Hồi Ức Thanh Xuân

Chương 3: Chẳng Phải Em Vẫn Sẽ Ở Đó Sao?

Đăng: 27/06/2026 23:05 2,981 từ 3 lượt đọc

Sau này nghĩ lại, tôi luôn cảm thấy thanh xuân của mình là một sự may mắn. Không phải vì từng trải qua những năm tháng rực rỡ. Mà vì từng bắt gặp vài nhân duyên khiến quãng đời ấy trở nên đáng nhớ. Vài người chỉ đi ngang qua một đoạn. Số khác lại nán lại rất lâu. Lâu đến mức ta quên mất họ đã bước vào cuộc đời này từ khi nào.
Tôi có một nhỏ bạn như thế. Hai đứa quen nhau từ hồi lớp tám. Chẳng nhớ cớ sự bắt đầu từ đâu mà hai đứa lại xưng hô anh em. Chỉ nhớ đứa nào cũng cứng đầu, cũng thích cãi, vậy mà tan học lúc nào cũng rề rà chờ nhau ở cổng trường. Đoạn đường từ trường về đến nhà thờ Buôn Hồ chỉ hơn một cây số, nhưng ngày nào vòng đạp xe của hai đứa cũng chậm rì.
Tuổi mười bốn của chúng tôi được lấp đầy bằng những chuyện tưởng chừng vô nghĩa. Có những buổi chiều tan học, hai đứa dắt xe vào sân nhà thờ, ngồi vắt vẻo trên bậc tam cấp. Không cầu nguyện. Không làm gì cả. Chỉ lặng lẽ ngắm vạt nắng rớt qua hàng thông già, đợi chuông nhà thờ cất lên mấy tiếng boong boong rồi mới chịu xách xe đi về.
Có những hôm cãi nhau um sùm chỉ vì một lon Sting dâu. Tôi mua một phần, mở nắp. Nhỏ liếc sang:
- Uống không? – Tôi hỏi.
- Không.
Hai phút sau, lúc tôi đang lúi húi tìm cuốn vở, nhỏ thản nhiên cầm lon Sting lên, tu một hơi vơi quá nửa. Tôi trợn mắt:
- Ủa kêu không uống?
- Tự dưng khát.
Rồi nhỏ bật cười hì hì, quệt vội tay lau miệng. Tôi đành hậm hực vung chân đạp xe, miệng không ngừng càu nhàu suốt cả quãng đường. Mặc kệ kẻ đang cáu kỉnh cầm lái, người ngồi yên sau vẫn thong dong thả chân, thỉnh thoảng lại cười khúc khích. Đến bậc tam cấp nhà thờ, tôi bóp phanh cái két. Nhỏ tung người nhảy xuống, lúc bấy giờ mới ngoái đầu lại:
- Mai mua tiếp nha.
Chúng tôi còn có thói quen ghé tiệm photocopy trước cổng trường sau mỗi giờ tan tầm. Không phải để photo tài liệu, mà chỉ để đứng ké đọc truyện Conan. Bà chủ tiệm đã nhẵn mặt hai đứa, ngày nào cũng xua tay:
- Hai đứa mua không? Chật chỗ quá.
- Dạ để tụi con đọc xíu.
Đọc hết một tập. Hai đứa cười hí hí rồi co giò chạy thục mạng.
Rồi cũng có lần thi học kỳ môn Toán, tôi quên mang compa. Đang ngồi toát mồ hôi hột giữa phòng thi im phăng phắc, tôi bỗng nghe một tiếng “cạch” rất khẽ. Nhỏ ngồi bàn trên, lén thả cái compa rớt xuống ngay mũi giày tôi. Giám thị quay lại lườm, hai đứa cùng cúi người xuống gầm bàn, giả vờ nhặt cây bút bi.
Tuổi học trò của chúng tôi trôi qua với đủ trò ngốc nghếch như thế. Nhưng nhớ nhất là hồi đó, chúng tôi rất mê bầu trời. Tan học chiều muộn, lúc đạp xe về, đứa nào phát hiện ra ngôi sao đầu tiên sẽ thắng. Có hôm, cả hai thắng gấp, dừng xe ngay giữa đường rồi chỉ trỏ:
- Kìa.
- Đó là máy bay.
- Không. - Nhỏ chu mỏ cãi - Rõ ràng là sao!
Đứng đôi co qua lại chừng năm phút đồng hồ. Rốt cuộc, tôi xì một tiếng rồi tiếp tục đạp xe, quên luôn cả lý do mình vừa hậm hực. Những ngày tháng ấy êm đềm và rực rỡ đến mức, đôi khi chỉ cần một bóng lưng kề cạnh cũng đã thấy đủ đầy.
Thế nhưng, lên lớp chín, nhỏ đột nhiên tạo khoảng cách với tôi. Không một lời giải thích. Gọi điện thì không gặp, lên lớp thì nhỏ cố tình lảng tránh. Sự lạnh nhạt đường đột ấy khiến thằng con trai mới lớn như tôi thẫn thờ mất mấy tháng trời.
Mãi cho tới một tối gần Giáng sinh năm đó, nhỏ bất ngờ chặn tôi lại, lặng lẽ đặt vào tay tôi một chiếc bình thủy tinh trong suốt. Lớp kính ủ hơi sương lạnh ngắt, nhưng bên trong lại được lấp đầy bởi cơ man nào là những ngôi sao giấy nhỏ xíu đủ màu. Nhỏ nhìn tôi, ngập ngừng bảo:
- Ngôi sao ở giữa có điều em muốn nói. Chỉ được mở vào đêm giao thừa.
Tôi ôm chiếc bình thủy tinh chứa đầy sao giấy ấy về phòng. Hơn một tháng trời từ lúc nhận quà đến đêm giao thừa là một chuỗi ngày chờ đợi đầy bứt rứt. Ngày nào tôi cũng cầm chiếc bình lên lắc nhẹ, nghe tiếng mấy ngôi sao lạo xạo va vào thành kính, đầu óc cứ vẩn vơ tự đoán xem “điều em muốn nói” rốt cuộc là gì.
Rồi khoảnh khắc ấy cũng tới. Khi tiếng pháo hoa nổ đì đùng râm ran ngoài ngõ, tôi chốt kín cửa phòng, ôm chiếc bình thủy tinh ngồi bệt xuống giường. Nhớ lại lời nhỏ dặn “có một ngôi sao ở giữa”, tôi không dám đổ ụp ra vì sợ chúng lộn xộn hết cả. Tôi cẩn thận thò tay vào, rón rén moi từng lớp sao giấy ra ngoài
Khốn nỗi, khi chạm đến đúng lớp giữa của bình, tôi đành bó tay. Cả một cụm sao giấy nằm chật ních, nhìn ngắm mãi mà chẳng biết được ngôi nào mới thực sự nằm ở vị trí trung tâm.
Cầm đống sao trên tay, tôi nhíu mày, rút một ngôi sao to ra rón rén tháo nhẹ vài nếp gấp ngoài cùng. Băng giấy trắng trơn. Tháo ra thì dễ, nhưng đến lúc loay hoay cuộn lại, dải giấy qua tay tôi liền nhăn nhúm, méo mó thảm hại. Vì sợ làm hỏng tâm huyết của nhỏ, tôi chỉ dám cắn răng mở dè dặt thêm chừng chục ngôi nữa. Vẫn không có gì. Nhìn mấy ngôi sao bị mình làm cho xộc xệch nằm chỏng chơ trên đệm, tôi bỏ cuộc, không dám mạo hiểm tháo thêm bất kỳ một ngôi nào nữa. Tôi lóng ngóng gom chúng thả lại vào bình thủy tinh rồi ngồi thừ người ra. Cuối cùng chỉ biết bật cười. Chắc mình bị lừa rồi.
Ngày hôm sau gặp lại, trong lòng tôi chất đầy thắc mắc, nhưng rốt cuộc lại chẳng dám hé răng nửa lời về chiếc bình sao. Tôi sợ. Sợ chỉ lỡ miệng hỏi sai một câu, nhỏ sẽ lại giận, lại quay lưng bước đi và bỏ mặc tôi trong sự im lặng đáng sợ như mấy tháng vừa rồi. Thà cứ im lặng mà được đi cạnh nhau còn hơn. Nhỏ cũng không hề đả động gì đến nó. Cứ thế, chẳng một lời giải thích, hai đứa lại chơi với nhau bình thường, hồn nhiên như chưa từng có khoảng thời gian xa cách.
Rồi kỳ thi chuyển cấp ập đến. Tôi ở lại học tại Buôn Hồ, còn nhỏ thi đậu vào một trường cấp ba ở Sài Gòn. Ngày ấy trường Nguyễn Khuyến quản lý gắt gao lắm, học sinh không được sử dụng điện thoại. Vài ba tuần, hai đứa mới nhắn với nhau được mấy dòng tin vụn vặt, chủ yếu là hỏi thăm sức khỏe, và chúc nhau mấy lời vào những ngày quan trọng. Đặc biệt là ngày 29 tháng 9.
Chiếc bình thủy tinh năm ấy tôi vẫn giữ. Nó luôn được đặt ngay ngắn trong tủ. Mãi đến năm hai mươi tuổi, vô tình chạm mắt tới nó, tôi chợt nhớ lại lời dặn năm xưa, rồi bốc đại hai ba ngôi sao mỏng manh nhất ra gỡ thử.
Ngôi thứ nhất, băng giấy trắng trơn. Ngôi thứ hai cũng vậy. Nhưng đến ngôi thứ ba... những dòng chữ bằng mực bi xanh nắn nót hiện lên.
Cầm dải giấy trên tay, tôi bỗng nhận ra sự trêu đùa của định mệnh. Năm mười lăm tuổi, tôi bới móc, truy cầu trong tuyệt vọng thì chẳng thể nào chạm tới. Nhưng bây giờ chỉ một cái bốc tay lơ đãng, duyên số lại đặt nó nằm trọn vào lòng bàn tay. Hóa ra ở đời, có duyên thì mới gặp được, đâu phải cứ cố chấp tìm kiếm là sẽ thành công. Chỉ tiếc là, khi duyên đưa lối cho tôi nhìn thấy đáp án, thì quãng đời năm mười lăm tuổi ấy đã khép cửa mất rồi.
Mười năm sau đó, nhỏ về quê rồi hẹn gặp tôi. Khác với nụ cười thường ngày, ánh mắt nhỏ nhìn tôi tĩnh lặng:
- Thời gian của em đã không còn nhiều nữa. Nhưng em lại không muốn níu kéo.
Lồng ngực tôi như bị ai đó nện một búa thật mạnh. Khóe mắt chực chờ như sắp khóc, lòng chẳng biết phải khuyên gì cho đúng. Tôi chỉ nhìn nhỏ, nhẹ nhàng bảo:
- Miễn sao em vui là được. Em muốn đi đâu anh sẽ chở đi.
Thời gian sau đó, nhỏ gần như thu mình lại hoàn toàn. Căn bệnh khiến nhỏ nhạy cảm với mọi thứ, kiên quyết lẩn tránh những ánh mắt thương hại của tất cả mọi người, kể cả bà con họ hàng thân thiết. Chẳng hiểu sao, tôi lại là ngoại lệ duy nhất mà nhỏ chịu mở cửa đón nhận.
Chính vì sự ưu tiên ấy, tôi tự nhủ tuyệt đối không thể để nhỏ nhốt mình mãi trong sự u ám. Cứ lúc nào rảnh rỗi, tôi lại mang xe đến trước cổng tìm nhỏ. Hai đứa lại ngồi bên nhau, hệt như những ngày còn đi học.
Tôi lôi đủ thứ chuyện đời thường vặt vãnh ra kể.
- Ê.
- Gì?
- Hôm nay có con bé kia nhắn tin cho anh.
Nhỏ quay sang.
- Rồi sao?
- Nó hỏi anh ăn cơm chưa.
- Thì?
- Anh trả lời rồi.
- Trả lời gì?
- Anh bảo hôm nay ăn ba tô.
Nhỏ phì cười.
- Anh điên rồi.
- Ừ.
- Tự dưng được người ta thích cũng khổ.
- Tại anh đẹp trai.
- Đẹp trai dữ.
Dẫu đó chỉ là những câu chuyện vô nghĩa, tôi vẫn cứ nói. Thế nhưng, sự tàn phá của bệnh tật chưa bao giờ là một trò đùa. Có những ngày, sinh khí cạn kiệt, nhỏ chìm vào hố sâu của sự mặc cảm. Một tối, tôi mang xe đến trước nhà đón. Nhỏ không chịu xuống. Tôi tắt máy, ngồi yên trên xe chờ trước cổng gần một tiếng đồng hồ. Mãi sau, điện thoại rung lên. Một tin nhắn gửi tới:
“Hôm nay em mệt lắm.”
Mắt tôi cay xè. Khẽ gõ phím, tôi nhắn lại:
“Vậy để hôm khác.”
Sau đó, tôi lại chở nhỏ rong ruổi khắp muôn nơi. Từ việc lượn lờ siêu thị GO thử ghế massage chùa, dạo quanh hồ Ba Diễn, cho đến tận chặng đường lên Ea H'leo xem điện gió. Đường lên đó hôm ấy đỏ quạch màu đất bazan. Nhỏ ngồi sau lưng tôi. Đến đoạn ổ gà, xe xóc nảy, rung lên bần bật. Nhỏ đập mạnh vào vai tôi:
- Đi chậm thôi.
- Sao?
- Em còn muốn sống thêm.
Tôi buông nhẹ tay ga. Chiếc xe chậm hẳn. Lần đầu tiên trong đời, tôi ước gì con đường lên Ea H'leo dài thêm một chút. Lắng nghe tiếng gió rít qua mang tai, tôi khẽ cất giọng:
- Em còn nhớ hồi lớp tám không? Đoạn đường từ trường về nhà thờ Buôn Hồ chỉ hơn một cây số, ngày nào hai đứa cũng lải nhải cãi nhau, đạp rề rà mãi chẳng chịu về. Ngày đó ngốc thật, cứ nghĩ thời gian dài lắm nên chẳng biết sợ điều gì cả.
Phía sau lưng tôi, giọng nhỏ lại cất lên lọt thỏm giữa tiếng gió ngàn:
- Thật ra… em cũng sợ.
- Sợ cái gì?
- Sợ những ngày êm đềm thế này ngắn quá.
Tôi không đáp. Lời thú nhận yếu ớt ấy tan vào tiếng gió, nhưng lại ghim chặt vào lồng ngực tôi nghẹn đắng. Chẳng biết làm gì hơn, tôi chỉ khẽ kéo bàn tay gầy guộc của nhỏ vòng lên phía trước, ủ chặt vào túi áo khoác của mình. Chúng tôi cứ thế lặng im chạy xe qua những con dốc dài.
Để khỏa lấp đi nỗi sợ hãi về một chiếc đồng hồ cát đang đếm ngược, chuỗi ngày sau đó, tôi gần như gác lại mọi bận rộn để ở bên nhỏ nhiều hơn. Chúng tôi rong ruổi lượn lờ qua khắp các góc phố quen. Có hôm hoàng hôn buông đỏ rực, hai đứa lại tấp xe ra bờ hồ. Người đi cùng tôi cứ thu mình lại, lẳng lặng ngắm dòng người đang mải miết chạy bộ dọc bờ kè. Bất chợt, nhỏ quay sang, cất giọng rất nhẹ:
- Sau này, anh phải sống thật vui nhé.
Tôi mím môi, cố nặn ra một nụ cười.
- Anh sẽ cố gắng. Nhưng em cũng vậy, ráng khỏe lại để sau này còn đến dự đám cưới của anh nữa chứ.
Nhỏ lắc đầu, ánh mắt lơ đãng nhìn ra mặt hồ dập dềnh sóng nước:
- Em không chắc mình đợi được đến lúc đó đâu.
Lồng ngực tôi thắt lại. Chưa kịp lên tiếng thì nhỏ đã xoay người lại, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười nhạt nhòa:
- Nhưng mà... chỉ cần anh nghĩ là em đang ở đó, thì chẳng phải em vẫn sẽ ở đó sao?
Tôi khựng lại. Hai bàn tay siết chặt lấy ghi đông. Tôi định nói rằng sẽ còn rất lâu. Định nói rằng sẽ có rất nhiều người nhớ em. Định nói rằng rồi em sẽ khỏe thôi. Nhưng cuối cùng, tôi chẳng nói được câu nào. Hóa ra có những lời nói dối, đến cả bản thân mình cũng không đủ can đảm để thốt ra.
Tôi đã ngây ngô nghĩ rằng, nếu mình cứ giữ mãi những nụ cười thế này, nếu mình cứ đi mãi trên những con đường này, thì thời gian có lẽ sẽ trôi chậm lại. Giữa nỗi bất an mơ hồ ngày một lớn dần, tôi tự tạo ra một cuộc chạy đua vô vọng: Cố gắng cắm đầu viết bộ truyện Con Rối thật nhanh... để tự huyễn hoặc bản thân rằng chỉ cần câu chuyện chưa kết thúc, nhỏ sẽ cố nán lại để đọc cho bằng hết.
Thế nhưng, dù tôi có gõ nhanh đến mấy, câu chuyện ấy vẫn không thể đuổi kịp bước chân của sự chia ly. Nhỏ đã vĩnh viễn khép lại trang sách ở chương 23.
Ba tháng sau, nhỏ rời đi. Bỏ lại bờ hồ lộng gió, bỏ lại bao câu chuyện mà tôi muốn kể.
Định mệnh cuối cùng đã mang nhỏ bạn của tôi đi xa.
Lúc đứng ở đám tang, tôi không dám khóc.
Ngày trước em từng bảo, em không muốn thấy tôi khóc. Nên tôi sợ em thấy.
Tôi đứng giữa không gian đặc quánh mùi nhang khói, tự lừa dối chính mình rằng mọi chuyện diễn ra trước mắt chỉ là một giấc mơ. Tôi tự nhủ, chỉ cần nhắm mắt, cố xoay người một phát, ta sẽ đổi lại được một giấc mơ khác.
Chỉ cần xoay người lại, tôi sẽ lại thấy nhỏ đứng trước cửa tiệm tạp hóa, chìa lon Sting dâu đã uống vơi quá nửa về phía tôi, rồi cười:
- Không khát đâu.
Rồi lại giật lấy, tu một hơi mất sạch.
Chỉ cần xoay người lại, tôi sẽ lại được nghe một câu mắng quen thuộc: “Anh điên rồi!”.
Tôi vẫn sẽ cứ hoang tưởng và ngỡ như vậy.
Nếu như không có hàng tá tin nhắn an ủi liên tục rung lên trong túi áo, hay hai hàng hoa trắng xóa chướng mắt, và cả tiếng kèn đồng bi thương đang không ngừng xoáy từng cơn vào lồng ngực.

Đêm đó, sau khi mọi thứ kết thúc, tôi trở về căn phòng trống không. Bên ngoài, trời tối đen như mực. Tôi tiến về phía giá sách, mở ngăn tủ. Chiếc bình thủy tinh năm xưa vẫn nằm im lìm ở góc cũ.
Tôi từ từ ngồi sụp xuống nền nhà, ôm lớp kính lạnh buốt vào lòng, lơ đãng rút đại vài ngôi sao giấy mỏng manh tháo ra xem. Ngôi thứ nhất trắng trơn. Ngôi thứ hai cũng vậy. Nhưng đến ngôi thứ ba... dòng chữ nắn nót bằng mực bi xanh hiện lên rõ mồn một. Dòng chữ vẫn xanh, nhưng người viết thì vĩnh viễn không còn nữa.
Giữa căn phòng vắng lặng, sự thật về ngôi sao giấy không còn khiến tôi bận tâm nữa. Trái tim lúc này chỉ lấp đầy bởi hàng trăm, hàng ngàn chữ “giá như” chua xót.
Giá như tôi có thể phát hiện ra căn bệnh của nhỏ sớm hơn. Giá như tôi đủ sức mạnh để làm một điều gì đó cứu lấy người bạn của mình. Giá như thời gian của chúng tôi có thể kéo dài thêm một chút, dù chỉ là vài ngày ngắn ngủi. Nhưng mọi nỗ lực truy cầu đều đành bất lực trước sự lạnh lùng của vận mệnh.
Và rồi, giữa lúc những giọt nước mắt oán trách sự nghiệt ngã của thời gian không ngừng rơi xuống, cõi lòng tôi bỗng thắt lại bởi một âm thanh quen thuộc. Giọng nói trong trẻo của em từ một chiều hoàng hôn nào đó lại văng vẳng vang lên bên tai tôi:
- Nhưng mà... chỉ cần anh nghĩ là em đang ở đó, thì chẳng phải em vẫn sẽ ở đó sao?

1

Được yêu thích bởi: Em nè thầy