Chương 6: Thương Gói Trong Chiếc Bánh Nóng - Bánh Khúc Làng Diềm, Thôn Viêm Xá, Xã Hòa Long, Bắc Ninh.
Ăn Đi Rồi Sẽ Thấy Thương
Mục lục
6 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 6/6 chương
Tôi về làng Diềm vào một buổi sáng đầu xuân, trời còn rét ngọt, cái rét không buốt mà chỉ đủ để hai bàn tay tìm nhau, để hơi thở thành khói mỏng trước mặt, để người ta khi bước ra khỏi nhà thì kéo cao cổ áo lên một chút rồi mới đi. Con đường từ trung tâm thành phố Bắc Ninh về làng chạy dọc theo triền đê sông Cầu, một bên là dòng sông mùa cạn nước trong xanh lững lờ trôi giữa hai bãi bồi phù sa. Một bên là cánh đồng đã cấy lúa non xanh mướt trải ra đến tận chân trời, và sương sớm còn giăng la đà trên mặt ruộng, khiến cả cánh đồng như phủ một lớp voan trắng mỏng mà mặt trời đang từ từ vén lên. Tôi đi xe máy chậm, để gió sông thổi vào mặt, để nghe cái mùi của đồng bằng Bắc Bộ vào xuân. Cái mùi bùn non lẫn cỏ ướt lẫn khói bếp ai đó đang nhóm từ một mái nhà xa, cái mùi mà tôi đã quên từ rất lâu, từ hồi còn nhỏ theo bà về quê. Bây giờ nó trở lại, không báo trước, làm sống mũi tôi cay cay không rõ vì gió lạnh hay vì một điều gì khác.
Làng Diềm nằm nép mình bên bờ sông, một ngôi làng cổ mà cổng làng vẫn còn, cây đa vẫn còn, mái đình rêu phong vẫn còn. Ngay đầu làng là đền thờ Vua Bà, người mà dân ở đây tôn là thủy tổ của quan họ, là người đã dạy cho làng những câu hát đầu tiên cách đây không ai còn nhớ rõ là bao nhiêu đời. Sáng nay làng mở hội, cờ ngũ sắc cắm dọc con đường vào đền. Từ trong sân đền vọng ra tiếng hát, giọng nữ, ngân nga, luyến láy, một câu quan họ mà tôi không nghe rõ lời nhưng nghe rõ cái tình. Cái tình đằm thắm mà kín đáo, mời mọc mà e ấp, thứ tình rất riêng của người Kinh Bắc mà đến tận bây giờ tôi mới hiểu vì sao người ta nói quan họ không phải để biểu diễn mà để tặng nhau, để trao đi như trao một tấm lòng.
Tôi gửi xe, đi bộ vào làng theo tiếng hát. Bên đường, trước cửa một căn nhà mái ngói cũ, có một bà cụ ngồi bên một cái nồi hấp lớn đang bốc khói nghi ngút. Chính cái cột khói ấy, vươn lên thẳng đứng trong không khí lạnh buổi sáng rồi tan ra thành sương, đã kéo chân tôi dừng lại. Bà cụ mặc áo bông nâu, khăn mỏ quạ đội đầu, tay đang mở nắp nồi hấp. Khi nắp vừa nhấc lên thì một luồng hơi nóng ào ra mang theo một mùi thơm mà tôi phải đứng lại nhắm mắt để ngửi cho trọn. Cái mùi của lá khúc, một thứ hương ngai ngái mà thơm, mộc mạc mà quyến rũ, mùi của một loại rau dại mọc ngoài đồng mà chỉ người quê mới biết hái, biết dùng, biết biến nó thành thứ quà mà cả một vùng đất nhớ thương.
Tôi hỏi mua một cái. Bà cụ nhìn tôi cười, cái cười của người già ở quê, hiền và không vội. Rồi bà lấy đũa cả gắp từ trong nồi ra một chiếc bánh tròn, lớp áo gạo nếp bên ngoài trắng trong bám đều quanh thân bánh. Còn bên dưới lớp gạo ấy là màu xanh thẫm của vỏ bánh làm từ lá khúc, thứ màu xanh trầm mà đẹp, không rực rỡ mà sâu lắng, như màu của lá dong già, của rêu đá, của những thứ đã sống lâu trên mặt đất này. Bà đặt bánh vào một miếng lá chuối, đưa cho tôi và dặn bằng cái giọng Bắc Ninh nhẹ và mềm, rằng ăn ngay đi cho nóng, để nguội là mất ngon, bánh khúc phải ăn lúc còn bốc khói mới cảm được hết cái thơm của lá khúc.
Tôi cầm chiếc bánh nóng trên tay, cái nóng lan qua lớp lá chuối vào lòng bàn tay đang lạnh cóng. Chỉ riêng cái cảm giác ấy thôi, cái ấm của một chiếc bánh vừa ra khỏi nồi hấp truyền vào tay mình giữa một buổi sáng mùa đông, đã là một thứ hạnh phúc nhỏ mà tôi tưởng mình đã đánh mất khả năng cảm nhận từ lâu. Tôi bóc lớp lá chuối, hơi nóng bốc lên mặt và cắn một miếng. Lớp áo gạo nếp bên ngoài dẻo và dính, ngọt bùi vị nếp cái, rồi đến lớp vỏ bánh làm từ bột gạo tẻ giã với lá khúc, mềm mà không nát, dai nhẹ, mang cái hương ngai ngái đặc trưng của lá khúc lan khắp khoang miệng. Cuối cùng là nhân bánh, đỗ xanh đồ chín giã nhuyễn trộn với thịt ba chỉ thái nhỏ và tóp mỡ băm, béo ngậy, đậm đà, thơm mùi hạt tiêu. Cái nhân mà mỗi khi cắn tới thì tất cả những vị bùi, béo, thơm, mặn cùng lúc bừng lên rồi hòa vào cái dẻo của vỏ, cái ngọt của áo nếp, tạo thành một miếng ăn mà tôi phải nhắm mắt lại để nếm, để cảm, để không bỏ sót một tầng hương vị nào.
Bà cụ ngồi nhìn tôi ăn. Khi thấy tôi ăn ngon thì bà kể, không cần tôi hỏi, cái cách người già ở quê hay kể chuyện, thong thả, không đầu không cuối, rằng bánh khúc làng này có từ đời Vua Bà, từ cái thuở mà quan họ mới ra đời. Ngày xưa khi các bọn quan họ làng này sang chơi với bọn quan họ làng khác, hay khi khách phương xa đến nghe hát, thì người ta mang bánh khúc ra mời, coi như một cách tỏ lòng, một cách nói rằng chúng tôi quý anh, quý chị, nên đem thứ ngon nhất, thứ phải làm cầu kỳ nhất, thứ chỉ làm vào dịp đặc biệt nhất, ra để mời. Bà nói lá khúc bây giờ hiếm rồi, phải dậy từ tinh mơ ra đồng hái lúc lá còn non còn đẫm sương, hái muộn một chút là lá già, lá già thì bánh mất thơm, nên mỗi mùa bà chỉ làm được ít, làm cho con cháu, cho hội làng, cho những người khách như tôi tình cờ đi ngang rồi dừng lại.
Tôi ngồi xuống cái ghế nhỏ bên cạnh bà, ăn nốt chiếc bánh và nghe tiếng quan họ từ sân đền vẫn vọng ra. Một liền chị đang hát câu giã bạn, cái câu mà người quan họ hát khi tiễn nhau ra về sau một canh hát, câu hát mà lời thì nói chuyện chia xa nhưng giai điệu thì níu kéo, dùng dằng, như không muốn rời. Người ta bảo người quan họ không bao giờ nói lời chào tạm biệt dứt khoát, mà cứ hát mãi câu giã bạn. Người về đến đầu làng rồi mà tiếng hát vẫn còn vẳng theo, vì với họ, chia tay không phải là kết thúc mà chỉ là hẹn một lần gặp lại. Và cái tình thì không đứt, chỉ là tạm giãn ra để chờ lần sau nối lại.
Tôi hiểu rằng chiếc bánh này với câu quan họ kia thật ra là một, cùng sinh ra từ một tấm lòng, cái tấm lòng muốn giữ người, muốn đãi người, muốn trao cho người cái quý nhất của mình mà không cần biết người ấy có bao giờ quay lại hay không. Người Kinh Bắc không nói thương bằng lời, họ nói thương bằng câu hát, bằng chiếc bánh, bằng cái cách dậy từ tinh mơ ra đồng hái lá khúc còn đẫm sương. Cái đẹp của sự trao ấy nằm trọn ở chính lúc trao đi, ở cái khoảnh khắc một bàn tay lạnh cóng đón lấy một chiếc bánh còn nóng. Trong khoảnh khắc ấy hai người xa lạ bỗng gần nhau, dù chỉ trong một buổi sáng, dù chỉ bên một nồi bánh khúc đặt trước hiên nhà.
Tôi trả tiền, cảm ơn bà và trước khi đi tôi hỏi mua thêm mấy chiếc để mang về. Bà gói cho tôi vào lá chuối, buộc lại bằng sợi lạt cẩn thận, chậm rãi, rồi đưa cho tôi và dặn về hấp lại cho nóng mà ăn, đừng để lâu. Tôi cầm gói bánh còn ấm, chào bà, đi bộ trở ra triền đê. Phía sau lưng tôi tiếng quan họ vẫn hát, câu giã bạn vẫn ngân, hòa vào tiếng gió sông, hòa vào mùi lá khúc còn vương trên tay, như một câu quan họ mà một khi đã nghe thì cả đời không dứt khỏi lòng.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.