Quyển 1: Đại Xuân Biên Niên Sử
Chương 19: Đê Của Ai
Phong Sương Niên Ký
Mục lục
19 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 19/19 chương
Việc dưới đây xảy ra vào tháng Mười Một năm Mậu Tuất, hơn một năm sau trận vỡ đê ở thượng lưu, hai tháng trước khi trát bắt phu về tới các huyện.
Gió bấc thổi xuôi về phía cửa sông, rít qua bãi sậy, mang theo mùi bùn.
Đoạn đê hạ lưu vỡ năm ngoái giờ chỉ còn là một cái hõm dài chừng ba trăm bước, hai đầu đê cũ dựng đứng như hai cái hàm răng bị nhổ mất một mảng ở giữa. Người ta đã chắn tạm bằng cọc tre với bao tải đất, chắn được qua mùa cạn thì hay mùa cạn ấy, còn qua mùa nước thì chẳng ai dám nói. Phía trong đê, cả một vùng đồng trũng phẳng lì, xám xịt, đất còn trắng muối, lác đác mấy cái nền nhà đã mất mái, mấy cây cau chết đứng, thân trơ trụi như những cây sào cắm xuống ruộng.
Đặng Tiến Minh đứng trên đầu đê phía bắc, hai tay chắp sau lưng.
Ông mặc áo bào chàm sẫm, không đeo giáp, không mang ấn. Người đứng xa trông vào chỉ thấy một ông quan tuổi ngoài năm mươi, vai rộng, lưng thẳng như cây cột đình, tóc hai bên thái dương đã muối tiêu, búi gọn dưới cái khăn lượt đen. Gương mặt ông không có gì dữ. Cái dữ nằm ở chỗ ông đứng nhìn một cái hõm đê suốt từ lúc mặt trời lên tới giờ mà mắt chưa chớp mấy lần.
Viên tham quân đứng sau ông ba bước, ôm cái tráp sơn đen trước ngực, hai bàn tay đã tím tái vì gió.
"Đọc lại." Đặng Tiến Minh nói.
Viên tham quân mở tráp, rút ra một tờ giấy đã sờn mép.
"Bẩm. Lũ tháng Bảy năm Đinh Dậu. Thượng lưu, vỡ đê ở bốn làng, làng Lò Trấu thiệt nặng nhất. Hạ lưu, vỡ đê ở khúc này. Chết đuối, số đếm được, một nghìn hai trăm ba mươi bảy người. Chết vì dịch sau lũ, số đếm được, hai nghìn không trăm mười bốn người. Số không đếm được, bẩm, huyện nào cũng ghi là không đếm được."
"Không đếm được." Đặng Tiến Minh nhắc lại.
"Bẩm vâng."
Ông không nói gì nữa. Gió thổi phần phật vạt áo bào. Ở dưới chân đê, mấy con cò trắng lội giữa vùng nước đọng, cúi đầu mổ mổ, chẳng biết đang mổ cái gì.
Viên tham quân đợi một lúc, không thấy ông hỏi thêm, bèn gấp tờ giấy lại, cất vào tráp, rồi lại rút ra một phong thư khác, phong thư dán bằng sáp đỏ, trên mặt đóng cái dấu son vuông vức.
"Bẩm, hồi đáp của phủ Thượng Phụ, vừa tới sáng nay."
Đặng Tiến Minh quay lại. Ông cầm phong thư, lật mặt sau nhìn cái dấu son một lúc, rồi dùng móng tay cái cạy lớp sáp.
Chữ trong thư đẹp. Nét nào ra nét ấy, đậm nhạt đúng chỗ, đọc lên thấy êm tai như nghe một người có học ngồi giảng sách. Chữ đẹp tới mức Đặng Tiến Minh biết ngay không phải chữ của Trịnh Gia Mưu, bởi Trịnh Gia Mưu chẳng bao giờ tự tay viết một thứ gì mà sau này có thể bị đem ra đọc trước triều. Nhưng từng câu trong ấy thì là câu của Trịnh Gia Mưu, cái đó ông cũng biết.
Thư viết, đại ý, rằng phủ Thượng Phụ đã tâu lên, xin xá thuế đinh một năm cho các huyện bị lũ, vua đã chuẩn. Dân các huyện ấy đội ơn. Thế nên quốc khố năm nay hụt một khoản lớn, lại còn phải chu cấp cho Tây Trấn đang có biến ở mạn Thánh Vực, không thể cấp thêm ba nghìn quân, cũng không thể cấp bạc thuê dân đắp đê.
Thư viết tiếp, rằng về việc Thái Úy nghi có kẻ phá đập ở thượng lưu, phủ Thượng Phụ đã cho tra xét. Chưa tìm thấy chứng cứ. Nếu không có chứng cứ mà cất quân lên biên, thì trong nước người ta sẽ bảo triều đình đem lũ lụt ra làm cớ, còn ngoài biên thì Hạo Nguyên sẽ bảo Đại Xuân động binh trước, được thể mà xua kỵ binh sang. Thượng Phụ cho rằng đó là việc bất lợi.
Rồi tới cuối thư, một câu viết nhỏ hơn, như viết thêm cho có:
Đê là đê của dân. Dân giữ đê thì đê giữ dân. Xin Thái Úy liệu theo lệ cũ mà làm.
Đặng Tiến Minh đọc hết, gấp thư làm đôi, rồi làm tư. Ông cầm tờ thư gấp tư trong tay, gõ gõ nhè nhẹ vào lòng bàn tay kia, nhìn ra cái hõm đê.
Lệ cũ. Tức là bắt phu.
Trịnh Gia Mưu xin xá thuế cho dân, dân đội ơn Thượng Phụ. Rồi Trịnh Gia Mưu bảo Thái Úy theo lệ cũ mà làm, tức là Thái Úy bắt phu, dân chửi Thái Úy. Một lá thư, không có câu nào sai, không có chữ nào hở. Mà đọc xong thì ông thấy như có người vừa nhét vào tay mình một cái cuốc, bảo mình tự đào lấy cái hố mà đứng vào.
Ông không giận. Giận là thứ của kẻ còn biết bất ngờ, mà ông với Trịnh Gia Mưu đã hết bất ngờ về nhau từ lâu. Người ấy thương nước, ông chưa bao giờ ngờ chuyện đó. Ông cũng thương nước. Chỉ có điều nước thì một, mà cái ghế ngồi bên cạnh ngai vàng để thay vua mà thương nước thì chỉ vừa một người. Cách của người ấy thì dân nhớ tên. Cách của ông thì dân nhớ mặt. Còn cách hai người đối với nhau thì chẳng ai nhớ, vì chẳng ai được thấy.
Mùa thu năm ngoái, một viên chủ sự Hộ Bộ, người của phủ Thượng Phụ, kẻ đã đem sổ quân lương của ông ra đọc từng dòng trước triều, chết đuối ở bến sông ngoài kinh thành. Người ta vớt lên, bảo say rượu trượt chân. Tờ khám nghiệm gửi tới án thư của ông, ông đọc, rồi gấp lại. Ông không hỏi thêm câu nào. Hôm đưa đám, phủ Thượng Phụ gửi tới một bài văn tế, chữ rất đẹp, đọc lên nghe êm tai, trong ấy có một câu nói người chết là bậc trung thần, chết oan như cá mắc cạn, chết mà chưa nói hết được điều muốn nói.
Cả triều đọc câu ấy, rồi cả triều nhìn sang ông.
"Còn một việc nữa, bẩm." Viên tham quân nói, giọng nhỏ hẳn đi. "Đông Trấn tướng quân tới rồi. Đang ở dưới chân đê."
Ngô Yết Hải chưa lên tới đầu đê đã cười.
"Thái Úy! Đứng đây từ sáng tới giờ à? Gió này mà đứng lâu thì đến cá cũng phải chết cóng."
Hai mươi năm sống trên đất liền, giọng ông ta vẫn chưa gột hết cái âm ngoài đảo, chữ cuối câu nào cũng kéo dài ra, cong lên, như con sóng đánh vào mạn thuyền rồi mới chịu tan.
Ông ta to hơn Đặng Tiến Minh gần một cái đầu, ngực nở, cổ bạnh, da cháy đen như cái mo cau phơi nắng, bộ râu quai nón xoăn tít. Thanh đại đao đeo chéo sau lưng, cán đao dài quá đầu. Ông ta bước lên đê mà như bước lên mạn thuyền, hai chân dạng rộng, người nghiêng nghiêng theo gió, mỗi bước đều lún xuống mặt đất mềm một vết sâu hoắm.
Tới trước mặt Đặng Tiến Minh, ông ta chắp tay, cúi đầu, rồi thẳng lưng lên ngay, móc trong vạt áo ra một cái bầu da, mở nút, chìa ra.
"Rượu Đông Trấn. Uống một ngụm cho ấm bụng."
"Ta không uống lúc làm việc."
"Thì ông cứ làm việc. Tôi uống hộ." Yết Hải ngửa cổ tu một hơi, lau râu bằng mu bàn tay, rồi quay ra nhìn cái hõm đê, nụ cười trên mặt nhạt dần.
Ông ta nhìn lâu. Rồi ông ta đi dọc theo mép đê, đi tới chỗ đầu đê cũ gãy xuống, ngồi xổm, thò tay vớt một vốc nước dưới chân đê lên, để nước chảy qua kẽ ngón tay, nhắm mắt lại.
Đặng Tiến Minh đứng chờ, không hỏi.
Một lúc sau, Yết Hải mở mắt, vẩy tay cho khô, đứng dậy.
"Tôi đã lên thượng lưu, như ông bảo." Ông ta nói, giọng đã khác hẳn, trầm xuống, không còn cười. "Tới đúng chỗ ông đắp đập hồi tháng Sáu năm ngoái. Đập của ông đắp tốt. Mười chín ngày mưa, nó giữ được mười tám ngày."
"Ngày thứ mười chín thì sao."
"Ngày thứ mười chín, có người phá." Yết Hải nói. "Không phải nước phá. Nước phá thì đập vỡ từ trên mặt xuống, vỡ loang ra. Đằng này nó vỡ từ chân, vỡ một đường thẳng, gọn như người ta lấy dao mà rạch. Kẻ phá đập đứng dưới nước mà phá."
Đặng Tiến Minh gật đầu, chậm. Cái đó ông đã đoán. Nghe người khác nói ra thì cũng chẳng nhẹ đi chút nào.
Ông quay sang nhìn thẳng vào Yết Hải.
"Ông làm được thế không?"
Yết Hải không tránh cái nhìn ấy.
"Hồi trẻ thì làm được." Ông ta vỗ vỗ lên cái bụng to tròn của mình. "Giờ bụng thế này, lặn lâu thì đuối. Nhưng lặn xuống chém một đường dưới chân đập thì vẫn chém được."
Nói xong ông ta cười, như vừa kể một chuyện vui. Đặng Tiến Minh không cười. Được một lúc thì Yết Hải cũng thôi cười.
"Người Long Kình."
"Người Long Kình thì làm được." Yết Hải nói, không nhận, cũng không chối. "Nhưng tôi không thấy người. Tôi chỉ thấy cái vết."
"Thuyền của chúng đậu ở đâu, đêm ấy?"
"Theo lời quân do thám của ông, ở khúc quanh dưới chân núi, cách đập của ông chừng năm dặm."
"Năm dặm." Đặng Tiến Minh nói. "Ta đã tính. Năm dặm, sông quanh hai khúc, rừng che. Ta tưởng như thế là đủ xa."
Yết Hải im lặng một lúc. Rồi ông ta nói, giọng chậm lại, như đang cân từng chữ trước khi thả ra.
"Người Long Vĩ, những đứa được dạy từ nhỏ như tôi ngày trước, đứng trên mạn thuyền nhắm mắt lại là nghe được nước. Nước chảy nhanh hay chậm, chảy về đâu, chỗ nào nước đứng lại không chịu chảy. Đứa giỏi thì nghe được trong vòng mười dặm." Ông ta ngừng một chút. "Ông đắp đập cách chúng nó năm dặm, Thái Úy. Nước đứng lại mười tám ngày. Chúng nó nghe thấy từ ngày đầu."
Đặng Tiến Minh không nói gì. Ông đứng yên, hai tay vẫn chắp sau lưng, nhưng những ngón tay đang nắm tờ thư gấp tư siết lại, bóp nhàu một góc giấy.
Cái đập ấy là của ông. Ông đắp đập ở thượng lưu để chặn đường thuyền buôn lậu đi ngược lên núi, những chiếc thuyền chở muối, chở sắt lên cho tàn quân họ Mạc đang náu ở dãy núi phía Bắc. Quân do thám của ông đã bám theo những chiếc thuyền ấy ba tháng. Người chèo thuyền nói giọng ngoài đảo, nhưng người nào cũng có tên trong sổ hộ của một làng ven sông nào đó, có nhà, có ruộng, có mồ mả tổ tiên ba đời ở đất Đại Xuân. Ông biết chúng là ai. Ông biết chúng làm cho ai. Ông chỉ không có cách nào đặt cái biết ấy lên án thư trước mặt vua.
Viên tham quân đã có lần bàn, hay là cứ bắt đại mấy đứa chèo thuyền về mà tra, roi vọt tới đâu thì lời khai ra tới đấy. Ông gạt đi. Roi vọt tới đâu thì lời khai ra tới đấy thật, nhưng cái thật thì chưa chắc đã ra. Ông không kết tội người ta bằng một thứ mà chính ông cũng không tin. Kẻ có tội thì phải chết, nhưng phải chết vì đúng cái tội của nó, không phải vì cái tội mà người ta cần nó mang.
Nên ông đắp đập. Ông định dâng nước lên, đợi thuyền chúng mắc cạn ở khúc dưới, rồi bắt người, bắt hàng, có tang chứng.
Chúng nó nghe thấy nước từ ngày đầu. Chúng nó đợi tới ngày thứ mười chín, ngày mưa to nhất, rồi mới phá.
Một nghìn hai trăm ba mươi bảy người, số đếm được.
"Mười dặm." Đặng Tiến Minh nói, rất khẽ, như nói với chính mình.
Yết Hải liếc sang ông. Ông ta định nói gì đấy, rồi thôi, lại móc cái bầu rượu ra tu một ngụm.
Trong lều dựng tạm ở đầu đê, có một cái bàn gỗ ghép, trên trải tấm bản đồ vẽ tay, mực đã nhòe mấy chỗ vì hơi ẩm. Con sông chạy từ góc trên bản đồ xuống góc dưới, uốn khúc như một con rắn nằm phơi mình. Dọc hai bên bờ, những chấm mực nhỏ đánh dấu làng, chấm nào cũng giống chấm nào, bên cạnh ghi tên bằng chữ con kiến.
Đặng Tiến Minh ngồi xuống. Yết Hải ngồi đối diện, gác thanh đại đao ngang đùi. Viên tham quân đứng bên cạnh mài mực, tay run run, cái thỏi mực cứ trượt đi trượt lại trên nghiên kêu sàn sạt.
"Theo lệ cũ." Đặng Tiến Minh nói, đặt tờ thư của phủ Thượng Phụ xuống bàn. "Bắt phu các huyện dọc sông. Mỗi hộ một suất, tuổi từ mười sáu tới năm mươi. Hộ nào có đinh mà không đi thì nộp tiền thế. Tự mang lương mười ngày, sau đó quan cấp."
"Bao lâu?" Yết Hải hỏi.
"Ba tháng."
"Ba tháng thì không xong được đoạn này."
"Ta biết." Đặng Tiến Minh nói. "Nhưng ba tháng là mức dân còn chịu được. Bắt đi sau Tết, về trước khi cấy vụ mùa. Bắt lâu hơn thì ruộng bỏ hoang, sang năm lại đói, đói thì loạn, loạn thì ta lại phải đem quân về dẹp. Ba tháng. Xong được bao nhiêu thì xong, năm sau lại bắt."
Yết Hải không cãi. Ông ta chỉ đưa ngón tay to như cái dùi trống, gõ nhẹ lên bản đồ, gõ dọc theo con sông từ dưới lên trên, gõ qua từng chấm mực một.
"Những làng thượng lưu này, năm ngoái lũ cuốn trước tiên. Giờ lại bắt người xuống đắp đê hạ lưu."
"Đê hạ lưu vỡ thì cả vùng đồng bằng chết. Đê thượng lưu vỡ thì chết mấy làng."
"Mấy làng ấy cũng là làng."
Đặng Tiến Minh ngẩng lên nhìn ông ta.
Yết Hải không tránh cái nhìn ấy. Ngón tay ông ta dừng lại trên một chấm mực nằm ở khúc sông phía trên, sát cái chỗ bản đồ vẽ mấy nét răng cưa tượng trưng cho bức tường thành đá biên giới. Cái chấm ấy chẳng to hơn chấm nào, bên cạnh ghi hai chữ, nhòe mất một nửa. Đặng Tiến Minh nheo mắt đọc. Lò Trấu.
"Ông không phải đi nhìn mặt họ, Thái Úy." Yết Hải nói. "Ông chỉ nhìn cái chấm mực. Thế nên tôi nhìn hộ ông một lần, rồi nói cho ông biết, vậy thôi."
Trong lều im lặng. Ngoài kia, gió thổi rào rạt qua bãi sậy, tiếng nước vỗ vào chân đê ì oạp, lúc gần lúc xa.
"Ông trách ta." Đặng Tiến Minh nói, giọng không có ý hỏi.
"Không trách." Yết Hải lắc đầu, rồi lại bật cười, cái tiếng cười to, ồ ồ, làm viên tham quân giật mình suýt đánh rơi thỏi mực. "Tôi mà trách thì ông đã cho tôi về Đông Trấn ngồi đếm cá từ lâu rồi. Tôi chỉ nói cho ông nghe, lúc ông đặt bút thì đừng quên. Thế thôi."
Đặng Tiến Minh nhìn ông ta một lúc lâu. Rồi ông kéo tờ giấy trắng lại gần.
"Thêm một khoản." Ông nói với viên tham quân. "Ngoài bồi đắp đê điều, khai thêm thủy áp. Ở đây, ở đây, và ở đây." Ngón tay ông chấm xuống ba chỗ dọc khúc sông hạ lưu, đều nhau như ba cái đinh đóng xuống.
Yết Hải nhướng mày.
"Cống thoát nước à?"
"Cống thoát nước." Đặng Tiến Minh đáp, mắt không rời bản đồ. "Mùa lũ mở ra cho nước thoát, mùa cạn đóng lại giữ nước cho ruộng. Dân được lợi."
Yết Hải nhìn ba cái chấm ngón tay còn in trên bản đồ, rồi nhìn Đặng Tiến Minh. Cái nhìn của ông ta lúc ấy không phải cái nhìn của một người vừa nghe chuyện làm cống thoát nước. Nhưng ông ta chẳng nói gì. Ông ta chỉ nâng cái bầu rượu lên, ngửa cổ tu, tu rất lâu.
Ba cái thủy áp ấy nằm đúng ba khúc sông mà thuyền buôn muối, buôn gạo của những nhà buôn đứng sau phủ Thượng Phụ ngày nào cũng qua lại, ngược lên thì chở muối, xuôi về thì chở thóc. Từ nay, mở cống hay đóng cống, nước lên hay nước xuống, thuyền đi được hay nằm mắc cạn giữa lòng sông, là việc của phủ Thái Úy. Dân được lợi, điều ấy đúng. Trịnh Gia Mưu đọc tờ trát này thì sẽ hiểu cái lợi thứ hai.
Ông muốn Trịnh Gia Mưu hiểu.
Viên tham quân mài xong mực, lui ra ngoài lều đứng chờ. Yết Hải cũng đứng dậy, khoác thanh đại đao lên lưng, định chào về.
Tới cửa lều, ông ta dừng lại.
"À, suýt quên. Tôi ghé qua kinh, gặp thằng Phong nhà ông."
Đặng Tiến Minh đang cầm bút, cây bút khựng lại giữa không trung.
"Nó thế nào?"
"Khỏe như vâm." Yết Hải cười khà khà, xòe bàn tay to bè ra, gập từng ngón xuống mà đếm. "Mười lăm tuổi đỗ Võ Trạng nguyên, tới giờ kinh thành còn nhắc. Năm năm sau đã chạm đỉnh Hoá Thành. Tôi đứng cạnh nó mà nghe chân khí trong người nó cuộn lên ầm ầm, như nước dồn sau đập. Hai mươi tuổi mà đứng ngay trước cửa Trấn Quốc rồi, Thái Úy à. Đám tướng già trong kinh bảo từ ngày lập Tứ Trấn tới giờ chưa ai hai mươi tuổi mà đứng được tới chỗ ấy."
Đặng Tiến Minh đặt bút xuống nghiên.
Ông không nói gì. Ông chỉ ngồi im, hai bàn tay đặt trên mép bàn, mắt nhìn vào tấm bản đồ mà như không nhìn thấy gì trên đó. Yết Hải đứng ở cửa lều, nụ cười trên mặt chậm chạp tắt đi.
"Tốt." Đặng Tiến Minh nói, sau một lúc lâu.
Chỉ một chữ. Nhưng Yết Hải đứng đợi thêm, như đợi chữ thứ hai. Chữ thứ hai không tới.
"Ừ, tốt." Yết Hải nói, rồi gãi gãi bộ râu, quay đi. "Thôi, tôi về. Có việc gì trên sông thì ông cứ cho người gọi."
Đặng Tiến Minh nhìn theo cái lưng to bè ấy.
Hai mươi năm trước, thuyền tuần ngoài cửa biển Đông vớt được một thằng thanh niên bám vào mảnh ván vỡ, trôi hai ngày hai đêm giữa biển mà vẫn còn thở. Nó nói giọng ngoài đảo. Hỏi vì sao bỏ Long Vĩ, nó không khai, chỉ bảo không về được nữa. Lính tuần đòi dìm nó xuống biển trả lại cho Long Vĩ. Chính ông giữ nó lại, cho nó bát cơm, cho nó lên thuyền, rồi hai mươi năm sau tiến cử nó lên giữ cả Đông Trấn. Hai mươi năm, nó chưa làm một việc gì để ông phải ngờ.
Nhưng nó vẫn là người Long Vĩ. Ông biết thế. Nó cũng biết ông biết thế.
"Yết Hải."
Ông ta dừng lại, ngoái đầu.
"Ông còn ai ngoài Long Vĩ không?"
Yết Hải đứng im trong một thoáng. Chỉ một thoáng. Rồi ông ta cười, lần này cười nhỏ hơn mọi lần.
"Còn một bãi mộ tổ với mấy người họ hàng, chắc chẳng ai còn nhớ mặt tôi." Ông ta nói. "Thái Úy muốn tôi về thăm à?"
"Không." Đặng Tiến Minh đáp. "Ta chỉ hỏi."
"Thế thì tôi chỉ đáp." Yết Hải chắp tay, cúi đầu, rồi bước ra khỏi lều.
Đặng Tiến Minh nghe tiếng bước chân nặng nề của ông ta xa dần trên mặt đê, rồi tiếng ngựa hí, rồi tiếng vó ngựa lộp cộp xuống dốc, rồi chỉ còn tiếng gió.
Ông cầm bút lên.
Ông viết chậm. Viết xong một câu thì dừng lại, đọc lại, rồi mới viết câu sau.
Trát này không mang tên ông. Theo lệ, trát của phủ Thái Úy gửi xuống trấn, trấn chuyển xuống phủ, phủ chuyển xuống huyện, tới huyện thì quan huyện sở tại chép lại, đóng dấu huyện, ký tên mình vào, rồi cho người đem về từng làng, đọc ở từng sân đình. Mỗi cấp ký một lần, chỉ ký phần của cấp mình. Tới lúc lão mõ ở một cái làng nào đó cầm cái mõ ra đầu đình gõ cốc cốc, thì chẳng còn ai trong sân đình biết tờ giấy ấy đã bắt đầu từ cái lều nào, trên đoạn đê nào, dưới ngọn bút của ai.
Ông nghĩ tới tờ thư gấp tư của phủ Thượng Phụ, nét chữ đẹp, không hở chỗ nào.
Ông nghĩ tới con số một nghìn hai trăm ba mươi bảy, và cái số không đếm được.
Ông nghĩ tới mười dặm.
Ông nghĩ tới thằng con trai hai mươi tuổi đang đứng ngay trước cái ngưỡng mà nhiều người cả đời đứng trước mà không bước nổi. Nước dồn sau đập, Yết Hải bảo thế. Bước qua rồi thì nó không còn chỉ là con ông nữa. Nó là một Trấn Quốc, mà Trấn Quốc thì là của nước. Ông thấy trong ngực có một thứ gì đó vừa nóng lên vừa nặng xuống, như một thỏi sắt nung rơi vào nước.
Rồi ông viết nốt dòng cuối, đặt bút xuống, gọi viên tham quân vào.
"Gửi đi. Ra Tết thì phải tới các huyện."
"Bẩm vâng."
Viên tham quân cuộn tờ trát lại, buộc dây, bỏ vào ống tre, rồi ôm lấy chạy ra. Đặng Tiến Minh ngồi lại một mình trong lều, nhìn tấm bản đồ. Ngọn đèn dầu leo lét trên bàn, cái bóng của ông đổ dài lên vách lều, lay lay theo gió.
Ngón tay ông lần theo con sông, từ dưới lên trên, qua từng chấm mực, tới cái chấm nhòe mất một nửa nằm sát chân bức tường thành đá.
Ông để ngón tay ở đấy một lúc. Rồi ông nhấc tay lên, gấp tấm bản đồ lại.
Trát bắt phu về tới Lò Trấu vào tháng Giêng năm Kỷ Hợi, đọc ở sân đình trước mặt cả làng, ký tên quan huyện sở tại.
Trong làng không ai biết Thái Úy họ Đặng tên là gì.
Một thanh gươm tuốt giữa triều đình,
Diệt gian trừ ác chẳng cầu vinh.
Phụng Quyết tro tàn nhen lại lửa,
Con hay quốc, cũng một lòng minh.
Được yêu thích bởi: Đại Hiệp Mèo
Thảo luận
Bình luận chương
2 bình luận
Đại Hiệp Mèo
28/09/2026 18:02
ko edit dc bình luận haha. m cần nói thêm là truyện hay, nội dung ngon, tên chap cũng hay, chỉ có tên truyện là mình dễ bỏ qua vì theo cá nhân m là chưa xứng vs nội dung
Đại Hiệp Mèo
28/09/2026 18:00
truyệnn vỉét rất chắc tay. cẩn trọng. đọc văn, câu từ nó sung sướng cả người