Kiếm Khách Đại Việt

Chương 2: Tên Chộm Chợ Phiên

Đăng: 16/10/2026 07:26 3,085 từ 5 lượt đọc

Theo tờ nợ, một bát cơm với một con cá kho đổi được hai bó củi. Vô Ưu chẻ mất ba ngày mới xong hai bó. Không phải vì củi cứng, chỉ vì chàng chẻ củi như người đang làm thơ. Bổ một nhát thì dừng lại ngắm khúc gỗ, ngắm xong lại thấy khúc gỗ dường như đang nói điều gì đó rất sâu xa, bèn ngồi xuống nghe. Bà lão chủ quán đứng ở cửa bếp nhìn mãi, cuối cùng không nhịn được nữa, đành lên tiếng: “Cậu chẻ củi như chém giặc.”

“Dạ, vậy là khá lắm ạ?”

“Khá cái gì! Giặc thì chạy mất, củi thì nằm đó, mà cả hai đều chưa chịu vỡ.”

Vô Ưu gãi đầu cười hì hì. Bà lão cũng bật cười, chẳng ai giận ai. Bà Tám, cái tên người làng vẫn dùng để gọi bà, vốn là người quý cái cười hơn quý bó củi.

Sáng ngày thứ tư, bà dúi vào tay chàng một nắm xôi gói lá chuối, vẫn còn ấm. “Mai là phiên chợ Đồng, cách đây năm dặm. Cậu cứ ra đó, ai biết đâu cái miệng cậu bán được chút tiền. Bà thì không trông mong gì ở đôi tay cậu nữa.”

“Bà tử tế quá, cháu không biết lấy gì…”

“Biết! Ghi vào tờ nợ ấy!”

Vô Ưu mỉm cười, móc mẩu than ra, cẩn thận ghi thêm: “Một nắm xôi gói lá. Trả bằng: ba ngày chẻ củi nữa, nếu bà còn muốn.” Chàng ngẫm nghĩ một chút, rồi lén gạch hai chữ “nếu bà” đi, chỉ để lại “ba ngày chẻ củi nữa”. Chàng thấy làm thế mới ra dáng người có trách nhiệm. Bà Tám đứng phía sau giả vờ không nhìn thấy, nhưng khóe môi cứ giật giật.

Chợ phiên Đồng họp vào những ngày rằm và mồng một, mà hôm ấy lại đúng mồng một tháng Chạp. Vô Ưu chưa tới đầu chợ đã nghe thấy tiếng người mặc cả, tiếng gà vịt cạc cạc kêu như thể biết trước số phận của mình, tiếng thợ rèn gõ búa leng keng, tiếng người rao bánh đúc, bánh cuốn. Lẫn trong đám âm thanh ấy còn có giọng một ông thầy bói đang rỉ tai một bà góa rằng năm nay ắt có người đàn ông họ Nguyễn bước vào đời bà. Nghe đến đó, bà góa lập tức sáng mắt, còn ông thầy bói thì vuốt râu đầy vẻ đắc ý.

Vô Ưu bước vào chợ, mắt nhìn không kịp. Bên trái là hàng nón lá chồng cao như tháp. Bên phải là hàng gốm với chum, vại, ang, siêu, bát đĩa men nâu men trắng xếp thành từng dãy dưới nắng, trông chẳng khác nào một đội quân đang chờ lệnh. Xa hơn là hàng cau trầu, hàng cá khô, hàng thuốc nam với những bó rễ cây ngổn ngang, mùi thơm đắng bốc lên nồng nàn. Có cả một hàng bán thuyền thúng thu nhỏ, đồ chơi cho trẻ con, và một lão già đang nặn tò he. Bàn tay lão thoăn thoắt, vừa nắn ra một con rồng chưa kịp ngẩng đầu thì đã bị một thằng bé giật lấy.

Vô Ưu hít một hơi thật sâu, căng đầy lồng ngực rồi lẩm bẩm: “Đây mới là đạo. Sư phụ nói đúng. Mười sáu năm trên núi, chưa bao giờ ngửi thấy mùi đạo nào thơm đến thế.”

Đó là mùi bánh rán.

Chàng lập tức sà xuống hàng bánh, mắt nhìn chăm chú. Bà bán bánh nhìn lại, chẳng buồn động đậy. “Bà ơi, bánh này giá bao nhiêu ạ?”

“Hai văn một chiếc.”

“Dạ, cháu chỉ hỏi cho biết thôi ạ. Cháu ngắm bánh, bánh ngắm cháu, thế là đã đủ no hơn nửa bữa.”

“Cậu ngắm xong chưa? Chắn mất đường người mua.”

Vô Ưu vội dạt sang một bên, vẫn không quên cúi chào. Chàng cứ thế đi lang thang hết gian hàng này đến gian hàng khác. Giúp một bà cụ nhấc gánh lên vai, chàng được bà thưởng hai quả ổi. Giúp một ông thợ rèn đỡ cái bễ, chàng được ông ban cho một câu mắng vì vụng về. Có lúc chàng ngồi nghe một ông thầy đồ già đọc câu đối thuê, rồi buột miệng đối thử một vế, khiến ông thầy đồ nhìn chàng đăm đăm, hừ một tiếng, bảo “cũng được”, sau đó quay mặt đi như thể đang giấu một nụ cười.

Đến quá trưa, chàng ngồi dưới một gốc bàng, tay cầm quả ổi, định chấm muối ăn cho đúng vị. Tay chàng thò vào vạt áo, nhưng bên trong trống không. Vô Ưu sững lại, mò bên trái rồi bên phải, thậm chí thọc tay vào tận trong cạp quần, nơi chàng vẫn tin là chỗ an toàn nhất thiên hạ. Không có gì cả. Túi muối đã biến mất.

Chàng ngồi bất động một lúc rất lâu. Sau đó, một tiếng cười từ từ trào lên từ cổ họng, mỗi lúc một to, đến nỗi bà bán ổi ngồi gần đó nhìn chàng đầy lo ngại, chắc mẩm gã này đã bị nắng làm hỏng đầu.

“Muối!” Vô Ưu vừa cười vừa lau nước mắt. “Có kẻ ăn trộm muối của ta! Ta đi qua cả chợ, người ta bày vàng bạc, bày tơ lụa, bày cả một con trâu, mà hắn chọn ăn trộm một nắm muối!”

Bà bán ổi nhích ra xa hơn một chút.

Vô Ưu đứng dậy phủi áo. Cười thì cười, nhưng nắm muối ấy là thứ cuối cùng sư phụ tận tay đưa cho chàng. Chàng quyết định đi tìm kẻ trộm, không phải để đòi lại, mà vì tò mò muốn biết kẻ nào lại có khẩu vị tinh tế đến vậy.

Điều lạ lùng nhất là chàng không chạy. Người ta mất đồ thường cuống cuồng hô hoán, dáo dác nhìn khắp nơi, còn Vô Ưu chỉ thong thả đi dọc hàng gốm, ngó nghiêng xung quanh, thỉnh thoảng cúi xuống nhìn mặt đất. Chàng không tìm người mà tìm dấu vết. Một mẩu lá chuối rơi, vài hạt muối trắng vương trên nền đất đỏ như những viên đá nhỏ rơi từ chiếc túi thủng.

Những hạt muối dẫn chàng đi qua hàng cá, rẽ sau dãy nhà tranh, vượt qua chiếc cầu ván bắc ngang con mương rồi biến mất trong một khoảng đất trống đầy cỏ mọc. Ở đó có một ngôi miếu hoang không rõ thờ vị nào, mái đã sập một nửa, tường rêu phong loang lổ.

Trên mái miếu có người đang ngồi vắt vẻo. Người ấy nhỏ thó, gầy gò, mặc bộ đồ vải thâm đã bạc màu, đầu quấn khăn rằn, chân đi đất. Trên tay y là chiếc túi vải của Vô Ưu, còn gương mặt thì méo xệch như vừa nuốt phải một quả chanh.

“Muối,” y lẩm bẩm. “Muối! Mất công ta chạy qua ba cái mái nhà, một cái mương, lại tránh một con chó dữ, chỉ để lấy… muối!”

“Muối ngon đấy,” Vô Ưu nói vọng lên.

Người trên mái giật bắn mình, suýt ngã nhào. Y quay phắt lại, thấy một gã áo vá bảy chỗ đang đứng dưới sân miếu, cười tươi như hoa. Gã này đã đi theo y từ chợ đến tận đây mà y chẳng hề hay biết.

“Ngươi… ngươi theo ta kiểu gì?”

“Theo hạt muối. Túi anh thủng đấy.”

Người trên mái cúi xuống nhìn chiếc túi. Quả nhiên, một góc đã rách toạc, muối vẫn rơi lả tả từng hạt, trắng như sương.

“Chết tiệt!” Y thở dài, nhảy xuống đất nhẹ như một chiếc lá. Khi chân vừa chạm nền đất, ngay cả bụi dưới chân cũng chẳng bay lên. Vô Ưu nhìn thấy rõ, trong lòng thầm khen rằng thân pháp ấy mà đem đi làm việc khác thì tốt biết bao.

Người kia đứng trước mặt chàng, chiều cao chỉ tới vai. Đến gần mới thấy đó là một thanh niên chừng hai mươi tuổi, mặt xương xương, đôi mắt nhỏ mà sáng, long lanh như mắt chuột.

“Ta là Sáu,” y nói, hơi hất cằm. “Người ta gọi là Sáu Chuột.”

“Vô Ưu. Họ Phạm.”

“Vô Ưu?” Sáu Chuột nhíu mày. “Tên gì lạ thế?”

“Không lo. Nhưng cái tên chỉ là cái tên thôi. Tôi vẫn lo như thường. Ví dụ bây giờ tôi đang lo về nắm muối của mình.”

Sáu Chuột đưa trả chiếc túi, nét mặt ngượng ngùng thấy rõ. “Thôi, trả anh. Tôi tưởng anh là dân có của, đi chợ mà lưng đeo kiếm, áo thì… áo thì…”

“Áo thì sao?”

“Áo thì nhìn qua đã biết người ta cố tình ăn mặc nghèo để che giấu. Bọn có tiền thật mới dám ăn mặc rách rưới như thế.”

Vô Ưu bật cười ngặt nghẽo. “Anh Sáu ơi, tôi mà có tiền thì tôi mặc đồ tử tế. Cái áo này tôi vá bảy chỗ, bảy màu, vì tôi nghèo thật, nghèo đến tận xương.”

Sáu Chuột nhìn chàng từ đầu đến chân, rồi lại từ chân lên đầu. Cuối cùng, y lắc đầu, ngồi bệt xuống bậc thềm miếu. “Ba năm làm nghề, lần đầu ta nhìn lầm một người, mà lại nhìn lầm theo hướng tệ nhất.”

“Nghề của anh là nghề gì?”

“Nghề…” Sáu Chuột lưỡng lự một thoáng rồi ưỡn ngực. “Nghề lấy của người có dư, cho người thiếu.”

“Nghĩa hiệp thật.”

“Chứ sao! Ta chỉ lấy của nhà giàu. Như lão Cả Phát trong chợ, buôn gạo, găm hàng chờ giá, để cả xóm nghèo ngoài kia mùa giáp hạt phải ăn cám. Ta lấy của lão ba lạng bạc mỗi tháng, đem chia cho bà góa, cho trẻ mồ côi, cho mấy nhà không còn gì để nấu.”

Vô Ưu không cười nữa. Chàng ngồi xuống cạnh y, nhìn bàn tay Sáu Chuột đang đặt trên đầu gối. Những ngón tay dài, thon, đầu ngón có vết chai. Đó là bàn tay của người đã sống bằng sự nhẹ nhàng, nhưng cũng là bàn tay của kẻ hiểu rõ thế nào là đói.

“Anh làm vậy bao lâu rồi?”

“Ba năm.”

“Có ai bắt được anh chưa?”

“Chưa.” Sáu Chuột cười tự hào. “Hôm nay cũng suýt bắt được lão Cả Phát. Ta lấy được túi tiền rồi, đúng lúc va phải anh, thấy anh có cái túi nặng nặng nên tiện tay.”

“Túi tiền lão Cả Phát đâu rồi?”

Sáu Chuột đưa tay vào ngực áo, mặt lập tức tái đi. Y lục bên trái, lục bên phải. Không có.

“Ôi!” Y kêu lên. “Bay mất rồi!”

Vô Ưu nhìn y rất lâu. Trên mặt chàng dần hiện ra một nụ cười, nụ cười của người vừa nhận ra điều gì đó thú vị. Chàng đứng dậy, vòng ra phía sau gốc cây bên cạnh miếu rồi nhấc lên một chiếc túi vải căng phồng, nặng trĩu.

“Cái này rơi trên đường, lúc anh nhảy qua mương. Tôi nhặt, định bụng gặp anh sẽ đưa lại.”

Sáu Chuột há hốc miệng nhìn chàng. Trộm mà bị người ta nhặt hộ đồ ăn trộm, đúng là chuyện lạ đời.

“Sao anh… sao anh không giữ?” Y lắp bắp. “Anh nghèo thế kia!”

“Tôi nghèo, nhưng của người ta không phải của tôi. Còn của người nghèo thì…” Vô Ưu nhún vai. “Tôi nghĩ anh biết nên đem đi đâu.”

Sáu Chuột đón lấy túi tiền, bàn tay hơi run. Y im lặng hồi lâu, rồi buột miệng nói một câu nghe rất thiếu khí thế giang hồ: “Anh là người kỳ lạ nhất ta từng gặp.”

“Người ta hay bảo thế. Nhưng cũng hay bảo tôi là kẻ ăn hại. Hai nhận xét ấy đều đúng.”

Họ ngồi nói chuyện trên bậc thềm miếu đến khi nắng chuyển màu cam. Sáu Chuột kể về xóm nhỏ ven sông nơi y lớn lên, về người mẹ chết vì sốt rét, về mấy đứa em nhỏ cùng xóm. Vô Ưu kể về núi Yên Tử, về lão sư phụ hay đùa và về tờ nợ hai mươi quan.

“Hai mươi quan?” Sáu Chuột suýt sặc. “Anh nợ sư phụ hai mươi quan?”

“Gạo, khoai, muối. Và rượu nếp, nhưng tôi không uống.”

“Ừ, anh không uống.”

Chính lúc ấy, tiếng ồn ào vang lên từ phía bên kia cánh đồng. Một đám người đang đổ về phía ngôi miếu, chừng năm sáu gã, tay lăm lăm gậy gộc. Dẫn đầu là một gã mặt vuông, râu rậm, giọng oang oang: “Thằng ranh con Sáu Chuột ở đâu? Hôm nay ông Cả Phát nói rồi, bắt được nó thì chân tay chẳng còn nguyên!”

Sáu Chuột đứng bật dậy, mặt cắt không còn giọt máu. Y nhìn quanh tìm lối thoát, nhưng miếu hoang chỉ có một cửa, cánh đồng thì trống trải, chạy ra là bị nhìn thấy ngay.

“Chạy đi,” Vô Ưu nói, vẫn ngồi nguyên trên bậc thềm. “Mái miếu sập một nửa kia kìa. Anh leo lên đi.”

“Còn anh?”

“Tôi? Tôi đang ngồi nghỉ.”

“Anh điên à? Bọn nó mà thấy anh ở đây với ta…”

“Thì nói chuyện thôi. Đi đi.”

Sáu Chuột nhìn chàng một giây, rồi như con mèo, vọt lên mái miếu, biến vào bóng chạng vạng.

Cả bọn kéo đến sân miếu. Gã mặt vuông chống nạnh, nhìn Vô Ưu, nhìn thanh kiếm gỉ sét bên hông chàng rồi nhếch mép. “Thằng này là ai? Có thấy một thằng nhỏ thó, mặt như chuột chạy qua đây không?”

“Ôi,” Vô Ưu thở dài, nét mặt vô cùng thành thật, “các bác hỏi đúng người rồi. Tôi vừa thấy một người như thế chạy qua đấy.”

“Chạy đường nào?”

“Cái đó khó nói. Nếu tôi nói lệch một chút, các bác lại bảo tôi gian dối.”

“Mày cứ nói!”

“Được.” Vô Ưu đứng lên, chỉ tay về phía mặt trời đang lặn, gương mặt nghiêm trang như một vị quan xử án. “Anh ta chạy về hướng… mặt trời.”

Cả bọn nhìn về hướng mặt trời. Ánh nắng chói chang khiến họ phải nheo mắt. Phía ấy chỉ có cánh đồng, rồi đến con đường làng, rồi đến chân trời.

“Hướng mặt trời là hướng nào?” Gã mặt vuông gầm lên.

“Hướng Tây, thưa bác. Nhưng mặt trời là kẻ đi vòng, buổi sáng mọc ở Đông, buổi chiều lặn ở Tây. Anh ta chạy theo mặt trời tức là đang chạy…” Chàng ngừng lại một chút, làm bộ ngẫm nghĩ. “…một vòng tròn. Không biết bây giờ đã tới đâu rồi.”

Cả bọn đứng ngẩn ra. Một gã trong đám gãi đầu, thì thầm với gã bên cạnh: “Nói thế là chạy đường nào?”

“Tao cũng không hiểu.”

“Nghe như thằng này đang đùa.”

Gã mặt vuông bắt đầu nhận ra mình bị lừa. Mặt hắn đỏ gay, cây gậy trong tay giơ lên. Vô Ưu vẫn đứng nguyên, bàn tay đặt nhẹ lên vỏ kiếm, chưa rút ra, chỉ đặt vậy thôi.

Thanh kiếm trong vỏ khẽ rung lên một tiếng “ong” rất nhỏ.

Gã mặt vuông khựng lại. Cả bọn đồng loạt rùng mình, như thể một luồng gió lạnh vừa lùa qua gáy. Gã mặt vuông nuốt nước bọt, hạ gậy xuống rồi lùi một bước, hai bước.

“Đi… đi thôi,” hắn lẩm bẩm. “Chỗ này… ẩm khí lắm. Có điều không lành.”

Cả bọn kéo nhau đi, người nọ giục người kia, bước chân càng lúc càng nhanh.

Vô Ưu nhìn theo rồi cúi xuống nhìn thanh kiếm. “Lại nữa,” chàng thì thầm. “Ngươi định dọa người ta đến bao giờ?”

Thanh kiếm im lặng. Nhưng chàng có cảm giác, rất mơ hồ, như nó đang cười một mình.

Sáu Chuột từ trên mái miếu nhảy xuống khi trời đã nhá nhem. Y nhìn Vô Ưu bằng ánh mắt hết sức phức tạp.

“Anh giúp ta làm gì? Anh có quen gì ta đâu?”

“Quen từ lúc anh lấy túi muối của tôi. Ba tiếng đồng hồ rồi.”

“Ba tiếng đồng hồ mà đủ để anh cứu mạng ta?”

“Ba tiếng đủ để biết một người, cũng đủ để mất một nắm muối, hoặc có thêm một người bạn. Tùy cách nhìn.”

Sáu Chuột im lặng. Rồi y lục trong túi vải đen, lấy ra ba đồng tiền kẽm, đặt vào tay Vô Ưu.

“Của anh. Trả công.”

Vô Ưu nhìn ba đồng tiền, rồi nhìn Sáu Chuột. Chàng mỉm cười, đẩy tay y trở lại. “Không cần. Anh dùng nó mua gạo cho bọn trẻ. Còn tôi…”

Chàng móc tờ giấy nợ trong ngực áo ra, lấy mẩu than, cẩn thận ghi một dòng ở góc dưới: “Sáu Chuột nợ: một nắm muối, một ân tình.”

Chàng thổi bụi than đi rồi đưa cho Sáu Chuột xem.

Sáu Chuột đọc, ngẩn người. Y đọc lại lần nữa rồi bật cười, tiếng cười rất khẽ, rất thật, như người đã lâu không được cười thoải mái.

“Anh… anh ghi sổ ngược rồi. Người ta nợ anh, chứ anh nợ người ta chứ.”

“Lần đầu tiên trong đời,” Vô Ưu nói với vẻ thích thú vô cùng, “có người nợ tôi. Tôi phải ghi lại ngay, kẻo mai quên.”

Sáu Chuột nhìn chàng, rồi nhìn chiếc túi muối. Y thở ra một hơi dài. “Tôi nợ anh ba năm, hoặc hơn. Tôi sẽ trả. Chỉ là…” Y ngập ngừng. “Cái thanh kiếm của anh. Nó khác thường. Khi nó kêu, tôi nghe thấy, mà không phải nghe bằng tai.”

Vô Ưu nhìn xuống thanh kiếm, im lặng một lát.

“Sư phụ tôi nói, càng ít rút nó ra, nó càng nói nhiều với tôi.”

“Nó nói gì?”

Chàng ngước lên, nhìn bầu trời đã chuyển sang màu tím nhạt. Những ngôi sao đầu tiên vừa hé ra phía chân núi xa.

“Chưa biết. Có lẽ nó chưa biết nói. Nhưng nó biết nghe. Và nó nghe thấy gì đó, lúc nãy, trong gió.”

Sáu Chuột nhíu mày, đảo mắt nhìn quanh. Cánh đồng vắng lặng, chỉ có tiếng ếch nhái râm ran. Ngôi miếu hoang nằm im lìm trong bóng tối.

Trên cành cây khô sau miếu, một con quạ đen đang đậu. Không ai nhìn thấy nó. Đôi mắt đỏ của con quạ chăm chú nhìn thanh kiếm của Vô Ưu. Một lát sau, nó cất tiếng kêu ngắn ngủi, khàn đục, rồi vỗ cánh bay về phương Bắc.


0
Ủng hộ tác giả ĐỨC CHÍNH HÀ Gửi một lời động viên nhỏ để tác giả có thêm cảm hứng ra chương mới.