Mạt Niệm

Chương 4: Tây Viện Vương Phủ

Đăng: 22/07/2026 10:20 4,311 từ 3 lượt đọc

Tấm linh khế từ đêm qua vẫn nằm nguyên trên án thư, dấu chu sa đỏ thẫm ở góc giấy còn chưa khô hẳn. Yên Vũ ngồi nhìn con số "mười vạn" rất lâu, nàng nhớ rất rõ khoảnh khắc mình giơ chiếc bảng giữa những tiếng hô giá dồn dập, nhưng khi lần ngược lại, nàng lại không tìm thấy điểm bắt đầu của quyết định ấy. Dường như đến chính nàng cũng chỉ nhận ra mình đã quyết định sau khi chiếc bảng đã ở trên tay.

Thiệu Lâm cầm chén trà từ lúc bước vào, đến khi khói sương trên mặt nước tan sạch, trà đã nguội hẳn nhưng anh vẫn chưa uống một ngụm nào.

"Mười vạn linh thạch", anh đặt chén trà xuống góc bàn, giọng nhỏ nhẹ.

"Ta vẫn chưa quen."

Mắt Yên Vũ vẫn đặt trên tấm linh khế.

"Chuyện gì?"

"Chuyện người quyết", Thiệu Lâm quay sang nhìn nàng.

"Đêm qua người hành động quá nhanh. Đây là lần đầu ta thấy người ra tay mà không chừa đường lui.”

Lúc này, Yên Vũ mới ngẩng đầu lên.

"Ngươi nghĩ ta mua vì gương mặt đó sao?"

Thiệu Lâm im lặng một lúc rồi bật cười.

"Ta hy vọng là không… Bằng không, mười vạn linh thạch này ta biết ghi vào mục nào bây giờ?"

"Mục nào?", Yên Vũ nhướng mày.

"Chi tiêu vì nhan sắc."

Yên Vũ nhìn anh vài giây, gương mặt không chút cảm xúc.

"Sửa thành công vụ.”

Thiệu Lâm thở dài một tiếng dở khóc dở cười.

"Được rồi", anh bước lại gần án thư, kéo ghế ngồi xuống.

“Nói chính sự.”

Thiệu Lâm kéo tấm bản đồ da thuộc dập nát lại gần, rồi mở hộp cờ vây đặt ở góc án thư. Bàn tay anh lướt qua những quân cờ bằng ngọc màu đen lạnh ngắt, anh nhặt ra ba quân rồi lần lượt đặt lên ba vị trí khác nhau.

"Càn Vũ."

Ngón tay anh chuyển sang quân cờ thứ hai và thứ ba.

"Bắc Lương, Tây Vực."

Quân cuối cùng khép lại một thế vây quanh khoảng trống duy nhất trên bản đồ, nơi có hai chữ Thanh Sa được khoanh bằng mực đỏ.

"Ba nước cùng hướng mắt về một điểm, ta không tin vào sự trùng hợp."

Yên Vũ nhìn khoảng trống không có quân cờ nào ở giữa, nàng chạm ngón tay lên tấm linh khế.

"Nếu chỉ là một nô lệ thì không đáng."

"Thứ họ muốn không nằm trên người hắn", Yên Vũ nhìn ba quân cờ ngọc màu đen vây quanh, giọng chậm lại.

"Ít nhất… hiện giờ ta nghĩ vậy."

Thiệu Lâm im lặng gật đầu, câu trả lời ấy chẳng khiến anh bất ngờ. Bao năm qua, mỗi khi Yên Vũ gặp một quân cờ chưa nhìn rõ giá trị, nàng đều chọn giữ nó lại trước, còn nước đi tiếp theo thì để sau mới tính.

"Kế hoạch của người là gì?", anh hỏi.

"Quan sát, đừng đánh động."

Lời Yên Vũ vừa dứt, tiếng gõ cửa rụt rè ngoài hành lang đã vang lên. Lão quản gia vương phủ rón rén bước vào, hai tay chắp trước bụng với vẻ mặt đầy nét khó xử.

"Vương gia, Khương đại nhân… ta có chuyện muốn bẩm báo…”, lão cúi đầu lắp bắp.

“...Chuyện là về người mới đưa về đêm qua."

Thiệu Lâm quay người lại.

"Hắn gây chuyện?"

"Ấy chết, không có.”, lão quản gia vội xua tay.

"Nếu thật sự gây chuyện thì còn dễ, cùng lắm đánh vài roi hay phạt vài ngày. Đằng này... lão già ta sống từng này tuổi rồi mà chẳng biết phải xử hắn thế nào... hắn cứ không giống ai, ta bảo ngồi thì ngồi, bảo đứng thì đứng. Sau đó ta xuống bếp xem gia nhân dọn bữa sáng, trước khi đi chỉ tiện miệng dặn một câu: 'Ngươi chờ một lát'."

Lão chép miệng, gương mặt nhăn nheo co rúm lại vì bất lực.

"Ta cứ nghĩ người bình thường nghe vậy thì hoặc vào phòng nghỉ, hoặc đi loanh quanh một chút cũng chẳng sao. Ai ngờ lúc ta quay lại, hắn vẫn đứng đúng chỗ cũ. Ta còn tưởng mình nhớ nhầm nên liền hỏi hắn sao chưa vào phòng…”

“...Người xem hắn trả lời thế nào? Hắn nhìn ta rồi bảo: 'Ông bảo ta chờ'."

Lão quản gia thở hắt ra, lắc đầu lia lịa.

"Ta đi làm nốt mấy việc... hắn vẫn đứng nguyên vị trí đó, một ngón tay cũng không nhúc nhích… hầy, thật sự chẳng biết nói gì nữa."

Thiệu Lâm nhìn lão.

"Vậy thì có chuyện gì?"

"Lúc đó ta cứ cảm thấy mình giống ác nhân", lão quản gia cười méo xệch.

"Lão già này làm quản phủ bao nhiêu năm qua, người ngang ngạnh gặp nhiều, người láu cá cũng chẳng ít, nhưng người thật thà đến mức này thì..."

Thiệu Lâm im lặng nghe hết từ đầu đến cuối mà không hề cười. Anh đăm chiêu mất vài giây rồi mới quay sang nhìn Yên Vũ, khóe môi anh hơi nhếch lên, một tay khẽ day day trán.

"Ta bắt đầu hiểu vì sao đêm qua người phải bỏ mười vạn."

Anh hạ giọng thở dài.

"Nuôi hắn còn khó hơn mua hắn."

Lão quản gia đứng bên cạnh, hai tay chắp trước bụng, vẻ mặt xoắn quýt hồi lâu mới lấy hết can đảm ngẩng đầu nhìn hai người.

"Vậy... Vương gia, Khương đại nhân… ta xin phép hỏi một câu. Từ hôm nay ta nên xưng hô với hắn thế nào? Xếp hắn vào hàng nào trong phủ?"

Quản gia vừa dứt lời, thư phòng bỗng im phăng phắc. Thiệu Lâm không đáp, Yên Vũ cũng không lên tiếng, chỉ còn tiếng gió len qua khe cửa lay động một góc tấm bản đồ, âm thanh giấy bản sột soạt lấp đầy khoảng lặng.

Lão quản gia đành tự mình tính tiếp.

"Ta cũng thử nghĩ qua rồi, nếu gọi là công tử thì không hợp, hắn vốn là người mua từ chợ ngầm về. Gọi khách quý thì càng không đúng quy củ của vương phủ, còn nếu coi như người hầu..."

Ông bỏ lửng câu nói.

Thiệu Lâm theo phản xạ nhìn ra ngoài cửa sổ, trong đầu anh bỗng hiện lên một cảnh tượng rất kỳ lạ: Một thiếu niên áo trắng, thần sắc thanh tĩnh như tượng đá, lặng lẽ cầm chiếc chổi tre quét những chiếc lá rơi bên hồ. Hình ảnh ấy vừa xuất hiện đã khiến anh thấy sai sai ở đâu đó nhưng lại không thể gọi tên.

"Hay... để hắn theo hầu bên cạnh Vương gia?"

"Không", lần này Thiệu Lâm lắc đầu gần như theo bản năng.

"Vậy...", lão chần chừ, "Ít nhất cũng có thể hầu trà?"

Thiệu Lâm im lặng một nhịp, trong đầu anh lại hiện lên một cảnh khác: Thẩm Uyên quỳ bên án thư, hai tay nâng ấm trà, từng động tác chậm rãi chỉnh tề đến mức giống đang cử hành một nghi lễ hơn là rót một chén trà.

Anh vô thức rùng mình.

"Đừng."

Yên Vũ ngơ ngác nhìn anh.

"Vì sao?"

Thiệu Lâm nhìn nàng với vẻ mặt nghiêm túc hiếm thấy.

"Ta sợ người uống không nổi."

Yên Vũ vốn định phản bác, nhưng lời vừa tới miệng lại dừng lại… Nàng cũng thử nghĩ theo lời anh, thử hình dung kẻ vừa khiến mật thám ba phương suýt nữa đại chiến ở chợ ngầm đêm qua, giờ lại quỳ trước bàn trà, lặng lẽ rót từng chén nước cho khách...

Nàng im lặng một lúc lâu rồi buông vài chữ ngắn gọn.

"Ừm… không ổn."

Thiệu Lâm khoanh tay trước ngực, trầm ngâm kết luận.

"Không phải không làm được, là... làm gì cũng không hợp."

Thiệu Lâm nhìn lão quản gia, nhất thời cũng không biết nên giải quyết thế nào. Những quy củ vốn rõ ràng trong Vương phủ, đặt lên người Thẩm Uyên bỗng chẳng còn cái nào khớp nữa. Lão quản gia thở dài thườn thượt, giọng rất thật:

"Lần đầu tiên có một người trong phủ mà không biết nên bắt đầu từ đâu."

Sau một lúc suy ngẫm, Yên Vũ quyết định.

"Tạm thời không giao việc."

Lão quản gia hơi ngẩn người: "Nhưng..."

"Ít nhất không phải bây giờ", Yên Vũ cắt lời.

Thiệu Lâm thu lại ba quân cờ màu đen trên bản đồ Thanh Sa, đứng dậy phủi phủi tay áo.

"Được rồi, để ta. Ta qua Tây viện với hắn."

Anh quay sang nhìn Yên Vũ.

"Tiện thể xem xem hắn rốt cuộc là loại người nào."

-----------------

Tây viện vốn là nơi yên tĩnh nhất trong phủ Chu Huyền Vương. Khoảng sân rộng chỉ có một hồ nước nhỏ nuôi mấy cụm hoa súng và một cây bạch trà do chính tay Yên Vũ trồng từ năm mười tuổi. Thẩm Uyên ngồi dưới bóng cây bạch trà, nơi tán lá che kín một góc mặt hồ. Trên chiếc bàn đá dưới bóng râm, mâm cơm sáng do hạ nhân mang tới vẫn đặt nguyên vị trí cũ, thức ăn đã nguội ngắt từ lâu. Hắn không thiền định, không ngắm cảnh, cũng chẳng buồn nhìn mấy con cá đang bơi dưới hồ mà chỉ ngồi đó với dáng lưng thẳng tắp, hai tay đặt ngay ngắn trên đầu gối, đôi mắt lặng yên nhìn về phía mặt nước. Dáng vẻ ấy khiến người ta có cảm giác nếu để mặc hắn ở đây, hắn có thể ngồi cùng hồ nước này thêm ba ngày ba đêm nữa mà chẳng cần đổi tư thế. Ngay cả hơi thở của hắn cũng nhẹ đến mức chỉ khi gió nổi lên, Thiệu Lâm mới biết người kia vẫn còn đang thở.

Thiệu Lâm bước qua cửa vòm rồi dừng lại, anh vốn chưa từng nghĩ mình là người nóng vội. Bao năm trong triều, ngay cả lúc tranh luận với những lão thần khó tính nhất, nụ cười trên môi anh cũng hiếm khi nhạt đi, vậy mà vừa nhìn thấy bóng lưng ngồi bên hồ kia, trong lòng anh lại nảy sinh một cảm giác khó nói. Thiệu Lâm vốn vẫn cho rằng tính khí của mình đã đủ trầm ổn, nhưng không hiểu vì sao đứng trước người này, anh lại thấy chính mình mới là kẻ thiếu kiên nhẫn, so với sự tĩnh lặng đến gần như bất động của Thẩm Uyên, hai mươi hai năm rèn giũa của mình chẳng đáng là bao, như thể bản thân vẫn chỉ là một kẻ vừa mới xuống núi, lòng dạ còn đầy tạp niệm…

Thiệu Lâm lắc đầu tự giễu, bước hẳn tới bên bàn đá. Anh nhìn lướt qua bát cơm còn đầy nguyên, đôi đũa chưa từng dịch chuyển rồi hỏi:

"Không hợp khẩu vị?"

Thẩm Uyên hơi ngước mắt lên, giọng đều đều không nhanh cũng không chậm:

"Không."

"Vậy sao không ăn?"

"Không đói."

Thiệu Lâm ngẩng đầu nhìn trời. Nắng đã lên tới ngọn cây bạch trà, tính ra đã gần trưa. Từ lúc đưa về đêm qua tới giờ, người này chưa từng chạm vào một giọt nước hay một hạt cơm. Nếu không phải cơ thể có vấn đề, thì hẳn là hắn có một nguyên nhân nào khác khiến bản thân không cảm thấy đói. Nghĩ vậy, Thiệu Lâm tiến lên một bước, ngồi xuống chiếc ghế đá đối diện. Gương mặt anh quay lại vẻ ôn hòa thường ngày, anh chìa tay ra.

"Cho ta xem tay một chút."

Thẩm Uyên không hề thắc mắc, thái độ phòng bị của kẻ làm nô lệ lâu năm cũng tuyệt nhiên không thấy. Hắn chìa thẳng cổ tay áo ra trước mặt Thiệu Lâm, sự dứt khoát này khiến Thiệu Lâm hơi bất ngờ.

"Ngươi không hỏi ta muốn làm gì?"

"Không", Thẩm Uyên đáp, đôi mắt vẫn hướng về phía Thiệu Lâm.

Thiệu Lâm nhìn hắn chằm chằm, cảm thấy huyệt thái dương hơi ngứa. Anh đặt hai ngón tay lên cổ tay của Thẩm Uyên rồi tập trung tinh thần, một luồng khí tức thanh nhẹ theo đó thâm nhập vào kinh mạch. Mạch tượng truyền lại rất rõ ràng: Khỏe mạnh, ổn định, không tìm ra một dấu hiệu bệnh tật hay nội thương nào, đến cả độc tố hay phong ấn ẩn giấu cũng hoàn toàn trống vắng. Nhưng không dừng lại ở đó, điều khiến Thiệu Lâm kinh ngạc nhất lại là một thứ khác: Thẩm Uyên không có lấy một tia linh lực, các đường kinh mạch hoàn toàn là của một người bình thường chưa từng chạm vào con đường tu luyện. Hắn là một phàm nhân hoàn chỉnh, không sai một ly.

Thiệu Lâm nhíu mày, ngón tay vẫn giữ nguyên trên cổ tay hắn:

"Ngươi từng bị người khác phế bỏ tu vi?"

"Không."

"Từ nhỏ đã thế này?"

"Ừm."

"Chưa từng học qua công pháp hay tu luyện bao giờ?"

"Chưa."

Thiệu Lâm bắt đầu cảm thấy mình như đang đấm vào không khí. Anh biết mình không cần hỏi thêm nữa, vì có gặng hỏi thì câu trả lời nhận được chắc chắn cũng chỉ ngắn gọn cụt ngủn. Anh tựa lưng vào ghế đá, chăm chú quan sát thiếu niên trước mặt. Đầu óc của vị quân sư bắt đầu rơi vào trạng thái hỗn loạn vì các quy luật tư duy thông thường đều bị phá vỡ.

Một người như vậy... Rốt cuộc sống bằng cách nào?

Thiệu Lâm đứng dậy. Lúc tới đây, anh vốn định điều tra, tìm kiếm chút manh mối hay bí mật ẩn giấu, nào ngờ lúc ra về lại mang theo một đống câu hỏi lớn hơn ban đầu. Bước đến cửa vòm, anh bất giác quay đầu nhìn lại. Bên bờ hồ, Thẩm Uyên vẫn ngồi nguyên vị trí cũ dưới bóng cây bạch trà, ngay cả góc áo xám, tư thế đặt tay hay hướng nhìn của đôi mắt cũng không hề thay đổi dù chỉ một chút. Anh nhìn mâm cơm thêm một lần rồi cuối cùng cũng chỉ biết lắc đầu. Đột nhiên, anh thấy mình không giống đang điều tra một đầu mối, mà giống như đang trông chừng một đứa trẻ rất biết nghe lời...

Xem ra việc điều tra phải để sau, trước mắt anh phải nghĩ cách làm sao cho người này chịu ăn cơm đã.

Thiệu Lâm rời khỏi lối đi vòm cuốn Tây viện. Nha hoàn cúi đầu hành lễ dọc đường khi thấy bóng anh lướt qua, nhưng đến khi đi được một quãng anh mới chợt nhận ra mình vừa quên đáp lễ. Tâm trí anh vẫn treo ngược bên mâm cơm sáng còn y nguyên kia, nên dặn nhà bếp nấu một chút bún cá, hay đổi sang vài món ăn thanh đạm hơn? Anh nghĩ rồi lại tự lắc đầu luôn, một kẻ đã bảo không đói liền có thể ngồi im bất động suốt buổi như Thẩm Uyên, trông không giống chê bai đồ ăn khó nuốt nên cố tình nhịn lắm…

Mạch suy nghĩ cứ thế rẽ sang lối khác nặng nề hơn, một phàm nhân hoàn chỉnh như Thẩm Uyên lại có thể khiến ba phương mật thám sừng sỏ nhất thiên hạ suýt nữa huyết chiến ở chợ ngầm chỉ để tranh đoạt. Càn Vũ cần một phàm nhân làm gì? Bắc Lương hay Tây Vực thì có tính toán gì? Mọi giả thuyết dường như chưa cái nào có câu trả lời thỏa đáng…

Thiệu Lâm dừng lại bên khóm trúc, chỉnh lại vạt áo bị gió thổi lệch, hôm nay trời nổi gió nhiều hơn bình thường. Đúng lúc đó, một hộ vệ vương phủ bước nhanh tới, cúi đầu dâng lên một phong thư bọc da.

"Khương đại nhân, thư từ nha môn Nam thành vừa chuyển đến, đây là tư liệu thu dọn được từ căn nhà cũ của cha đứa bé, mời đại nhân xem qua."

Thiệu Lâm gật đầu nhận lấy thư rồi trở về thư phòng ở Đông viện. Anh ngồi xuống chiếc ghế tựa bằng gỗ, dùng dao nhỏ rạch mép giấy rồi rút tờ báo cáo ra xem. Nha dịch địa phương ghi chép rất tỉ mỉ những món đồ sót lại trong gian nhà tranh ấy: vài bộ quần áo vải thô, một chiếc cuốc rỉ sét cũ kỹ và một chiếc hộp gỗ nhỏ giấu dưới đáy hũ gạo. Bên trong hộp không có tiền bạc, chỉ có ba tờ giấy gồm văn tự thuê đất công, biên lai nộp thuế và một bản khế ước thuê nhà.

Thiệu Lâm đọc lướt qua danh sách, dự định xếp tờ giấy lại để cất vào ngăn kéo. Nhưng ngay khoảnh khắc ngón tay chuẩn bị gập đôi mặt giấy, ánh mắt anh bất chợt dừng lại ở hàng chữ nhỏ ghi ngày tháng lập khế ước thuê nhà.

Năm Thiên Khải thứ hai, tháng Chạp.

Năm nay đã là năm Thiên Khải thứ mười chín, vậy mảnh giấy này đã là vật của mười bảy năm trước. Thiệu Lâm dán mắt vào con số viết bằng mực đã phai màu, một cảm giác quen thuộc chợt dâng lên mơ hồ từ một góc khuất nào đó trong ký ức. Con số "năm thứ hai" này, anh tự quả quyết mình từng bắt gặp ở đâu đó trong đống hồ sơ này rồi. Anh đứng phắt dậy, bước tới tủ lớn rồi ôm chiếc tráp bọc da chứa toàn bộ hộ tịch của mười bảy nạn nhân đặt xuống bàn. Thiệu Lâm giở tập giấy đầu tiên của Trương Nhị, hồ sơ gã phu xe hôm nọ. Mắt anh lướt qua ngày gã mất tích: Năm Thiên Khải thứ mười chín. Anh chuyển sang hồ sơ của một người khác cùng khu vực ấy, thời gian mất tích cũng cách nhau vỏn vẹn vài tuần.

Thiệu Lâm khép tập hồ sơ lại. Anh đứng lặng bên bàn sách, hai tay khoanh trước ngực. Trực giác thôi thúc anh quay lại một chi tiết nào đó, nhưng nhiều năm tra án đã dạy anh rằng trực giác chỉ có giá trị khi tìm được chứng cứ để đối chiếu. Ánh mắt anh đảo khắp mặt bàn, cuối cùng dừng ở lá thư nha môn vừa gửi tới. Trên mặt giấy, bốn chữ "khế ước thuê nhà" nổi bật hơn bao giờ hết.

Thuê nhà… Nhập cư…

Thiệu Lâm ngẩn người, bàn tay nắm chặt mép bàn gỗ. Anh tiếp tục lật lại hồ sơ Trương Nhị, lần này anh bỏ qua ngày gã biến mất mà chỉ tập trung lùng sục mốc thời gian gã đăng ký ghi danh vào sổ tịch địa phương.

Di cư đến ngoại ô Nam Thành: Năm Thiên Khải thứ nhất, tháng Ba. Anh lật tiếp sang gã thợ rèn: Nhập tịch năm Thiên Khải thứ tư, mùa thu. Đến tờ của Tống Thanh Hà, hộ tịch ghi nàng theo cha mẹ nhập tịch vào năm Thiên Khải thứ hai, khi ấy mới bảy tuổi. Hiện giờ cha mẹ nàng đã mất, trong sổ chỉ còn mình nàng đứng tên.

Thiệu Lâm kéo ghế ngồi xuống, thay thỏi mực đã gần cạn rồi trải một tờ giấy bản mới lên mặt bàn. Đầu bút kéo một đường ngang từ mép trái sang mép phải, chia trọn mười chín năm Thiên Khải thành một trục niên đại, sau đó anh mở từng quyển hộ tịch đặt cạnh tay, đối chiếu ngày nhập tịch rồi lần lượt chép tên từng người xuống đúng vị trí của họ.

Mực trên giấy mỗi lúc một dày thêm, còn khoảng trống phía sau năm Thiên Khải thứ tư vẫn nằm im không một nét bút. Thiệu Lâm lật thêm một quyển, rồi thêm một quyển nữa, từ đầu đến cuối vẫn chỉ thấy những mốc thời gian quen thuộc lặp đi lặp lại: năm thứ nhất, năm thứ hai, năm thứ ba, năm thứ tư. Đến người cuối cùng, anh mới dừng bút rồi nhìn dọc theo trục thời gian vừa kẻ.

Bốn năm… chỉ có bốn năm…

Phía sau năm Thiên Khải thứ tư là một khoảng trắng kéo dài cho đến tận năm thứ mười chín. Thiệu Lâm đặt bút xuống, trong đầu lập tức lật lại từng mốc lớn của triều Thiên Khải. Trong những năm đó, không hề có đại hạn, cũng không có dịch bệnh, càng không có chiến sự nào. Nam thành suốt mười mấy năm ấy vẫn yên ổn như bao vùng ngoại ô khác, không có biến cố nào đủ sức khiến mười bảy con người từ những thân phận hoàn toàn khác biệt lại đồng loạt dừng chân trong cùng một khoảng thời gian rồi từ đó trở đi chẳng còn ai nối tiếp.

Ý nghĩ ấy vừa hiện lên, anh bỗng nhớ tới một câu từng đọc trong một quyển sách cũ: trùng hợp chỉ tồn tại một lần, đến lần thứ hai phải gọi là dấu vết.

Mười bảy người này cũng vậy.

Thiệu Lâm ngồi nguyên trước bàn sách, mắt vẫn dừng trên trục niên đại vừa vẽ. Anh lật đi lật lại từng khả năng trong đầu, thử đặt chúng vào khoảng trống sau năm Thiên Khải thứ tư rồi lại tự tay gạch bỏ từng cái một. Mãi đến khi ngoài cửa sổ, vệt nắng trên nền gạch đã dịch quá nửa gian phòng, anh mới gom lại toàn bộ hồ sơ, cuộn tờ giấy bản còn chưa ráo mực rồi cầm lấy, bước thẳng về phía chính điện Chu Huyền Vương phủ.

Trong phủ, Yên Vũ đang phê duyệt mấy bản tấu chương từ Tuyên Chính điện gửi tới. Ở góc án thư, thế cờ vây với ba quân ngọc đen bủa vây vùng Thanh Sa vẫn nằm im lìm từ sáng.

"Người xem đi", Thiệu Lâm tiến đến, đặt chồng công văn cùng tờ giấy nháp ngay trước tầm mắt nàng.

Yên Vũ buông bút, nhận lấy tập hồ sơ rồi giở từng trang. Chính điện yên ắng, chỉ còn tiếng giấy bản lật nhẹ vang lên giữa khoảng không. Xem đến dòng cuối cùng, Yên Vũ mới ngước mắt lên.

"Có ai gốc gác Nam thành không?"

"Không có."

"Có ai tới đây trước năm Thiên Khải thứ nhất?"

"Cũng không”, Thiệu Lâm lắc đầu.

"Còn những kẻ mới chuyển đến vài năm qua?"

"Hoàn toàn không, tất cả đều gói gọn trong bốn năm đầu niên hiệu."

Yên Vũ khép tập hồ sơ lại, nàng lặng người giây lát rồi nhìn sang Thiệu Lâm, trong đầu bỗng nối được một mắt xích.

"Nếu ngươi muốn biến mất, ngươi sẽ chọn nơi nào?"

Thiệu Lâm thoáng ngớ người trước câu hỏi, nhưng lập tức lấy lại vẻ tự nhiên.

"Biên cảnh."

"Vì sao?"

"Nơi đó khuất nẻo, ít người qua lại."

"Thanh Sa cũng là biên cảnh”, Yên Vũ nhìn anh một lúc rồi cất tiếng.

Trong đầu Thiệu Lâm hiện lên cảnh quân lính vùng biên giới thay phiên tuần phòng, trạm gác dựng san sát, thương đội ra vào không dứt, mật thám các nước chen lẫn giữa dòng người qua lại ở Thanh Sa. Muốn biến mất ở một nơi như thế chẳng khác nào tự đặt mình dưới vô số cặp mắt. Nhưng Nam thành thì không. Cũng là đất giáp biên, nhưng nơi đây bình lặng đến mức gần như bị cả triều đình lãng quên.

Đến lúc ấy, Thiệu Lâm mới nhận ra mình đã sai ngay từ giả thiết đầu tiên.

Yên Vũ chẳng biết đã đứng dậy từ lúc nào, nàng bước đến tủ treo bản đồ, khép hai cánh cửa gỗ lại. Bóng tối từ phiến gỗ dày đổ xuống phủ kín vệt mực đỏ khoanh vùng ngoại ô Nam thành. Nàng đứng tựa bên thành tủ, mắt hướng ra khoảng sân ngập nắng phía hành lang, buông một câu trước khi rời gót.

"Có lẽ...nơi họ chọn để trốn cuối cùng vẫn không đủ yên."

Không gian trong chính điện im lặng thêm một lúc, Yên Vũ là người lên tiếng trước.

"Phía Thẩm Uyên thế nào?"

"Ta không tra được gì”, Thiệu Lâm cười bất đắc dĩ.

"Không tra được?"

"Không có gì để tra."

Thiệu Lâm thở dài, vẻ mặt có chút tự giễu:

"Một phàm nhân bình thường, bình thường đến mức không tìm nổi một sơ hở."

Yên Vũ im lặng một thoáng rồi hỏi tiếp.

"Còn con người hắn?"

Thiệu Lâm trầm ngâm vài giây, ánh mắt dời sang chiếc hộp da trên bàn.

"...Ta chưa từng gặp loại người nào như vậy."

"Là sao?"

"Ta không biết hắn đang nghĩ gì...Hắn giống một người chưa từng học cách che giấu, hoàn toàn không có chút tạp niệm hay ham muốn, cũng chẳng có chút tâm lý phòng bị nào của một kẻ làm nô lệ lâu năm."

"Hắn nói gì?"

"Không nhiều”, Thiệu Lâm lắc đầu cười.

"Từ lúc ta đặt chân vào Tây viện đến lúc rời đi... hắn nói chưa đến chục chữ."

Yên Vũ gật đầu.

"Ngày mai chúng ta đi."

"Người muốn tự mình hỏi?"

"Ừ."

"Sợ rằng kết quả cũng chẳng khác là bao."

"Vậy thì để ta thử.", Yên Vũ đứng bên thành tủ, mắt hướng thẳng ra ngoài hành lang đầy gió.

"Thanh Sa không đợi chúng ta. Trước khi khởi hành, ta muốn biết người mình mang theo rốt cuộc là ai."

Thiệu Lâm nhìn dáng lưng thẳng tắp của nàng rồi gật đầu đồng tình. Thanh Sa quả thật chỉ còn lại bảy ngày.

0