Hoả Tinh: Kỷ Nguyên Mới

Chương 10: Rìa Màn Chớp

Đăng: 08/09/2026 07:53 2,004 từ 8 lượt đọc

Ba mươi sáu giờ sau, cửa khí phía tây Ares mở lúc 04:20 giờ địa phương.

Đoàn K-17 đi ra theo thứ tự máy móc cần thiết nếu đường về bị cắt: hai xe san tự hành, sáu robot khảo sát, đoàn cáp điện, ba khoang trú kéo và cuối cùng là xe cứu hộ. M-17 dẫn đầu cách phương tiện có người bốn kilômét. Trên bản đồ của Khoa, nó chỉ là một tam giác xanh trượt qua vùng địa hình chưa có dấu bánh mới.

Anh ngồi trong cabin xe điều phối cùng hai kỹ sư robot. Bộ Peregrine treo sau lưng, đã nối với nguồn cabin để giữ pin đầy. Bộ ghi quang học anh gắn trong khung ngực vẫn còn niêm phong của kho. Không ai tháo nó, cũng không ai hỏi.

Gia Huy lái xe cứu hộ ở cuối đoàn. Giọng anh truyền qua kênh nội bộ.

“Bầu trời phía tây sáng hơn hôm qua.”

Khoa chuyển camera ngoài sang phơi sáng ngắn. Chân trời không có mặt trời. Những đường trắng chạy ngang trong lớp bụi nâu, quá xa để nghe tiếng và quá rộng để xác định điểm chạm. Màn Chớp không giống một cơn bão đang tiến đến. Nó giống một phần cố định của hành tinh, một thời tiết đã quyết định trở thành địa lý.

“Trạm Noctis báo biên nhiễu lùi về phía đông một phẩy ba kilômét,” kỹ sư khí tượng nói.

“Trong sai số mùa?” Khoa hỏi.

“Gấp đôi sai số trung bình. Chưa vượt ngưỡng hủy nhiệm vụ.”

Chưa vượt ngưỡng là cụm từ đi cùng đoàn suốt chặng đầu.

Bụi chưa vượt ngưỡng mài mòn. Điện trường chưa vượt ngưỡng phóng qua lớp cách điện. Độ trễ điều khiển M-17 tăng từ mười hai lên ba mươi bảy mili giây nhưng chưa vượt ngưỡng chuyển sang tự trị cục bộ. Mỗi con số đứng riêng đều an toàn. Khi đặt cạnh nhau, chúng cho thấy Ares đang lùi dần phía sau một môi trường không quan tâm tới định nghĩa an toàn của con người.

Sau mười sáu kilômét, mái vòm biến khỏi camera sau. Chỉ còn các cột dẫn đường phát tia laser sát mặt đất, mờ dần trong bụi.

M-17 tới chặng ba lúc 06:05. Nó dừng đúng lịch để hai xe san đặt khoang trú đầu tiên. Khoa tải bộ nhớ Mộc Lan qua đường quang của xe tiếp sóng. Từ khi rời thành phố, mô-đun ghi bốn xung mười tám mili giây. Ba xung nằm trong dải nhiễu nền từng thấy. Xung thứ tư cao hơn mười một phần trăm nhưng không trùng sét, rung động hay thao tác động cơ.

Biểu mẫu V-7 bật lên cạnh nó.

Khoa đánh dấu CHƯA PHÂN LOẠI và giữ dữ liệu cục bộ.

“Anh có mười lăm phút để hoàn tất định tuyến,” JANUS nhắc.

“Chưa có hiện tượng để báo cáo.”

“Một sai lệch đã vượt phân vị chín mươi lăm của dữ liệu nền.”

“Một mẫu không đủ tách lỗi thiết bị khỏi phân bố.”

Đồng hồ V-7 tiếp tục đếm nhưng không khóa dữ liệu.

Ở chặng bốn, xung thứ năm xuất hiện. Cường độ cao hơn xung thứ tư sáu phần trăm.

Khoa yêu cầu M-17 lùi năm mươi mét theo đúng vệt bánh. Biên độ giảm. Tiến trở lại, nó tăng gần bằng mức cũ. Anh cho robot xoay tại chỗ, tắt đầu khoan, tắt radar xuyên đất rồi lần lượt ngắt từng cụm nguồn không thiết yếu. Xung vẫn xuất hiện trong Mộc Lan sau mỗi bốn mươi đến chín mươi giây, không có chu kỳ ổn định.

“Tần số phát thay đổi,” một kỹ sư nói.

“Nhưng biên độ theo vị trí.”

Khoa lệnh một robot khảo sát khác đi song song cách M-17 hai trăm mét. Cảm biến chuẩn của nó không thấy xung vì tốc độ lấy mẫu quá chậm. Khi Khoa chuyển một đầu dò dự phòng của Mộc Lan sang robot thứ hai, hai đường đo cùng tăng khi tiến về phía tây và cùng giảm khi lùi.

Nguồn không nằm trong M-17.

Anh gửi gói dữ liệu đầu tiên qua V-7, chỉ gồm số thô, cấu hình đo và hai giả thuyết đã bị loại. Phản hồi đến sau một phẩy tám giây.

TIẾP TỤC NHIỆM VỤ. GIỮ KHOẢNG CÁCH NGƯỜI–ĐIỂM ĐO TỐI THIỂU 500 MÉT.

“Phê duyệt ở Ares,” Khoa nói.

“Hoặc quy tắc tự động,” kỹ sư bên cạnh đáp.

Không có tên người ký.

Đoàn dừng ở chặng năm để kiểm tra bộ Peregrine trước khi rời cabin. Khoa mặc bộ đồ theo trình tự đã tập: chân, vòng hông, cánh tay, khung ngực rồi mũ. Áp suất ôm vật liệu mềm vào cơ thể. Màn hiển thị quét hai mươi bảy điểm kín khí và trả về màu xanh.

Gia Huy bước xuống từ xe cứu hộ, bộ Peregrine của anh có dải cam ở vai.

“Năm trăm mét,” anh nói. “Thế còn người phải sửa con robot ở cách điểm đo bốn trăm chín mươi mét?”

“Robot chưa cần sửa.”

“Tôi đang hỏi cho mười phút tới.”

“Nếu cần, chúng ta kéo nó về bằng robot khác.”

Gia Huy kiểm tra khóa cáp trên lưng Khoa rồi mới quay người để anh làm lại tương tự. Qua lớp mũ, động tác của họ không phát tiếng. Chỉ khi hai bộ đồ xác nhận niêm kín, kênh thoại mới mở.

Một xe không người lái từ Ares tới trong lúc họ kiểm tra. Nó mang một thùng màu xám có hai niêm phong: niêm phong chuỗi bằng chứng Noctis-6 và niêm phong nhiệm vụ K-17.

Bên trong là Chuẩn Okafor.

Ba đầu dò vẫn cuộn đúng vị trí Khoa đã thấy trong kho cách ly. Trên vỏ có thêm một mô-đun V-7 gắn bằng kẹp ngoài, không khoan vào hộp. Biên nhận ghi thiết bị được “phân bổ tạm thời cho phép đo nguy cơ trường”, người chịu trách nhiệm vận hành là Khoa. Tên Amara chỉ xuất hiện ở mục nhà chế tạo.

Khoa gọi cho cô. Kết nối đi qua Ares rồi quay lại, tổng độ trễ chưa đến nửa giây.

“Họ trả nó cho nhiệm vụ,” anh nói.

Amara không hỏi nhiệm vụ nào; cô đã thấy mã cuộc gọi. “Niêm phong hiệu chỉnh?”

Khoa đưa camera sát cạnh đáy. Một vệt sơn đen nối qua bốn vít, không đứt.

“Còn đầu chuẩn môi trường?”

“Đủ bốn đầu.”

“Mô-đun mới nối ở đâu?”

Anh lần dây V-7. Nó chỉ đọc cổng xuất, không nằm trong mạch đo.

“Có vẻ thụ động,” Khoa nói.

“Có vẻ không phải phép thử.” Amara dừng một nhịp. “Chạy nguồn giả trước khi mang ra. Đừng tin mã băm của họ thay cho đáp ứng vật lý.”

Anh dùng điện trở chuẩn trong thùng để tạo ba mức nhiệt và hai mức điện. Chuẩn Okafor trả đúng đường hiệu chỉnh cũ trong sai số. Khoa gửi kết quả cho Amara bằng kênh công việc thường, không qua V-7. Gói tin đi được.

“Thiết bị dùng được,” cô nói. “Nó vẫn không cho anh biết năng lượng là gì. Chỉ biết sổ có cân hay không.”

“Tôi nhớ.”

“Vậy hãy nhớ cả phần không đo được.”

Đoàn tới điểm K-17 lúc 09:42.

Rìa Màn Chớp cách họ mười một kilômét theo bản đồ khí tượng. Ở khoảng cách ấy, những nhánh sét không còn nằm trên chân trời. Chúng dựng thành một bức tường sáng mờ sau các gò đá, thi thoảng làm bóng đoàn xe đổ về phía mặt trời.

Robot bắt đầu dựng trạm tiếp sóng cuối. M-17 đi theo tuyến quét hình răng lược phía trước mũi khoan. Mỗi lượt dài ba trăm mét. Xung trong Mộc Lan tăng đều về phía một vùng rộng chưa tới bốn mươi mét, rồi giảm khi robot đi qua.

Khoa chồng đường biên độ lên bản đồ mật độ mở được cuối chương trình chuẩn bị. Tâm của hai vùng lệch nhau tám mét.

“Cho M-17 quét radar năng lượng thấp,” anh nói.

Xung radar đầu tiên trả về đá bazan vụn tới độ sâu sáu mét. Dưới đó là lớp vật liệu đặc hơn. Ở độ sâu mười một mét, tín hiệu dừng trên một mặt gần phẳng.

Giống dữ liệu cũ.

Khoa thay đổi góc phát. Nếu mặt phẳng do giới hạn xử lý, độ sâu cắt phải giữ nguyên theo trục cảm biến. Nếu là bề mặt vật lý, nó phải đổi theo hình học đường truyền.

Điểm dừng dịch chuyển.

Một mặt thật nằm dưới đất.

Anh cho M-17 khoan một lỗ thăm dò đường kính hai centimet cách tâm vùng xung hai mươi mét. Mũi khoan đi qua bảy mét đá vụn, ba mét bazan đặc rồi gặp một lớp mềm hơn dự kiến. Mô-men giảm đột ngột ở mười một phẩy bốn mét.

Mũi khoan rơi thêm ba mươi hai centimet mà không gặp lực cản.

M-17 tự dừng.

HỐC RỖNG KHÔNG CÓ TRONG MÔ HÌNH CÔNG VIỆC.

Khoa khóa toàn bộ máy khoan và yêu cầu sơ tán người về sau mốc năm trăm mét. Không khí Sao Hỏa quá loãng để một hốc nhỏ gây sập kiểu mỏ trên Trái Đất, nhưng tải trọng của đoàn xe đủ phá mái đá nếu khoang rộng.

Anh thả một sợi quang qua lỗ khoan. Camera xuống được mười một mét rồi ra khỏi thành đá. Phía dưới không phản xạ trong giới hạn đèn, nghĩa là đáy sâu hơn mười hai mét hoặc bề mặt hấp thụ ánh sáng. Đầu đo áp suất ghi khí loãng hơn bên ngoài, gần chân không tương đối.

Không có luồng hút qua lỗ.

“Nếu áp suất thấp hơn, phải có dòng khí,” Gia Huy nói trên kênh.

“Trừ khi lỗ chưa thông hoàn toàn hoặc cảm biến sai.”

Khoa kéo đầu dò lên, kiểm tra trong hộp chuẩn rồi thả lại. Kết quả không đổi. Anh cho camera quay quanh trục. Ở một góc, ánh sáng chạm vào vách cách lỗ khoan gần ba mét. Bề mặt không nhẵn. Những đường gãy chạy dọc đá như vết nứt tự nhiên.

Chuẩn Okafor được đặt trên mặt đất cách lỗ hai mươi mét, ba đầu dò thành tam giác và đầu thứ tư treo trong hộp cách nhiệt. Khi M-17 phát xung radar, tổng năng lượng vẫn cân bằng. Khi radar tắt, đường chuẩn chậm rãi lệch lên.

Chênh lệch rất nhỏ, thấp hơn nhiệt từ một ngón tay người. Nhưng nó tăng cùng biên độ xung Mộc Lan và không giảm khi mọi thiết bị gần đó tắt nguồn.

Khoa đổi vị trí hai đầu dò. Sai lệch đi theo vị trí, không đi theo cảm biến.

Anh đặt một tấm chắn điện từ giữa hốc và thiết bị. Đường đo không đổi.

Anh đặt lớp cách nhiệt. Không đổi.

Anh che đầu dò quang học. Không đổi.

“Năng lượng đi vào từ đâu?” Gia Huy hỏi.

“Chuẩn không chỉ được hướng.”

“Vậy nó đi ra ở đâu?”

Khoa nhìn các kênh nhiệt, điện, bức xạ và chuyển động. Không kênh nào nhận phần chênh lệch.

“Chuẩn cũng không chỉ được.”

V-7 tự mở một báo cáo nguy cơ trường. Lần này phản hồi không cho phép tiếp tục.

TẠM DỪNG KHOAN. DUY TRÌ CÁCH LY. CHỜ ĐỘI ĐÁNH GIÁ.

Thời gian chờ ước tính bị để trống.

Khoa nhìn về bức tường sét phía tây. Dưới chân họ, một khoảng rỗng không có trên bản đồ đang trả lại nhiều năng lượng hơn mọi thiết bị đưa vào. Mộc Lan tiếp tục ghi những xung mười tám mili giây, mỗi xung cao hơn khi đầu dò được đưa gần lỗ khoan.

Chúng không đếm thời gian.

Chúng đánh dấu một vị trí.

0
Ủng hộ tác giả ia_m_ai Ủng hộ mình để có thêm đọc lực nhé các bạn. 500d cũng nhận ^^