Chương 215: Mùa Lúa Không Trổ
Tiếng thép khép vào vỏ còn ngân trong gian phòng thấp.
Phạm Hải Dực đã đi khuất sau bức tường ngầm. Ánh đèn dầu đặt trên bàn chỉ còn soi được một khoảng nền đá ẩm, nơi mép địa đồ vừa bị tách vẫn cuộn lên đôi chút.
Trần Mặc không nhìn theo nữa.
Hắn gấp phần da thú ghi các nhánh suy kiệt, cất vào túi trữ vật. Phần bản đồ ấy không chỉ mấy nét mực chạy ngoằn ngoèo dưới đất. Cuối mỗi nhánh, đều có một chấm đỏ đã nhạt màu, đánh dấu thôn xóm, ruộng đồng, giếng nước.
Một hố sập có thể lấp được. Một lời khai cũng có thể bị ép đổi.
Nhưng người đã bỏ làng đi sẽ để lại nhà trống. Ruộng mất mùa sẽ không tự mọc hạt chỉ vì ai đó sửa lại biên bản.
Trần Mặc rời miếu bằng lối phía sau, men qua bãi lau ngập nước. Hắn không quay vào thành. Phạm Hải Dực đã chọn phần việc của Phạm Hải Dực. Còn hắn cần tìm những nơi mà sự suy kiệt đã chạm tới đời sống phàm nhân.
Việc ấy không xong trong một đêm.
Từ đó về sau, trong năm thứ hai của kỳ hạn đối chứng, Trần Mặc nhiều lần rời kinh đô cùng Phùng Quốc Chính. Không cờ hiệu Ty Giám, không đoàn xe công vụ. Chỉ hai người đi qua các thành ngoại, mang theo biên bản trắng, bản đồ sao và ít lương khô.
Có nơi họ chỉ dừng nửa ngày. Có nơi phải ở lại đến lúc mưa tạnh, nghe hết lời kể của người già mà vẫn không tìm được mốc mùa vụ chính xác.
Bãi đất trước mặt là một trong những nơi như thế.
Lều vá bằng vải bố chen sát nhau dưới chân thành ngoại. Gió luồn qua các khe rách, làm mùi khói ẩm, mùi thuốc sắc và mùi quần áo chưa kịp khô quẩn lại trong không khí. Trẻ nhỏ ngồi thành hàng bên một thùng gỗ thấp, tay ôm những bát đất sứt miệng.
La Tố đứng cạnh thùng nước.
Nàng múc từng gáo nhỏ, chia đều vào bát. Một đứa trẻ chìa tay xin thêm, nàng chỉ lắc đầu, rồi đẩy phần nước của mình sang cho nó. Đến lượt một người đàn ông lớn tuổi, La Tố giữ gáo nước giữa chừng.
“Đứa nhỏ bên kia chưa uống.”
Người đàn ông nhìn về phía đứa bé, im lặng nhận phần ít hơn.
Nghiêm Cốc ngồi dưới mái che dựng bằng cành cây. Một bên ống quần của hắn xắn cao, cổ chân quấn vải đã ngả màu nâu. Thấy hai người đến, hắn chống tay định đứng dậy.
“Không cần.” Phùng Quốc Chính nói.
Phùng Quốc Chính trải biên bản lên nắp một hòm gỗ cũ. Gió thổi mép giấy rung lên. Hắn đặt chặn giấy bằng một thỏi đá, vuốt phẳng từng góc rồi mới cầm bút.
“Tên thôn.”
“Lương Khê.”
“Số hộ trước khi rời đi.”
Nghiêm Cốc nhìn về những lều trại. Hắn nhẩm rất lâu.
“Một trăm mười ba. Có bảy hộ không đi được. Người già quá, hoặc nhất định không bỏ mồ mả.”
Phùng Quốc Chính ghi xuống.
“Mùa nào lúa bắt đầu chỉ lên lá?”
“Mùa hạ năm trước. Ban đầu ai cũng tưởng giống bị hỏng.” Nghiêm Cốc chỉ qua bãi đất trống, về phía cánh đồng xa mờ trong nắng. “Sang vụ sau vẫn xanh như thường. Lá còn rậm hơn trước. Nhưng đến lúc trổ, chẳng có lấy một bông.”
Trần Mặc đứng chếch phía sau Phùng Quốc Chính nửa bước, mắt nhìn cả lối ra lẫn người trong trại. Hắn lấy bản đồ ra, đặt lên mặt hòm. Đầu ngón tay dừng tại một đường mực mảnh chạy về phía nam.
“La Tố cô nương,” hắn hỏi, “người trong trại bắt đầu sốt từ lúc nào?”
La Tố không đáp ngay. Nàng múc hết gáo nước cuối cùng, úp gáo xuống thùng rồi mới bước lại.
“Sau khi nước giếng đổi vị.” Nàng nói. “Trẻ nhỏ sốt trước. Cứ vài ngày lại có một đợt. Có đứa nóng đến mê man, tỉnh ra thì chẳng muốn ăn.”
“Có bao nhiêu đứa?”
La Tố nhìn những đứa trẻ đang ngồi dưới mái vải.
“Không nhớ hết.”
Phùng Quốc Chính không thúc giục. Hắn chỉ kéo một tờ phụ lục ra, đổi đầu bút.
“Nhớ được tên nào, ghi tên ấy. Không cần đủ ngay.”
Bàn tay La Tố siết lại trên vạt áo. Một lúc sau, nàng đọc tên đầu tiên.
Phùng Quốc Chính viết từng chữ. Không thay bằng “trẻ nhỏ trong trại”, cũng không gộp thành một con số.
Khi chiều xuống, Nghiêm Cốc dẫn họ ra chiếc giếng cũ ở mép trại.
Giếng xây đá xanh, thành giếng thấp và mòn vẹt. Trên một phiến đá nghiêng cạnh đó còn sót vài nét khắc đã bị rêu phủ gần hết. Trần Mặc cúi xuống phủi lớp rêu bằng đầu ngón tay. Một hàng chữ cổ lộ ra, đứt quãng như đã từng bị ai đó đục đi.
Nghiêm Cốc nhìn tấm bia.
“Người già bảo đây là bia ven mạch. Hồi trước có người ghi tên những người mất tích lên đó. Sau này nước dâng, chữ cũng mất dần.”
Phùng Quốc Chính ngẩng lên.
“Có ai chép lại không?”
“Không.”
Hắn không nói gì, chỉ ghi thêm một dòng vào góc giấy.
Nghiêm Cốc thả gàu xuống. Dây thừng cọ qua miệng giếng nghe khô khốc. Khi gàu kéo lên, nước trong vắt, phản chiếu một mảng trời nhợt nhạt.
Trần Mặc nhận lấy gáo gỗ, nhấp một ngụm rất nhỏ.
Nước không đục. Nhưng vị lợ mằn mặn bám nơi đầu lưỡi, phía sau còn có mùi tanh lạnh như đất bùn ngâm lâu ngày.
Hắn đặt gáo xuống.
“Gia súc không uống?”
Nghiêm Cốc gật đầu.
“Bò cứ ngửi rồi quay đi. Có con khát quá cũng uống, hôm sau nằm bệt.”
Trần Mặc đặt bản đồ lên bệ đá phẳng cạnh giếng. Hắn đối chiếu hướng giếng với ruộng Lương Khê, rồi lần theo nhánh mạch suy kiệt kéo dài dưới đầu ngón tay. Nước đổi vị. Trẻ nhỏ phát sốt. Ruộng chỉ có lá. Sau đó từng nhà dỡ cửa mà đi.
Những chuyện ấy không nằm rời nhau nữa.
Phùng Quốc Chính mở túi hồ sơ mang bên người. Hắn lấy ra mấy trang giấy đã cũ, mép giấy có dấu gấp mở nhiều lần. Trên đó là các tên người, quê quán, ngày mất tích. Một số cái tên bị gạch ngang bằng mực đỏ.
“Dân ven mạch mất tích.” Phùng Quốc Chính nói. “Có người bị ghi là bỏ trốn. Có người ghi là không rõ tung tích.”
Trần Mặc nhìn những nét gạch đỏ.
Tên người không dài hơn một hàng mực. Nhưng khi bị gạch đi, khoảng trống phía sau lại rộng đến khó chịu.
Đêm đó, họ ở lại trong một căn lều bỏ trống ngoài rìa trại. Trần Mặc dựa lưng vào cọc lều, tháo giày hong cạnh bếp tro. Bùn khô cứng ở mũi giày cọ vào da chân, làm hắn nhăn mặt. Hắn dùng đầu dao gọt từng mảng đất bám dưới đế, làm rất chậm, đến khi mũi chân không còn lạnh buốt mới thôi.
Sáng hôm sau, trước khi đi khảo sát điểm tiếp theo, Trần Mặc đứng ở rìa ruộng khô.
Đất nứt thành từng đường dài. Giữa các kẽ nứt vẫn có những mầm lúa xanh rậm, xanh đến mức không hợp với lớp đất bạc màu bên dưới.
Hắn đặt bản đồ xuống nền đất phẳng, lấy đá chặn bốn góc.
Kim lực khởi trước, sắc mà mảnh. Mộc lực nối theo, mềm hơn. Thủy, Hỏa, Thổ lần lượt vận hành, năm dòng đan lực đi qua kinh mạch theo một vòng ngắn, khép kín trong đan điền.
Không khí quanh hắn thoáng rung.
Một tia linh khí từ dưới ruộng vừa chạm lên, Trần Mặc đã thu lực.
Nếu cưỡng ép dẫn khí vào đây, đám lúa có thể hồi sắc trong một thời gian. Người trong trại sẽ thấy ruộng sống lại. Còn dấu vết bên dưới sẽ bị che đi.
Hắn để năm dòng linh lực quay về đan điền. Lần này chúng không còn va chạm, chỉ lặng lẽ xoay quanh đan nguyên đã vững hơn trước.
Trần Mặc mở mắt, ghi vào mép bản đồ: địa khí mỏng, chảy lệch về tây bắc, dưới ba thước có dấu hút kéo từng đợt.
Ở mép ruộng, Nghiêm Cốc đang cúi nhặt một nắm tro đen còn sót trong chiếc bát đất vỡ. Hắn nói như tự nói với mình:
“Trước lúc bỏ làng, các lão trong thôn từng làm Tức Nhưỡng Hồi Mạch Lễ. Tro bếp, hạt giống, đất ở năm đầu ruộng. Làm xong cũng chẳng đổi được gì.”
Trần Mặc nhìn chiếc bát đất.
Trên vành bát có năm chấm nhỏ, xếp lệch vị trí như một đồ hình cổ. Không giống dấu tế lễ thông thường. Hắn nhớ lại một góc ký hiệu trên mảnh lõi lấy từ cống ngầm, nét khắc cũng từng đổi chỗ theo lối hoán vị cổ tinh.
Hắn không nói ra.
Đến đêm, Phùng Quốc Chính trải biên bản bên ngọn đèn dầu. Phần địa đồ nhánh suy kiệt nằm cạnh những trang ghi tên thôn, số hộ rời đi, mùa lúa mất hạt và số trẻ phát sốt.
Hai người lần lượt đối chiếu.
Lương Khê. Hạ Tân. Bạch Sa.
Những nơi lúa không trổ đều nằm sau các đoạn mạch bị rút chậm nhất.
Trần Mặc đặt đầu ngón tay lên một nét mực kéo dài. Kẻ dựng đường dẫn đã không hút cạn một lần. Chúng để mạch yếu dần, để ruộng chết dần, để cả một vùng có đủ thời gian bị gọi là suy thoái tự nhiên.
Những ruộng lúa không trổ hạt chính là bằng chứng đang lớn lên ngoài đồng, trước khi bất kỳ ai kịp niêm phong nó.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.