Hoả Tinh: Kỷ Nguyên Mới

Chương 11: Làn Khói Không Khối Lượng

Đăng: 08/09/2026 07:53 1,979 từ 7 lượt đọc

Đội đánh giá không tới trong ngày đầu tiên.

K-17 chuyển từ công trường thành khu cách ly. Robot dựng một vòng cọc cảm biến bán kính năm trăm mét quanh lỗ thăm dò, sau đó lùi về khu trú. Không có người nào được phép vượt qua vòng trong. Các xe khoan tắt nguồn nhưng vẫn cắm cáp, như những con vật lớn bị buộc đứng yên giữa đồng bằng đá.

Đêm Sao Hỏa xuống nhanh. Nhiệt độ ngoài bộ Peregrine giảm dưới âm bảy mươi độ. Màn Chớp sáng phía tây, mỗi nhánh sét hiện qua lớp bụi như mạch máu dưới một tấm da tối.

Khoa ngủ hai giờ trong khoang trú rồi tỉnh vì cảnh báo của Mộc Lan.

Biên độ xung tăng mười chín phần trăm dù không đầu dò nào di chuyển.

Anh kiểm tra định vị. Nền đất co nhiệt làm cọc số bốn nghiêng ba milimet, không đủ giải thích thay đổi. Điện trường ngoài tăng rồi giảm, trong khi đường xung chỉ đi lên. Chuẩn Okafor ghi sai lệch năng lượng lớn hơn buổi chiều gần gấp đôi.

V-7 vẫn hiện CHỜ ĐỘI ĐÁNH GIÁ.

Khoa gọi Volkov.

Ông trả lời từ Ares, phía sau là phòng điều phối sáng trắng. “Đội sẽ xuất phát khi hành lang điện ổn định.”

“Mức trường đang tăng tại chỗ.”

“Tôi thấy dữ liệu.”

“Các mã AX có thuộc đội đó không?”

“Một phần.”

“Thời gian sớm nhất?”

Volkov nhìn sang một màn hình ngoài khung. “Mười giờ nếu Màn Chớp không dịch thêm.”

“Nếu nó dịch?”

“Hai mươi tám giờ.”

Khoa đưa đường Chuẩn Okafor lên cuộc gọi. “Chúng ta chưa biết quá trình có ổn định trong hai mươi tám giờ.”

“Anh đề nghị gì?”

“Đưa một đầu dò không nguồn xuống hốc, chỉ đo áp suất, nhiệt và quang phổ. Không mở rộng lỗ.”

“Người vào vòng trong?”

“Không. M-17 thao tác.”

Volkov im lặng bốn giây. Đủ lâu để đọc dữ liệu hoặc hỏi một người không xuất hiện trên màn hình.

“Chấp thuận đầu dò thụ động,” ông nói. “Không phát radar, laser công suất cao hay sóng âm. Nếu có biến đổi hình thái, rút thiết bị và lùi toàn bộ đoàn thêm một kilômét.”

“Biến đổi hình thái của đá?”

“Của bất kỳ thứ gì.”

Cuộc gọi kết thúc.

Gia Huy đã đứng ở cửa khoang trú trong bộ lót EVA. “Ông ấy nói như đã có checklist.”

“Quy trình V-7 có từ trước Noctis.”

“Tôi không nói quy trình. Tôi nói câu ‘biến đổi hình thái’.”

Khoa không có cách bác bỏ.

Họ chuẩn bị một đầu dò đường kính mười hai milimet, nhỏ hơn lỗ khoan. Nó không có bộ phát chủ động. Ánh sáng dùng sợi quang từ nguồn đặt cách hốc ba mươi mét; quang phổ kế, áp suất và nhiệt độ nằm trong hộp ở đầu cáp. M-17 đưa đầu dò qua lỗ lúc 03:18.

Sáu mét đầu chỉ có đá.

Ở mười một phẩy bốn mét, nhiệt độ đầu dò tăng ba phần mười độ rồi trở lại. Áp suất vẫn gần chân không. Camera nhìn thấy vách đá ở ba hướng, hướng thứ tư chìm vào bóng tối.

Khoa cho đầu dò hạ thêm nửa mét.

Một đường bạc xuất hiện ở mép hình.

Anh dừng tời.

Đường bạc mỏng hơn sợi tóc trên màn hình, kéo dài từ một vết nứt trong vách. Nó không phản chiếu theo góc của nguồn sáng. Khi Khoa giảm ánh sáng xuống một nửa, độ sáng của nó chỉ giảm bảy phần trăm.

“Nhiễu cảm biến,” kỹ sư quang học nói.

Khoa chuyển hình sang camera dự phòng dùng cảm biến khác. Đường bạc vẫn còn, lệch đúng khoảng cách giữa hai thấu kính.

Một vật ở trong hốc.

Anh rút đầu dò mười centimet. Đường bạc dài ra khỏi vết nứt, chậm hơn chuyển động cáp. Nó không bám vào đầu dò. Nó đang tự đi ra.

“Rút,” Khoa nói.

M-17 kéo cáp lên. Trong ba giây đầu, đường bạc tụt khỏi khung hình. Sau đó nó xuất hiện lại ở cả hai camera, đã tách thành một dải rộng bằng ngón tay. Không có gia tốc đột ngột. Nó chỉ giữ khoảng cách với đầu dò trong khi cả hai đi lên.

Khoa kích hoạt lệnh lùi đoàn.

Chuẩn Okafor vượt ngưỡng cũ ba lần. Không có kênh nhiệt hay bức xạ tương ứng.

Đầu dò cách miệng lỗ một mét thì dải bạc chạm vào thành đá. Nó không loang trên bề mặt. Mép trước đi qua một khe nhỏ hơn bề rộng của chính nó rồi hiện lại phía trên, không bị ép hẹp.

M-17 giật cáp khỏi lỗ và lùi bằng tốc độ tối đa.

Trong hai giây, không có gì xảy ra.

Rồi một sợi bạc trồi lên khỏi miệng khoan.

Khí tượng kế gần nhất chỉ hướng gió từ đông sang tây với vận tốc mười bảy mét mỗi giây. Bụi đỏ chạy sát mặt đất về phía Màn Chớp. Dải bạc nghiêng về phía đông, ngược luồng khí, rồi dựng thẳng lên cao gần một mét.

Khoa phóng lớn camera.

Nó giống khói vì không có biên cố định. Những sợi nhỏ tách ra, cuộn vào nhau rồi nhập lại. Nhưng khói cần hạt hoặc giọt phân tán trong khí. Ở áp suất Sao Hỏa, một cột khói ấm phải khuếch tán nhanh và bị gió kéo ngang. Dải bạc không làm cả hai.

“Khối lượng?” anh hỏi.

Hai cọc cảm biến chiếu đường đo khí động qua vùng bạc. Chênh áp trước và sau bằng không trong sai số. Tấm vi cân đặt dưới lỗ không ghi thêm tải. Radar tần số thấp xuyên qua mà không phản hồi.

“Dưới ngưỡng,” kỹ sư đáp. “Nhỏ hơn không phẩy hai miligram trong toàn thể tích nhìn thấy.”

“Bụi silica kích thước nano?” Gia Huy hỏi.

“Nếu đủ hạt để tán xạ ánh sáng như vậy, cân phải thấy.”

“Hơi kim loại?”

“Nhiệt độ không đủ. Và sẽ đi theo gió.”

Khoa gửi lệnh chiếu ba bước sóng từ các cọc đối diện. Vùng bạc hiện rõ trong khả kiến gần xanh, mờ hơn ở hồng ngoại và gần như biến mất trong tử ngoại. Phổ không khớp vật liệu nào trong thư viện K-17.

Có thể là plasma lạnh.

Anh kiểm tra mật độ electron. Hai đầu dò Langmuir không ghi dòng. Từ kế không đổi. Không có phổ phát xạ đặc trưng của khí bị ion hóa.

Plasma bị loại.

Có thể là ảnh giả do điện trường tác động đồng thời lên cảm biến.

Khoa chuyển sang camera cơ học dùng phim quang sắc, không có cảm biến điện tử ở đầu thu. Một cánh tay robot đưa tấm phim ra khỏi hộp kín trong ba giây rồi thu lại. Khi lớp bảo vệ được kéo ra trong khoang trú, một dải sáng cong nằm đúng vị trí vùng bạc.

Không phải lỗi camera.

“Mắt thường?” Gia Huy hỏi.

Một kỹ sư nhìn qua kính quan sát quang học của khoang trú, không qua màn hình. “Tôi thấy.”

Khoa cũng nhìn.

Ngoài vòng cọc, dải bạc đứng trên nền đá như một vết xước sáng trong không khí. Khi sét phía tây lóe lên, mọi vật đều đổ bóng. Riêng nó không tạo bóng có thể nhận ra.

Không phải lỗi hiển thị.

Ba giả thuyết thông thường đã chết. Điều còn lại chưa vì thế mà trở thành một lời giải thích.

V-7 đổi trạng thái.

NGUY CƠ TRƯỜNG CẤP HAI. QUYỀN CHỈ HUY ĐANG CHUYỂN GIAO.

Mã AX-027 xuất hiện trên kênh, không có hình ảnh.

“Giữ nguyên quan sát,” một giọng trung tính qua bộ biến âm nói. “Không dùng trường cưỡng bức. Không để vật thể tiếp xúc hệ thống sống.”

“Anh đang ở đâu?” Khoa hỏi.

“Trên đường tới K-17.”

“Anh biết đó là gì?”

“Không.”

“Vậy cơ sở nào cấm tiếp xúc hệ thống sống?”

“Nguyên tắc cách ly đối với hiện tượng chưa có khối lượng đo được.”

Câu trả lời hợp lý đến mức không cung cấp thông tin.

Khoa nhìn dữ liệu định vị của đội đánh giá. Không có phương tiện nào hiện trên tuyến từ Ares. AX-027 có thể ở trong một xe bị ẩn khỏi quyền của anh, hoặc chưa hề rời thành phố.

“Quyền chỉ huy đã chuyển chưa?” anh hỏi JANUS.

“Đang chờ xác nhận hiện diện vật lý của người tiếp quản.”

Cho tới lúc đó, trách nhiệm vẫn thuộc về Khoa.

Dải bạc bắt đầu di chuyển.

Nó không đi về phía M-17, cọc cảm biến hay nguồn điện lớn nhất. Nó trượt ngang mặt đất theo một đường cong, dừng ở nơi dấu giày của Khoa còn lại từ chiều hôm trước, khi anh đặt Chuẩn Okafor. Các sợi mảnh hạ thấp, lấp đầy rãnh đế rồi nâng lên.

Sau đó nó chuyển sang dấu chân kế tiếp.

Một dấu. Rồi một dấu khác.

Nó đang đi ngược đường Khoa đã rời khỏi hốc.

Gia Huy đứng cạnh anh trước cửa khoang trú. “Nó theo dấu cậu.”

“Có thể theo điện tích còn lại trên bề mặt.”

“Sau mười tám giờ và một đêm bụi?”

“Hoặc biến dạng cơ học. Hoặc chất từ đế giày.”

Khoa cho một robot đặt ba mẫu cạnh đường đi: bụi lấy từ dấu chân, vật liệu đế Peregrine và một điện cực mang mức điện tích tương đương. Dải bạc bỏ qua cả ba. Nó tiếp tục qua những dấu thật, kể cả nơi bụi đã lấp gần hết.

Chuẩn Okafor tăng thêm một bậc mỗi khi nó dừng.

Không kênh nào ghi khối lượng. Không kênh nào ghi nhiệt. Tổng năng lượng lệch ngày càng xa mức đầu vào.

“Lùi khoang trú,” AX-027 ra lệnh.

Khoa kiểm tra địa hình. Khoang có thể tự kéo, nhưng phải thu chân neo trước. Quá trình mất bốn phút. Dải bạc còn cách vòng trong một trăm sáu mươi mét và di chuyển không đều, trung bình nửa mét mỗi giây.

“Thu neo,” anh nói. “Xe cứu hộ sẵn sàng kéo.”

Chân neo thứ ba kẹt vì bụi đông cứng trong khớp.

Gia Huy đã mặc kín Peregrine trước khi cảnh báo hoàn tất. “Tôi ra xử lý.”

“Không. Dùng tay máy.”

Tay máy khoang trú với tới nhưng không đủ góc để đặt dụng cụ vào chốt. Robot sửa chữa gần nhất ở phía ngoài đường đi của dải bạc; gọi nó về sẽ cắt ngang hiện tượng.

Khoa nhìn thời gian. Nếu tốc độ giữ nguyên, họ còn hơn năm phút. Nếu nó tăng, con số không có giá trị.

“Tôi đi,” anh nói. “Cậu giữ cửa và kéo tôi về nếu trường đổi.”

“Hai người sẽ nhanh hơn.”

“Một người ít hệ thống sống hơn hai.”

Gia Huy nhìn anh qua mũ, rồi gắn dây kéo vào vòng lưng Khoa. “Chín mươi giây. Hết chín mươi, tôi kéo dù cậu có tháo được hay chưa.”

Khoa bước qua cửa khí.

Bộ Peregrine giữ áp suất ổn định. Bức xạ, điện trường và độc chất đều dưới ngưỡng. Vỏ composite đã chịu mọi bài thử mà con người biết thiết kế. Dải bạc ở ngoài vòng cọc, cách anh hơn một trăm mét.

Anh quỳ cạnh chân neo, mở nắp khớp và đưa dụng cụ vào lớp bụi đóng cứng.

Chuẩn Okafor phát cảnh báo mới.

Không phải vì tổng năng lượng tăng.

Tâm sai lệch vừa rời khỏi hốc và dịch chuyển về phía khoang trú.

Khoa ngẩng lên.

Dải bạc đã bỏ qua ba dấu chân cuối cùng. Nó không còn bò sát mặt đất.

Nó đang đi thẳng về phía anh.

0
Ủng hộ tác giả ia_m_ai Ủng hộ mình để có thêm đọc lực nhé các bạn. 500d cũng nhận ^^