Quyển 1: Tai Nạn Của Nghệ Sĩ Hạng B
Chương 6: Đức Thánh Minh
Độ Vong Nhân
Mục lục
7 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 7/7 chương
Chương 6:
Đức Thánh Minh - Trần Nguyên Tông
HoHieuLang & Mặc Nguyệt Thư Các
---Đường-phân-cách---
Rời khỏi đoàn kịch, Ngọc Thanh thong thả sải bước tiến vào chợ đêm ở phía Bắc thành phố. Dưới ánh đèn rực rỡ, những hàng quán ăn vặt, quần áo, đồ trang sức được bày bán san sát dọc hai bên đường. Dòng người qua lại tấp nập như đang chảy hội, những tiếng rao hàng, mặc cả với đủ thứ giọng điệu đặc trưng của từng vùng miền riêng biệt tụ hội về một nơi, dệt nên một bản giao hưởng ồn ào nhưng đầy mới lạ, cứ thế chen chúc lọt vào tai cậu.
Dù đã ăn mấy cái bánh ngọt ở chỗ đoàn kịch ban nãy, nhưng khi tiến vào trong chợ, đi qua những quán ăn hay gánh hàng rong trên vỉa hè, khứu giác của Thanh bị tấn công dữ dội. Mùi hương thơm nức mũi của đủ loại đồ nướng, đồ chiên tỏa ra trong không khí khiến cái bụng của cậu lại bất giác cồn cào.
Theo bản năng, cậu dừng chân trước một quầy bán bánh bao gần mình nhất, đôi mắt chăm chăm nhìn những chiếc bánh tròn tròn, trắng tinh đang nằm trong xửng hấp bốc khói nghi ngút, tỏa ra hương thơm của bột mì khi chín và còn đang thoang thoảng mùi bếp củi, chắc chắn đây là mẻ bánh chỉ vừa mới ra lò cách đây không lâu.
“Chú ơi! Cái bánh này chú bán sao ạ?” Thanh vô thức nuốt một ngụm nước bọt, rồi khẽ hỏi.
“Hai trăm đồng một cái bánh bao thịt truyền thống, ba trăm đồng một cái bánh bao thịt hai trứng. Con ăn loại nào?” Ông chú quầy cười hì hì, tay bưng ra thêm một nồi hấp bánh bao mới ra lò đặt lên bàn, rồi mới quay lại trả lời cậu.
“Dạ cả hai ạ! Cho con mỗi loại một cái ạ!”
Nghe đến giá tiền, Thanh lập tức gật đầu lia lịa. Cái giá này trong mắt cậu quả thực là “rẻ như cho”. Số tiền ông Bầu Đức vừa cho cậu khi nãy có đến hơn chục tờ mệnh giá một ngàn Cổ Loa Đồng, đủ để cậu mua cả một gian hàng bánh bao này chứ chẳng chơi!
(Mệnh giá quy đổi Cổ Loa Đồng với Việt Nam Đồng là 1:100. Tức 200 Cổ Loa Đồng = 20000 Việt Nam Đồng. Sau này mọi người cứ thêm hai số không vào đằng sau là nắm rõ được giá thành.)
Một chốc sau, Ngọc Thanh ngồi yên vị trên chiếc ghế đá trống bên vệ đường, trên tay cậu bây giờ là chiếc túi chứa hai cái bánh bao nóng hổi, lớp vỏ bánh mềm mịn tựa như lụa, còn thoang thoảng mùi sữa. Cậu chẳng thể kìm lòng được nữa mà vội lấy ra một cái bánh ra rồi cắn một ngụm thật lớn. Ngay lập tức, trong khoang miệng cậu bị lấp đầy bởi lớp bột bánh xốp mịn, ngọt thanh, quyện cùng với phần nhân thịt băm dai dai được tẩm ướp đậm đà, cảm giác sần sật giòn rụm của mộc nhĩ hòa cùng chút nồng đượm, đắng nhẹ của hành phi. Sự kết hợp hoàn mỹ ấy tạo nên một hương vị hấp dẫn dồn dập tấn công vị giác khiến cậu ngấu nghiến sạch bách cái bánh to bằng bàn tay chỉ trong chưa đầy một phút.
“Ngon! Quá xá là ngon luôn!” Thanh xuýt xoa khen lấy khen để, ngay sau đó, cái bánh bao trứng muối còn lại cũng không thoát khỏi số phận. Thế nhưng, bao nhiêu đó vẫn chưa đủ bõ bèn gì với cái dạ dày không đáy đang biểu tình đòi ăn, Ngọc Thanh lại đưa mắt nhìn về phía những gian hàng khác.
Suốt cả đêm, gót chân của Thanh gần như đã in dấu khắp các quầy hàng ẩm thực trong khu chợ đêm, kéo dài cho đến tận hai giờ sáng hôm sau. Chẳng biết tự bao giờ, hai tay cậu đã ôm khư khư một đống bao bịch, hộp giấy lớn nhỏ đựng đủ thức đồ ăn thức uống. Cậu vừa đi vừa nhai nhóp nhép, thong thả rảo bước theo dòng người hướng thẳng đến quảng trường phía Tây Bắc, nơi mà ông Bầu Đức đã nhắc tới.
Hiện ra trước mắt Thanh là Tòa Nghi Môn to lớn, sừng sững được chế tác hoàn toàn từ đá xanh. Cổng dựng theo dạng vòm cuốn, bề thế cao tầm tám mét rưỡi với kiến trúc hai tầng, tám mái... Tầng dưới có một cửa vòm cuốn lớn uy nghiêm, tầng trên thu nhỏ hơn với cửa vòm phụ, bốn góc mái uốn cong vút, chạm trổ hình rồng uốn lượn và đắp nổi đôi nghê thần uy vũ . Mặt tiền của cổng đá được đắp nổi phù điêu hai võ sĩ mặc giáp bọc thân, ngực hộ tâm rực lửa hình hổ phù, một người lâm lâm ngọn trường giáo, một người cầm rìu chiến kiêu hùng. Ngọc Thanh giương mắt ngạc nhiên nhìn dòng chữ được khắc hẳn vào xà ngang bằng đá của cổng vòm, điêu khắc dòng chữ “Đền Đức Thánh Minh - Trần Nguyên Tông” (𤯨 㕘 聖 明 - 陳 原 宗).
Điều làm cậu chấn động, đó là số lượng nguyện lực đang bao phủ và toả ra từ ngôi đền còn nhiều gấp trăm lần bức tượng Ngôi Sao, tựa như một dòng thác chảy ngược từ nơi đây lên chín tầng mây, nhuộm vàng khắp bầu trời.
Từ lúc bước vào thành phố, cậu không hề thấy được nó cho tới khi đi đến đây, điều này đã thay đổi một phần tư tưởng của cậu về tín ngưỡng dân tộc, thành kính và tự hào hơn bao giờ hết.
…o0o…
Tương truyền, vào thuở dải đất phương Nam bờ cõi chưa yên, còn chìm trong khói lửa biên thùy, có bậc linh anh nương theo vầng dương khí mà giáng sinh vào nhà dòng dõi đế vương. Tên húy Trần Ngọc Minh, ngài là con trai cả của Vua Trần Kính Tông và Hoàng Hậu Tuyết Vũ.
Từ thuở tóc còn để chỏm, ngài đã không màng gấm vóc cung đình, một lòng si mê võ thuật và huyền học đạo thuật, trên thông thiên văn triều tịch, dưới tường địa lý long mạch, văn tài võ lược, hết thảy đều quán tuyệt đương thời. Năm mười bảy tuổi, dẫu chưa được thụ tước phong vương, ngài đã khẳng khái xin lệnh xuất chinh.
Bấy giờ, giặc Tào Châu (tức nước Bạch Liên ngày nay) cậy binh hùng tướng mạnh, xua tan một vạn ba ngàn quân tràn qua quan ải. Ngài chỉ dẫn dắt theo năm ngàn tinh binh, vốn là những kẻ tử sĩ do tự tay ngài rèn giũa theo mật trận “Trần Binh Võ Trận”, là “Trần Binh Cổ Võ” sau này. Một trận gầm vang nơi tử địa, năm ngàn huyết chiến bẻ gãy vạn giáo quân thù, thây giặc ngổn ngang phơi trắng nơi thung lũng Dã Tràng. Từ thuở ấy, gươm báu tuốt vỏ là định giang sơn, ngài bình sinh hành quân xuất trận, chưa từng biết đến mùi chiến bại. Đến khi đăng cơ, ngài lấy niên hiệu là Nguyên Nam.
Mười năm ngự trị trên ngai vàng, cũng là mười năm ngài không một ngày cởi giáp. Phương Bắc có giặc Thát Ô (tức nước Bắc Minh ngày nay) tràn xuống dập dồn như sóng dữ, phương Nam có phản tặc quấy nhiễu biên thùy. Trong mười năm ấy, ngài năm lần tự mình thân chinh, quật khởi binh đao cốt để bảo vệ từng tấc đất của tiền nhân, chưa từng khởi lòng tham xâm lược nước người.
Ngài vì bá tánh mà che mưa chắn gió, vì giang sơn mà đổ giọt máu đào. Bá tánh tụng ca ngài là một bậc lang quân nghĩa khí ngút trời, một bậc thánh quân hiền triết vạn thế độc nhất. Khi giặc tan, trời Nam định quốc, nền độc lập hòa bình vừa vặn thiết lập, cũng là lúc hoàng nam đủ tuổi gánh vác việc sơn hà.
Giữa lúc vinh quang tột đỉnh, muôn dân quỳ rạp dưới thềm rồng tung hô vạn tuế, thì Vua Trần Nguyên Tông lại khước từ điện ngọc lầu son. Ngài chẳng ngủ quên trên chiến thắng, thay vào đó, ngài chối bỏ mọi thụ hưởng vinh hoa, lặng lẽ cởi bỏ long bào, gác lại gươm báu, phó thác giang sơn lại cho hậu duệ. Ngài hóa thân thành vị đạo sĩ phong trần, tay cầm gậy trúc, chân dẫm giày rơm, một mình chu du khắp cùng trời cuối đất.
Trong khoảng thời gian ấy, ngài đi khắp nơi cứu giúp bá tánh, xuống chốn đầm lầy trục quỷ trừ tà, dùng thuật số phong thủy chấn hưng mạch nước, dùng y thuật huyền môn cứu sống người nghèo khổ. Đến độ lục tuần, gót chân phong trần mỏi mệt, ngài quay về lại cố hương. Tại nơi đất lành chim đậu, ngài tự tay đặt viên gạch đầu tiên dựng xây nên một Toà Quốc Tự, lập hoàng đàn dạy học cho con em bá tánh, sau hàng thiên niên kỷ đến bây giờ, Toà Quốc Tự năm ấy giờ đây chính là Trường Trung học Phổ thông Ngôi Sao.
Vua Trần Nguyên Tông đã đem cái sở học cả đời mình, dung hợp giữa cái “Dũng” của võ trận, cái “Lễ” - “Nghĩa” của Nho gia và cái “Vô vi” - “Thanh tịnh” của Đạo giáo để tạo nên một hệ thống giáo dục hoàn thiện, lấy “Đạo đức” làm gốc, lấy “Thuật số” làm ngọn. Truyền thừa vững chãi đến tận ngày nay. Đến năm một trăm hai mươi chín tuổi, vào một đêm trăng thanh gió mát, giữa hương trầm thoang thoảng của Quốc tự, ngài tĩnh toạ hóa cát vàng, anh linh đằng vân nhập vào hàng tiên tịch, vĩnh hằng cùng nhật nguyệt.
“Hậu thế nghìn năm đồng lòng ghi tâm khắc cốt: Nhớ ơn ngài mười năm định quốc, giữ vững quốc môn. Kính trọng ngài trăm năm dưỡng sĩ, khai hóa nhân tài. Bởi lẽ đó, các bậc vương triều hậu thế cùng thiên hạ chúng dân đồng lòng suy tôn ngài là: ĐỨC THÁNH MINH - vị Đức Thánh thứ tư trong lịch sử nước nhà, nghìn thu vĩnh viễn trường tồn.” Nữ hướng dẫn viên du lịch đứng gần sát cột đình đại điện, giọng điệu đầy tự hào kể về lịch sử nước nhà.
Hồ Ngọc Thanh vừa lắng nghe, vừa bùi ngùi nhìn bức tượng Đức Thánh Minh tạc bằng đồng cao hơn năm mét đặt được giữa đại điện. Bên cạnh cậu, hàng dài khách du lịch đang cầm hương trên tay, lần lượt thắp nhang cúng bái để cầu bình an, tài lộc vẹn toàn. Sau khi cả đoàn thắp hương xong, hướng dẫn viên dẫn họ đi đến khu di tích - di sản văn hóa tại đền, trong suốt khoảng thời gian ấy, cậu chỉ lủi thủi theo sau.
Hướng dẫn viên giơ tay hướng về những bức tranh điêu khắc đặt sát tường rồi giảng giải: “Dõi theo những trận thắng của Vua Trần Nguyên Tông, không thể không nói đến Trần Binh Cổ Võ, đấy là một loại võ trận được sử dụng trong trận mạc, chiến đấu chống ngoại xâm, chinh phục thiên nhiên hoang dã, chống trả và săn bắt hổ, lợn rừng, bảo vệ nhà cửa, làng xóm, chống trộm cướp, trong đó còn bao gồm binh pháp và tư tưởng bảo hộ nước nhà của binh quân thời bấy giờ. Môn võ chú trọng đến kỹ thuật cận chiến, mọi đòn tấn công đều nhắm vào chỗ hiểm trên thân thể đối phương. “
“Điểm đặc biệt của võ trận nằm trong kỹ thuật dùng khuỷu tay để phản kích và thủ pháp bắt giết, môn phái này sử dụng khá nhiều đòn tay mô phỏng bàn tay Hổ (Hổ Trảo) và bàn tay Ưng (Ưng Trảo).”
“Còn về binh khí, võ này dụng một số khí cụ chiến đấu như: lăn khiên, roi mây, cây sam, thiết xoa, kiếm, côn, đao, song ngư, lưỡng đầu thiết lĩnh, cửu khúc nhuyễn tiên, song phủ (búa), song chùy, thiết phiến (quạt),... “ Nàng vừa nói vừa đưa mọi người đến bên cạnh tủ kính bày biện vô số cổ vật - vũ khí đã gỉ sét qua ngàn năm lịch sử.
“Tuy nhiên, dù rất thực dụng trong thực chiến, nhưng vì bản chất môn võ dùng để sát lục, nên đến thời nay không mấy võ sư ưa thích. Bởi vậy, Trần Binh Cổ Võ đã được đúc kết tinh hoa trở thành nền tảng vững chắc và hội nhập cùng nhiều môn võ khác phái mà hình thành nên Võ cổ truyền Cổ Loa ngày nay, thường được quân đội chính quy rèn luyện và sử dụng.”
(Hết chương)
(2262)
(*) Tác giả Mặc Nguyệt Thư Các vì bận rộn công việc nên khó mà tiếp tục đồng hành cùng tác phẩm. Tác phẩm cũng vì bị ngâm lâu mà drop một thời gian. Giờ đây dưới sự hưởng ứng của cộng đồng Xóm Truyện, nên tác phẩm sẽ quay lại, nhưng tiếc là sẽ thiếu vắng đi văn thơ của Nguyệt Nhi và lối văn cổ trang do Nguyệt Nhi beta bổ sung hậu kỳ.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.