọng phát thanh viên.

Trẻ con trong khu gia đình quân nhân chẳng có nhiều đồ chơi. Chúng chia nhau một quả bóng nhựa đã xẹp, lấy dép làm cầu môn, chơi bi, đánh khăng, nhảy dây hoặc nhặt những đoạn thép phế liệu về chế thành đủ thứ mà người lớn nhìn thấy thường phải quát một trận mới chịu bỏ xuống. Nhà Quốc An không đến mức thiếu ăn nhưng chưa bao giờ dư dả. Bố thường xuyên đi công tác; có những chuyến dài đến mức khi ông về, da mặt sạm đi và râu đã mọc quá phần thường thấy, Quốc An phải đứng nhìn vài giây mới chạy tới. Mẹ cũng là quân nhân. Sáng nào bà cũng dậy trước cả nhà để nấu cơm, giặt quần áo, kiểm tra cặp sách cho con rồi mới vội sang đơn vị.

Cậu quen với cuộc sống ấy đến mức gần như chẳng bao giờ đòi hỏi gì. Đồ chơi thường là những thứ nhặt được quanh khu nhà: một bánh xe cũ, vài đoạn dây đồng, cái công tắc đã hỏng, viên bi thép lấy ra từ ổ trục. Có lần bố mang về cho cậu một chiếc ô tô nhựa màu đỏ. Một tuần sau, ông phát hiện nó nằm thành mười bảy mảnh trên nền nhà.

“Xe đâu?”

Quốc An đang ngồi xổm, ngẩng lên rồi chỉ xuống đất. “Đây ạ.”

“Con phá à?”

“Con tháo ra.”

“Tháo làm gì?”

“Con muốn xem bên trong.”

Người bố nhìn đống bánh răng bé tí nằm quanh đầu gối con trai. “Xem xong chưa?”

“Rồi ạ.”

“Lắp lại được không?”

Lần này Quốc An im lặng. Bố cậu chống hai tay xuống đầu gối, nhíu mày. “Không lắp lại được mà cũng tháo?”

Thằng bé suy nghĩ rất nghiêm túc rồi nói: “Lần sau con sẽ nhớ xem nó nằm thế nào rồi mới tháo.”

Ông định mắng, nhưng cuối cùng lại bật cười.

Khi ấy chẳng ai thấy câu trả lời đó có gì đặc biệt. Trẻ con vốn tò mò; có đứa thích trèo cây, có đứa thích phá đồ chơi, có đứa hỏi những câu mà người lớn chẳng buồn trả lời. Một đứa trẻ ít nói, thích quan sát và thường suy nghĩ lâu trước khi đáp lại cũng không phải chuyện gì đáng lưu tâm. Ít nhất, hầu hết người lớn đều nghĩ vậy.

Năm Quốc An sáu tuổi, mẹ bắt đầu nhận ra một thói quen hơi kỳ lạ. Cậu rất khó ngủ nếu cửa phòng đóng kín, nhưng nếu mở hoàn toàn thì cũng không chịu. Cánh cửa phải hé ra một khoảng vừa đủ.

Một tối, mẹ đứng ngoài cửa hỏi: “Để thế làm gì?”

“Để con nhìn được ngoài kia.”

“Có gì ngoài kia?”

“Không có gì ạ.”

“Không có gì thì nhìn làm gì?”

Quốc An nằm im một lúc. Câu hỏi ấy dường như thực sự khó với cậu. Cuối cùng, cậu nói: “Để con biết là vẫn không có gì.”

Mẹ bật cười. “Lắm chuyện.”

Bà khép cửa lại một chút rồi đi. Chẳng bao lâu, chuyện ấy cũng bị quên. Một đứa trẻ có thói quen ngủ kỳ quặc không phải điều gì đáng nói.

Chỉ có điều rất nhiều năm sau, khi Quốc An đã có thể ngủ trong khoang tàu, trên xe bọc thép, dưới hầm đất hay trên nền bê tông lạnh ngắt, anh vẫn gần như không bao giờ ngủ mà không biết phía sau cánh cửa có gì.

Mùa hè năm cậu bảy tuổi, doanh trại sửa một dãy nhà kho. Xe tải ra vào suốt ngày, chở cát, xi măng, gạch, thép và những đống vật liệu cũ tháo từ các công trình khác về. Trẻ con bị cấm chơi quanh khu ấy. Càng cấm, chúng càng thích tới gần.

Buổi chiều hôm đó oi đến khó chịu. Mây đùn lên ở phía xa nhưng chưa có dấu hiệu mưa. Sáu đứa trẻ đang chơi đuổi nhau bên con đường chạy dọc khu kho, còn Quốc An ngồi xổm dưới gốc xà cừ gần đó, dùng một mẩu thép vạch những ô vuông lộn xộn xuống đất.

Từ phía cổng trong, một chiếc xe tải chạy tới. Xe không nhanh, thùng sau chất những tấm thép cũ, mấy đoạn ống và một bó thanh kim loại dài được giữ bằng dây thừng. Mỗi khi bánh sau rơi xuống ổ gà, đống kim loại lại va vào nhau lanh canh.

Một thằng bé tên Tuấn chạy từ bên kia đường sang.

Quốc An ngẩng đầu.

Sau này không ai biết chính xác cậu đã nhìn thấy thứ gì trước tiên. Có thể là một trong những sợi dây ở bên phải thùng xe rung khác những sợi còn lại. Có thể là đầu một thanh thép đã trượt ra ngoài vài phân. Có thể là tiếng kim loại cọ vào thành thùng kéo dài hơn một nhịp so với độ xóc của xe. Hay có thể là tất cả những thứ ấy cùng lúc.

Cậu đứng bật dậy.

“Tuấn!”

Thằng bé quay đầu.

Quốc An đã chạy. Cậu không gọi lần thứ hai, chỉ lao cả người vào bạn, đẩy nó văng khỏi mặt đường rồi cùng ngã xuống bãi cỏ. Tuấn vừa há miệng định chửi thì một tiếng choang khô khốc vang lên ngay phía sau.

Thanh thép dài gần hai mét trượt khỏi thùng xe, đập mạnh xuống mặt đường rồi nảy thêm một lần trước khi nằm im. Nó rơi đúng chỗ Tuấn vừa chạy qua.

Những người lớn gần khu kho đứng sững. Tài xế đạp phanh, đám trẻ im bặt. Quốc An vẫn nằm đè lên Tuấn, quay đầu nhìn thanh thép đang rung rất nhẹ trên mặt đường nóng. Cậu không khóc. Tuấn thì khóc, một phần vì sợ, phần còn lại vì đầu gối vừa bị đẩy ngã trầy mất một mảng da khá lớn.

Mấy người lính chạy lại. Một người cúi xuống kiểm tra tay chân Quốc An rồi hỏi: “Có đau đâu không?”

Cậu lắc đầu. “Cháu không sao ạ.”

“Cháu thấy thanh sắt rơi à?”

“Lúc ấy nó chưa rơi đâu chú.”

Người lính khựng lại. “Thế sao cháu biết?”

Quốc An chỉ lên thùng xe. “Cháu thấy sợi dây bị lỏng.”

Mấy người đồng loạt ngẩng đầu. Quả thật có một sợi dây đã tụt khỏi nút buộc. Chẳng ai nói gì trong vài giây rồi câu chuyện lập tức chuyển sang việc ai buộc hàng, ai kiểm tra xe, tại sao lại để trẻ con chạy gần khu vực thi công. Quốc An bị kéo về nhà.

Buổi tối, bố biết chuyện. Ông dựng thằng con đứng trước mặt, gương mặt nghiêm đến mức Quốc An không dám nhìn thẳng.

“Ai bảo con chạy ra đường?”

“Không ai bảo con ạ. Con thấy thanh sắt sắp rơi nên con chạy ra kéo Tuấn.”

“Bố hỏi ai bảo con chạy ra đường?”

Cậu cúi đầu thấp hơn. “Không ai ạ.”

“Nếu cái thanh sắt rơi lệch sang chỗ con thì sao?”

Quốc An im lặng. Một lát sau mới đáp: “Con chưa nghĩ đến chuyện đó.”

Người bố nhìn con rất lâu. Cơn giận trên mặt từ từ giảm xuống. “Cứu người là tốt,” ông nói chậm hơn, “nhưng trước khi cứu người phải biết mình đang làm gì.”

“Vâng ạ.”

Quốc An ngẩng lên. Có vẻ câu ấy khiến cậu chú ý hơn tất cả những câu mắng trước đó.

Người bố tưởng con đã hiểu. Ông không biết câu nói ấy sẽ nằm trong đầu Quốc An lâu hơn bản thân ông có thể tưởng tượng.

Cách đó hơn ba trăm mét, trong một căn phòng làm việc nhỏ nhìn ra sân sau, một người đàn ông đặt chén trà xuống. Ông đã ngoài năm mươi, mặc áo sơ mi trắng bỏ trong quần xám, không quân hàm, không phù hiệu. Trên bàn là tờ báo Nhân Dân gấp làm tư, chiếc kính lão, một bình trà nhỏ và cuốn sổ bìa đen.

Người ngồi đối diện nói: “May thôi.”

Ông không đáp.

“Trẻ con thấy dây tuột thì hét. Có gì lạ?”

Người đàn ông nhấc chén trà, nhìn nước đã nguội. “Có.”

“Gì?”

“Nó không nhìn thanh thép.”

“Thì sao?”

“Nó nhìn dây.”

Người kia nhíu mày. Người đàn ông mở cuốn sổ rồi nói tiếp: “Thanh thép chưa rơi. Người lớn đứng gần hơn còn chưa phản ứng.”

“Ông định nói một thằng bé bảy tuổi tính được quỹ đạo à?”

“Không.”

“Vậy là gì?”

Đầu bút máy dừng trên giấy. “Chưa biết.”

Người kia bật cười. “Lại chưa biết.”

“Chưa biết thì theo dõi.”

“Bố mẹ?”

“Không.”

“Đơn vị?”

“Không.”

“Thằng bé?”

Người đàn ông nhìn qua cửa sổ. Ngoài sân, Quốc An đang ngồi bên bậc thềm với Tuấn. Đầu gối thằng bé kia được băng một miếng gạc trắng. Hai đứa đã hết giận nhau và đang bẻ đôi một thanh kẹo lạc.

“Càng không.”

Ông đóng nắp bút.

Tờ giấy trước mặt chỉ có vài dòng. Không tên chương trình, không con dấu, không chữ ký.

Mùa hè tiếp tục trôi qua và chẳng có thêm tai nạn nào. Quốc An lại trở thành một đứa trẻ bình thường. Sáng đi học, chiều đá bóng, tối làm bài dưới ánh đèn huỳnh quang thường chớp vài lần trước khi sáng hẳn. Thi thoảng bị mẹ mắng vì quần áo lấm đất, có hôm bị bố phạt vì nghịch quá trớn. Cậu ghét ăn mỡ, thích trứng rán cháy cạnh, có thể ngủ ngon lành giữa tiếng loa phát thanh của đơn vị nhưng đôi lúc lại mở mắt nếu ngoài hành lang có tiếng bước chân dừng trước cửa lâu hơn bình thường.

Chẳng ai để ý.

Bản thân cậu càng không.

Một tối mất điện, cả khu tập thể mang ghế ra ngoài hóng gió. Người lớn ngồi thành từng nhóm, quạt nan phe phẩy, nói chuyện đơn vị, chuyện chợ búa, chuyện tem phiếu của những năm trước. Trẻ con chạy dưới sân bắt đom đóm. Một chiếc radio dùng pin đặt trên bàn đá phát chương trình thời sự, giọng phát thanh viên lúc rõ lúc mất giữa tiếng ve và tiếng người.

Quốc An ngồi cạnh bố. Ông hỏi: “Không đi chơi à?”

“Lát nữa con đi.”

“Ngồi đây làm gì?”

“Con đang nhìn chú kia.”

Một người đàn ông lạ mặt vừa bước vào. Ông ta mặc sơ mi xanh nhạt, tay cầm chiếc túi vải nhỏ, trông chẳng khác gì người đến tìm người quen. Tới chỗ trực ban, ông ta dừng lại hỏi gì đó rồi được chỉ sang bên phải.

Người bố nhìn theo ánh mắt con. “Biết ai à?”

“Con không biết.”

“Thế nhìn gì?”

Quốc An hơi cau mày. “Con thấy chú ấy vừa hỏi đường tới nhà ăn.”

“Ừ.”

“Nhưng lúc đi qua cổng, chú ấy đã nhìn thấy biển chỉ nhà ăn rồi.”

Bố cậu quay đầu. “Sao con biết?”

“Con thấy chú ấy nhìn cái biển một lúc.”

Cách cổng chưa đầy năm chục mét có một tấm biển lớn sơn chữ trắng chỉ về phía nhà ăn.

“Có khi người ta quên.”

Quốc An nghĩ một lúc rồi gật đầu. “Vâng ạ. Có thể chú ấy quên.”

Cậu quay sang chỗ khác. Bố cũng thôi để ý.

Người đàn ông vừa hỏi đường không đi về phía nhà ăn. Ông rẽ qua một dãy nhà, lấy khăn lau trán, đứng lại vài giây bên gốc cây rồi tiếp tục bước. Không ai trong khu tập thể quan tâm.

Chỉ có một ô cửa ở tầng hai của tòa nhà đối diện khẽ đóng lại.

Ba ngày sau, trong cuốn sổ bìa đen xuất hiện thêm một dòng: Khả năng nhận biết bất nhất trong hành vi? Dấu hỏi được viết rất đậm. Bên dưới là: Chưa kết luận. Tiếp tục quan sát. Tuyệt đối không tác động.

Người đàn ông ngồi trước bàn đọc lại hai lần rồi khép sổ. Người cộng sự đứng dựa cửa hỏi: “Có cần báo lên không?”

“Chưa.”

“Một đứa trẻ thôi.”

“Đúng.”

“Thế ông quan tâm làm gì?”

Người đàn ông tháo kính, lau bằng vạt áo. “Vì nó chưa bao giờ biết chúng ta muốn nó làm gì.”

“Thì sao?”

“Những đứa làm đúng khi biết mình đang bị kiểm tra không hiếm.” Ông đeo kính lại. “Thứ đáng xem là nó làm gì khi nghĩ chẳng có ai nhìn.”

Năm ấy Quốc An bắt đầu vào lớp hai. Buổi sáng mẹ thường dắt chiếc xe đạp Thống Nhất ra khỏi hành lang trước rồi mới gọi cậu xuống. Chiếc cặp da cũ là đồ họ hàng cho lại, mép đã sờn nhưng được mẹ lau rất sạch. Sách vở bọc bằng những tờ lịch cũ, tên được viết ngay ngắn bằng mực xanh.

Trường không xa doanh trại. Quốc An ngồi bàn thứ ba từ dưới lên. Cô giáo chủ nhiệm tên Hương, giọng nhỏ nhưng mỗi khi lớp ồn chỉ cần đứng im nhìn là cả đám dần tự im theo. Quốc An học không phải lúc nào cũng đứng đầu; toán tốt hơn tập làm văn, chữ viết không đẹp, lại hay bị cô nhắc vì làm xong bài quá sớm rồi ngồi nhìn ra cửa sổ.

Có lần cô gọi: “Quốc An.”

Cậu giật mình đứng dậy.

“Em nhìn gì ngoài kia từ nãy đến giờ?”

“Thưa cô, em đang nhìn bác sửa điện.”

Cả lớp cười.

Cô Hương cũng phải nhịn cười. “Bác sửa điện có gì hay hơn bài cô giảng?”

Quốc An ngập ngừng. “Thưa cô… em nghĩ bác ấy không sửa điện ạ.”

Lớp càng cười lớn hơn. Cô Hương gõ thước xuống bàn rồi quay lại hỏi: “Thế em nghĩ bác ấy đang làm gì?”

“Em cũng không biết. Nhưng em thấy bác ấy giống như đang tìm thứ gì đó.”

Lần này đến cô cũng nhìn ra cửa sổ. Bên ngoài là một người đàn ông mặc bộ quần áo công nhân màu xanh đang đứng cạnh cột điện. Ông ta có túi dụng cụ, có thang, thậm chí đang cầm kìm.

“Em biết thế nào được?”

“Vì em thấy bác ấy nhìn cửa các lớp nhiều hơn nhìn dây điện.”

Cô Hương đứng im vài giây rồi chỉ xuống ghế. “Ngồi xuống.”

“Vâng ạ.”

Buổi học tiếp tục. Đến giờ ra chơi, người công nhân đã biến mất. Chiều hôm ấy, hiệu trưởng hỏi bảo vệ xem có đội điện lực nào tới trường không. Không ai biết.

Chuyện cũng chỉ dừng ở đó, ít nhất đối với nhà trường.

Cùng thời gian ấy, ở một nơi Quốc An chưa từng đặt chân tới, một tờ giấy khác được đưa vào chiếc bìa hồ sơ màu nâu. Trên góc phải là bốn con số: 7647. Không họ, không tên, không ảnh, chẳng có gì cho thấy nó thuộc về một đứa trẻ.

Bên dưới, một dòng được viết bằng tay:

Khả năng phát hiện sai lệch môi trường nổi bật. Không được kích thích chủ động ở giai đoạn này.

Một người khác dùng bút chì ghi bên lề:

Quá sớm.

Phía dưới có thêm một dòng trả lời:

Chính vì quá sớm nên mới cần quan sát.

Hồ sơ được đóng lại, đưa vào tủ. Cánh cửa thép khóa.

Không ai nói thêm.

Vài tháng sau, Quốc An bắt đầu để ý tới Bác Bảy, người bảo vệ trường.

Bác khoảng ngoài năm mươi, người gầy, da sạm, tóc bạc nhiều ở hai bên thái dương. Không mấy ai biết tên thật; học sinh chỉ gọi là Bác Bảy vì nghe các thầy cô gọi vậy. Phòng bảo vệ bé, chỉ đủ một chiếc giường gỗ, chiếc bàn uống nước, cái quạt tai voi và một chiếc radio cũ. Trên bàn lúc nào cũng có một bộ cờ tướng.

Giờ trưa, bác thường đánh một mình, tay trái đi quân đỏ, tay phải đi quân đen. Quốc An hay đứng ngoài cửa nhìn. Bác Bảy biết nhưng chẳng bao giờ gọi.

Một hôm trời mưa lớn, học sinh về gần hết. Quốc An phải ngồi chờ mẹ tới đón vì đường ngập. Cậu đứng dưới mái hiên nhìn bàn cờ hồi lâu.

Bác Bảy nhấp một ngụm trà. “Biết đánh không?”

“Cháu chưa biết ạ.”

“Thế nhìn gì?”

“Bác đang tự đánh với bác à?”

“Ừ.”

“Thế bác muốn bên nào thắng?”

Bác Bảy khựng lại. Rồi ông cười.

“Lại đây.”

“Vâng ạ.”

Quốc An bước vào. Mùi chè đặc, áo mưa ẩm và thuốc lào cũ quện trong căn phòng nhỏ. Bác đẩy một quân tốt về phía trước rồi lần lượt chỉ cho cậu từng quân: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã.

Quốc An cầm một quân lên, ngắm mặt chữ. “Bác ơi, quân nào mạnh nhất?”

“Cháu nghĩ con nào?”

“Cháu nghĩ là xe.”

“Vì sao?”

“Vì xe đi được xa.”

Bác Bảy không nói đúng hay sai, chỉ đặt quân cờ trở lại. “Vậy con nào quan trọng nhất?”

“Chắc là tướng ạ.”

“Vì mất tướng là thua?”

“Vâng ạ.”

Bác nhếch miệng cười. “Chưa chắc.”

Quốc An nhìn ông. Bác không giải thích, chỉ xếp lại bàn cờ. “Mai rảnh thì vào.”

“Vâng ạ.”

Đó là ván cờ đầu tiên.

Quốc An thua trong chưa đầy mười phút.

Ngày hôm sau lại thua.

Một tuần sau vẫn thua.

Nhưng Bác Bảy dần nhận ra thằng bé không nhớ nước cờ theo cách những đứa trẻ khác thường nhớ. Nó nhớ lúc nào ông ho, lúc nào ông châm nước, lúc nào bàn tay dừng quá lâu trên một quân.

Một hôm, bác cố tình cầm quân mã rất lâu rồi lại đi một nước khác.

Quốc An lập tức ngẩng lên.

“Sao?” Bác hỏi.

“Bác muốn cháu nghĩ bác định đi quân mã.”

Bàn tay Bác Bảy dừng trên chén trà. “Rồi?”

“Nhưng cháu nghĩ bác không định đi mã.”

“Vì sao?”

“Vì lúc cầm quân mã, bác lại nhìn sang quân pháo.”

Bác Bảy không cười nữa.

Ngoài sân, mưa vừa tạnh. Nước từ mái tôn vẫn nhỏ xuống thành từng giọt đều đặn.

Tách.

Tách.

Tách.

Ông hỏi: “Cháu đánh cờ nhìn quân hay nhìn người?”

Quốc An nghĩ một lúc. “Cháu nhìn cả hai.”

Bác Bảy lắc đầu, chậm rãi rót thêm trà. “Sau này đừng nhìn quân trước.”

Quốc An ngước lên. “Thế cháu nên nhìn gì trước?”

“Nhìn thằng đánh với cháu.”

Câu ấy Quốc An chưa hiểu hết.

Nhưng cậu nhớ.

Tối hôm đó Bác Bảy đạp xe rất xa khỏi trường. Ông không về nhà. Chiếc xe Phượng Hoàng cũ chạy qua mấy con phố, rẽ vào một con ngõ hẹp rồi dừng trước căn nhà không có biển.

Bác dựng xe, phủi nước mưa trên vai áo rồi bước vào. Trong phòng có người đàn ông với cuốn sổ bìa đen.

Hai người nhìn nhau.

“Thế nào?”

Bác Bảy kéo ghế. “Chưa biết.”

Người đàn ông nhướng mày. “Ông cũng nói câu ấy?”

“Cờ mới đánh mười mấy ván.”

“Thua hết?”

“Ừ.”

“Có gì đáng xem?”

Bác Bảy lấy gói thuốc lào ra rồi lại cất đi. “Nó không học nước cờ.”

“Thế học gì?”

“Nó học tôi.”

Trong phòng im lặng.

Một lát sau, người đàn ông mở sổ. “Có tiếp tục không?”

Bác Bảy gật đầu. “Nhưng để tự nhiên.”

“Dĩ nhiên.”

“Đừng cho ai nhồi thứ gì vào đầu nó.”

Người đàn ông nhìn ông. “Ông mềm lòng à?”

Bác Bảy cười nhạt. “Không.”

Rồi ông nhìn ra khoảng sân tối ngoài cửa.

“Nó mới bảy tuổi.”

Đêm ấy Quốc An ngủ rất ngon. Cửa phòng vẫn hé đúng một khoảng nhỏ. Ngoài hành lang có tiếng chân ai đó đi qua, nhưng cậu không tỉnh.

Trên chiếc bàn cạnh giường là một quân cờ bằng gỗ Bác Bảy cho cậu mang về để tập nhớ mặt chữ.

Một quân Tốt.

Nhỏ nhất bàn cờ.

Đi chậm nhất.

Chỉ được tiến.

Không bao giờ được lùi.

Ở một nơi khác trong thành phố, hồ sơ màu nâu vừa được bổ sung thêm một dòng ngắn:

"Đối tượng 7647. Tiếp tục quan sát dài hạn."

Bên dưới là một ký hiệu nhỏ gồm hai con số giống hệt nhau.

"66."

Quốc An không biết có một hồ sơ như thế. Bố mẹ cậu không biết. Cô Hương không biết. Những đứa trẻ vẫn đá bóng cùng cậu mỗi chiều càng không thể biết.

Nhiều năm sau, khi lần đầu tiên có người đứng trước mặt Trần Quốc An, đặt xuống bàn một tập hồ sơ rồi nói rằng từ giờ mã của anh là 7647, anh sẽ nghĩ đó chỉ là con số được hệ thống cấp cho mình vào ngày ấy.

Anh sẽ không biết nó đã tồn tại từ rất lâu.

Cũng như anh chưa thể biết rằng kể từ mùa hè có thanh thép rơi khỏi chiếc xe tải ấy, trong cuộc đời tưởng như hết sức bình thường của mình đã bắt đầu xuất hiện những con người không bao giờ tình cờ đi ngang qua.

Nhưng mùa hè ấy, Trần Quốc An mới chỉ là một đứa trẻ bảy tuổi. Cậu vẫn ghét ăn mỡ, vẫn thích trứng rán cháy cạnh, vẫn mong chiều mai trời đừng mưa để còn đá bóng. Và sáng hôm sau, chuyện quan trọng nhất trong đời cậu chỉ là tìm cách thắng Bác Bảy được một ván cờ.

Cậu không biết rằng ở một nơi nào đó, những người lớn đã bắt đầu chơi một ván khác.

Và quân cờ đầu tiên được đặt lên bàn chính là cậu.

0