Quyển 1: Đại Xuân Biên Niên Sử
Chương 17: Mùng Ba Tết Thầy
Phong Sương Niên Ký
Mục lục
19 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 19/19 chương
Phong Khởi Sương Reo
Gió đâu nổi tự ngoài biên,
Thổi qua đê vỡ, thổi phiền về đây.
Sương reo trên mái rạ gầy,
Người đi gánh đất đắp đầy chân đê.
Sau rằm tháng Tám, ngày tháng ở Lò Trấu cứ thế trôi đi như nước dưới mương, chẳng ai buồn đếm, mà ngoảnh lại thì đã chảy mất một quãng dài.
Luân thì đếm.
Nó đếm bằng những việc ngày nào cũng lặp lại. Canh tư dậy quét sân, gánh đầy hai chum sành, nhóm bếp, thổi cơm, rồi nắm hai nắm cơm, một cho nó, một cho thằng Cò. Đê đắp xong từ cuối tháng Bảy mà ông lang vẫn chưa bảo nắm nhỏ lại, thành ra sáng nào nó cũng nắm to như hồi còn đắp đê. Nó chẳng dám hỏi, sợ hỏi thì ông nhớ ra. Trưa lật thuốc trên giàn phơi. Ngày có lớp thì ngồi ở góc chiếu cuối cùng mà tô chữ lên tấm bảng. Chiều xuống cái điếm hoang dưới chân Dốc Cửa Mả, đưa lão ăn mày nửa nắm cơm, nửa to, rồi đứng tấn, chạy, né, ngã, chém cây chuối. Tối rửa cối, rửa chày, quét gian thuốc, nằm xuống ổ rơm thì đọc bốn câu vè mà thở, đọc tới lúc quên mất mình đang đọc thì ngủ.
Cái tên Minh Luân thôi không còn là trò vui của bọn trẻ nữa. Người lớn trong làng thì gọi nó thế nào là tuỳ bụng người ta, người gọi thằng Bần nhà ông lang, người gọi thằng Luân, có ông cụ ở đầu xóm Trung còn gọi nó là cậu Minh Luân rồi cười móm mém. Gọi thế nào nó cũng dạ, dạ xong rồi mới đi.
Sang tháng Mười thì gặt. Luân theo thằng Cò đi mót lúa ở những thửa ruộng nhà giàu vừa gặt xong, lom khom nhặt từng bông rơi, được bao nhiêu thì đem về đổ vào cái bồ nhỏ trong góc bếp. Ông lang liếc qua cái bồ, bảo cứ để đấy, tính vào công. Sang tháng Mười Một thì gió bấc về, sương muối đọng trắng xoá trên những gốc rạ, đêm nằm trong ổ rơm thằng Cò co tròn lại như con cuốn chiếu, hai hàm răng đánh vào nhau cầm cập.
"Mày không rét à?"
"Rét."
"Rét mà răng mày không đánh bò cạp?"
Luân nghĩ một lúc.
"Tại cơm."
Thằng Cò hừ một tiếng, kéo tuột cả cái chăn chiên về phía mình. "Cơm nhà lão lang thì có cái gì mà ấm."
Luân chịu, không đáp được. Nó chỉ biết mỗi tối đọc hết mấy lượt vè thì cái chỗ dưới rốn lại âm ấm, ấm như vừa uống một ngụm nước cơm nóng. Mà lão ăn mày đã bảo là tại cơm, thì nó cứ tin là tại cơm.
Ở điếm, lão ăn mày chẳng bao giờ khen câu nào. Hồi tháng Sáu, ôm hai hòn đá cuội lên đỉnh dốc, vòng qua cây gạo rồi chạy xuống, đủ mười lượt là nó nằm vật ra thở phì phò như trâu kéo cày lên dốc. Sang tháng Chín thì mười lượt xong nó vẫn còn đứng được, chân run lẩy bẩy nhưng vẫn đứng. Lão ăn mày thấy nó đứng được thì chẳng nói gì, chỉ giơ thêm hai ngón tay. Mười hai. Tới tháng Chạp thì mười lăm, vẫn hai hòn đá cuội cũ. Nó chẳng thấy mình khoẻ ra chút nào. Nó chỉ thấy mình lâu đứt hơi hơn trước.
Còn thằng Hợi, từ bữa ở thửa chiêm trũng, hai đứa đi theo nịnh nó cũng thôi không đi theo nữa. Thỉnh thoảng Luân gặp nó ở đầu ngõ Mương Đen, lúc nó đang gánh nước lợn, lúc đang cọ cái máng gỗ bên lò mổ, bao giờ cũng một mình. Trên hai cánh tay nó, những lằn roi da trâu cũ chưa kịp nhạt thì lằn mới đã chồng lên, tím tím đỏ đỏ như ai lấy than vạch bừa. Gặp Luân, nó quay mặt đi, nhổ một bãi nước bọt xuống rãnh, rồi làm tiếp việc của nó, như thể cái thằng đang đi ngang qua kia chỉ là một cơn gió.
Luân cũng đi tiếp. Nó chẳng biết phải làm gì khác.
Tết đến sau lưng, ông vải thì mừng, con cháu thì lo. Năm nay Lò Trấu không lũ, không dịch, cái lo có nhẹ đi đôi chút, nên phiên chợ cuối năm đông nghịt người, họp từ tờ mờ sáng hai mươi chín cho tới quá trưa ba mươi mới chịu vãn.
Ông lang ngồi viết câu đối dưới mái lều tranh ở đầu chợ, như năm nào cũng ngồi. Năm nay có Luân ngồi bên cạnh mài mực.
Cái nghiên đá đã lõm xuống một vũng giữa lòng, thỏi mực tàu cầm trong tay thì bóng nhẫy, mài lâu thì dậy lên một mùi hăng hắc. Ông lang bảo mài phải đều tay, không được ấn, ấn thì mực sạn. Luân mài đều tay tới mức tê cả cổ tay, nước mực trong vũng nghiên sánh dần, đen dần, đen nhánh như lông cánh quạ.
Người đứng chờ câu đối xúm xít quanh cái lều, xôn xao, í ới, có người ôm sẵn tờ giấy điều mua ở hàng bên cạnh, có người chưa nghĩ ra được câu gì, cứ gãi đầu gãi tai bảo ông lang viết cho cái câu nào nghe cho nó sang. Ông lang chẳng hỏi han nhiều. Ai xin gì ông viết nấy, xin phúc thì viết phúc, xin lộc thì viết lộc, ngọn bút lướt trên giấy điều thoăn thoắt, nét đậm nét thanh như có người cầm tay ông mà vẽ.
Tới trưa thì người nhà ông trùm làng chen lên, bảo ông trùm dặn viết cho một đôi câu về con cháu, con cháu đầy đàn, con cháu thành đạt. Ông lang chấm bút, viết.
Luân đang mài thì tay dừng lại.
Nó nhận ra một chữ. Rồi hai chữ. Chữ thứ nhất có cái móc như cái lưỡi câu treo ngược, chữ thứ hai thì có chữ thứ nhất nằm ghé một bên. Nó đã chép hai chữ ấy lên tấm bảng không biết bao nhiêu lượt, đã bị gõ thước vào mu bàn tay không biết bao nhiêu lần vì viết sai cái móc. Môi nó mấp máy, không ra tiếng.
Tử con. Tôn cháu.
Ngọn bút của ông lang dừng lại trên giấy một chút, chỉ một chút thôi, ngắn như cái chớp mắt. Rồi ông viết tiếp. Nhưng những chữ sau, ông viết chậm hơn, nét nào ra nét ấy, như người ta đi chậm lại cho đứa bé đằng sau kịp theo.
Luân cúi xuống mài mực, mặt nóng ran.
Giữa trưa, lúc hàng câu đối đông nhất, thằng Hợi đi qua. Nó vác nửa con lợn trên vai trái, cái vai phải thõng xuống, lệch hẳn đi một bên, bước nặng trịch về phía dãy hàng thịt, nơi lão đồ tể đang vung con dao phay chặt xương cồm cộp. Đi ngang qua mái lều, nó liếc thấy Luân ngồi mài mực cạnh ông lang, thì khựng lại.
Hai đứa nhìn nhau qua mấy cái đầu người đứng chờ.
Rồi nửa con lợn trên vai thằng Hợi trễ xuống. Nó hẩy vai xốc lại, và đi.
Quá trưa ba mươi, chợ vãn, thằng Cò ở đâu lượn tới, ngồi xổm cạnh mái lều, nhón mấy mảnh giấy điều thừa gấp thành con thuyền. Nó chờ ông lang quay đi rửa bút mới ghé tai Luân, chỉ tay về chỗ đất trống trước lều.
"Năm ngoái thằng quản gia nhà lão Bá Hộ đứng đúng chỗ kia." Nó thì thào, cái răng khểnh nhe ra. "Chìa khoá đeo lủng lẳng ở thắt lưng. Tao lách qua có một cái."
Luân nhìn chỗ đất trống. Giờ ở đấy chỉ còn mấy mảnh giấy điều rách với một bãi phân trâu.
"Người ta chìa ra cho mày móc đấy." Luân nói, mắt vẫn không rời chỗ đất.
Thằng Cò búng con thuyền giấy gấp dở xuống đất.
"Ừ. Thế mà tới giờ tao vẫn thấy tay tao khéo."
Xế chiều, hai đứa cuộn chiếu, ôm nghiên bút về trước, đi tắt qua xóm Thượng. Tới chỗ bức tường đất sau vườn nhà ông Bá Hộ thì thằng Cò đi chậm lại.
Cái lỗ chó chui ở góc vườn đã bị lấp. Người ta nhét vào đấy nửa xe gạch vỡ, trát bùn lên trên, rồi cắm thêm một hàng mảnh sành lởm chởm, nhọn hoắt, trông như cái hàm cá dữ vừa mọc thêm răng.
Thằng Cò hất hàm về phía ấy.
"Lão lấp mất rồi." Nó tặc lưỡi, giọng tiếc rẻ. "Tiếc."
"Tiếc gì?"
"Tiếc cái bao gạo chứ tiếc gì."
Luân kẹp cái nghiên vào nách, nhìn cái hàng mảnh sành một lúc.
"Không có cái bao gạo ấy thì giờ mình vẫn ngủ ở điếm."
Thằng Cò đi thêm mấy bước, cái nón mê lắc lư trên đầu. Rồi nó nhún vai.
"Ừ. Thế thì thôi. Không tiếc."
Chập tối ba mươi, nhà ông lang có khách.
Người thì xách sang một cặp bánh chưng, người thì một xâu cá khô, người thì gói chè, gói mứt gừng. Có bà cụ ở xóm Hạ lẩy bẩy bưng sang một rá khoai lang, bảo năm ngoái mùa dịch ông cứu được thằng cháu nhà bà, năm nay nhà bà chẳng có gì hơn. Ông lang nhận hết, người nào cũng một câu cảm ơn, một câu năm mới, chẳng nhiều hơn, chẳng ít hơn. Cái gì ông cũng bảo Luân đem xuống bếp, riêng gói chè thì ông giữ lại.
Tới lúc khách về hết, ông chỉ vào hai cặp bánh chưng xếp chồng trên chạn.
"Của người ta biếu thì ăn."
"Thầy không ăn ạ?"
"Tao không ăn nếp." Ông phẩy tay. "Ăn vào đầy bụng."
Luân chưa ăn bánh chưng bao giờ.
Hồi còn ở điếm, Tết nào nó cũng chỉ được ngửi, ngửi cái mùi lá dong luộc ngai ngái bay ra từ bếp nhà người ta, có năm nó ngồi dưới gốc rơm trước cổng nhà ông Bá Hộ mà nuốt nước bọt cả buổi, nuốt tới mức đau cả cổ. Bây giờ cái bánh nằm ngay trước mặt nó, vuông vức, xanh thẫm, bốn sợi lạt giang buộc chéo chữ thập, nặng trĩu trong lòng bàn tay.
Thằng Cò thì chẳng nghĩ ngợi gì lâu. Nó cởi lạt, bóc lá, rồi tước một sợi lạt cho thật mỏng, vòng quanh cái bánh, hai tay kéo một cái. Bánh chưng xẻ đôi ngọt xớt. Nó vòng thêm một lượt nữa, xẻ tư. Bên trong, lớp gạo nếp đã ngả xanh màu lá, dẻo quánh, giữa là nhân đỗ vàng ươm với một miếng thịt mỡ trong veo.
Thằng Cò giữ lại hai miếng, đẩy hai miếng về phía Luân.
Luân cầm một miếng. Nó cắn một miếng nhỏ, rồi ngồi im mà ngậm.
Nếp ngọt. Đỗ bùi. Mỡ ngậy. Cái mùi lá dong mà nó ngửi suốt mấy năm trời, bây giờ nằm ở trong miệng nó.
"Nhai đi chứ." Thằng Cò ngồm ngoàm, miệng đầy nếp. "Ngậm mãi thế nó cũng chẳng to ra được đâu."
Luân nhai. Ăn xong một miếng thì nó dừng lại. Còn một miếng. Nó nhìn miếng bánh một lúc, rồi lấy một mảnh lá dong sạch gói lại cẩn thận, lấy sợi lạt buộc lại hai vòng, đặt lên cái chạn cao nhất, chỗ mèo không trèo tới được.
Thằng Cò nhìn cái gói lá, rồi nhìn nó, cái răng khểnh nhe ra.
"Để phần lão ăn mày à?"
"Để mùng ba."
Gần nửa đêm, ông lang bảo hai đứa ra đình mà xem.
"Hái lộc xong hẵng về."
Năm nay chúng nó ra đình giữa đường làng, đi thẳng lưng, chẳng phải lách qua bụi tre nào. Sân đình đông nghịt người, đuốc cắm dọc hai bên thềm cháy phần phật, trong đình trống thúc thùng thùng, mùi trầm bay ra thơm lựng. Luân đứng ở ngoài rìa, chỗ người ta ít chen, nhìn vào. Lần đầu tiên trong đời nó đứng ở sân đình đêm giao thừa mà không phải rình cái gì cả. Đứng không thế thôi mà nó cứ thấy hai bàn tay thừa thãi, chẳng biết để vào đâu.
Rồi tiếng trống dồn lên một hồi dài, dồn dập như mưa rào trút xuống tàu lá chuối, rồi dừng. Ở đâu đó có tiếng pháo nổ ran. Người ta vái nhau, chúc nhau, cười nói ồn ã.
Thằng Cò kéo tay nó.
"Về. Về xông đất cho lão."
"Thầy bảo hái lộc xong hẵng về."
"Lộc gì." Thằng Cò kéo mạnh hơn. "Về muộn thì đứa khác nó xông mất."
Hai đứa chạy một mạch từ đình về tới cuối xóm Trung, thở hồng hộc. Cổng tre khép hờ. Gian giữa sáng đèn.
Luân bước lên thềm thì đứng sững lại.
Trên ban thờ, cái bát hương sành không cắm ba nén như mọi ngày. Nó cắm cả một bó, cắm chen chúc sát rạt vào nhau như một khóm mạ vừa nhổ lên, đầu hương đỏ lấm tấm, khói cuộn lên từng lớp, từng lớp, mờ mịt cả gian nhà, cay xè cả mắt.
Ông lang đứng trước ban thờ, hai tay buông xuôi. Ông không khấn. Ông chỉ đứng nhìn khói. Hai đứa đứng chết trân ở bậc thềm, tiếng thở hồng hộc còn chưa dứt, mà ông vẫn không quay lại.
"Sớm thế." Giọng ông khàn đục. "Vào đi. Đứng ở ngưỡng cửa thì gió lùa tắt hương."
Hai đứa rón rén bước qua ngưỡng cửa.
Năm Kỷ Hợi, người xông nhà ông lang vẫn là hai thằng ấy. Có điều năm nay chúng nó không còn là hai thằng ăn trộm.
Sáng mùng một, lúc bưng ấm nước lên gian giữa, Luân thấy cái bát hương cắm kín chân hương, kín tới mức không còn chỗ cho một nén nào nữa.
Nó không đếm.
Người ta bảo mùng một Tết cha, mùng hai Tết mẹ, mùng ba Tết thầy.
Sáng mùng một, cả Lò Trấu kéo nhau đi Tết. Áo mới thì ít, áo cũ giặt sạch thì nhiều, con cái bưng mâm sang nhà cha, cháu chắt bồng bế nhau sang nhà ông, trẻ con chạy lăng xăng đằng trước, chốc chốc lại quay lại chìa tay cho người lớn mừng tuổi, được đồng tiền đỏ thì reo ầm lên. Luân ngồi trên bậc cổng, sau hàng rào dâm bụt, nhìn người ta đi qua. Nó đếm được mười bảy nhà. Nhà nào cũng đi thành đàn, có đứa được bố công kênh trên cổ, cái đầu chỏm lúc lắc trên cao như quả bí đặt trên đỉnh cột.
Thằng Cò nằm khểnh trong ổ rơm, gác chân chữ ngũ, bảo mùng một Tết cha thì tao không có cha, đi đâu mà Tết. Rồi nó kéo chăn trùm kín đầu, ngủ tiếp.
Qua một đêm, cả làng Lò Trấu thêm một tuổi. Ông cụ đầu xóm Trung chín mươi thành chín mươi mốt. Thằng Bống lên tám. Thằng Hợi mười ba. Còn thằng bé không ai biết sinh ngày nào tháng nào, cũng được thêm một tuổi y như mọi người, chẳng ai hỏi, chẳng ai cấm.
Luân mười tuổi.
Tối mùng một, ông lang lại giở sổ.
Tối nào ông cũng giở, lật tới trang của hai đứa, gạch một vạch rồi gấp lại. Nhưng tối nay ông không gạch ngay. Ông xoay quyển sổ về phía Luân, cái trang ông vạch kín gần nửa tờ giấy tối mùng một năm ngoái.
Luân ngồi xổm bên ngọn đèn dầu lạc, nhìn.
Trang giấy vẫn chi chít vạch như cũ, lại còn nối dài thêm mấy dòng vạch mới xuống phía dưới, vạch tiền thuốc, vạch bát vỡ, vạch lọ cao. Nhưng những dòng đầu đã bị gạch kín, vạch nào cũng có một nét ngang nhỏ cắt qua giữa thân, dòng này sang dòng khác, dày đặc như một hàng rào tre đan chéo. Tới lưng chừng một dòng thì những nét ngang dừng lại. Từ chỗ ấy trở xuống, những vạch dọc còn đứng trơ trọi, thẳng tăm tắp, chưa ai động tới.
Đầu trang có chữ viết dọc thành hai hàng, nét đậm, mực đen hơn mực những vạch bên dưới, tức là viết sau này. Hàng bên phải có hai chữ. Chữ trên thì Luân biết, bên trái mặt trời, bên phải mặt trăng. Chữ dưới thì nó cũng biết, bởi chính ông lang đã vạch nó lên tấm bảng cái hôm ông đặt tên cho nó. Hàng bên trái chỉ có một chữ, nét rườm rà như một cái tổ chim, nó chưa học tới. Nó liếc sang thằng Cò đang nằm dài trong góc, rồi đoán.
Nó chẳng biết ông viết lên đấy từ bao giờ.
"Một năm." Ông lang nói.
Luân đếm những dòng còn lại. Sáu dòng, và một nửa dòng nữa. Nó ngẩng lên nhìn ông, không biết nên mừng hay nên lo.
Ông lang gõ gõ đầu bút vào mép nghiên.
"Cứ đà này thì chưa tới lúc râu mọc."
Rồi ông chấm bút vào nghiên, chấm vừa đủ mực, gạt ngọn bút vào thành nghiên cho khỏi nhỏ giọt, rồi chìa ra.
"Cầm lấy."
"Dạ?"
"Hôm nay mày gạch."
Luân nhìn cây bút lông, rồi nhìn ông lang, rồi lại nhìn cây bút. Nó chùi hai bàn tay vào vạt áo, chùi đi chùi lại, rồi mới đưa tay ra cầm. Cây bút nhẹ bẫng mà nó cầm như cầm con cá rô sắp quẫy tuột khỏi tay. Nó cúi xuống, nín thở, nhắm vào cái vạch đầu tiên chưa bị gạch, rồi kéo một nét.
Nét ngang ra đời trông như con nòng nọc, đầu to, đuôi nhỏ, lại còn ngoe nguẩy lệch hẳn xuống dưới một chút.
Ông lang nhìn cái nét ấy.
"Xấu."
"Dạ."
Ông cầm lại cây bút, gác lên nghiên, gấp sổ.
"Mai gạch cho thẳng."
Luân ngồi đực ra mất một lúc mới hiểu. Mai. Tức là mai lại được gạch. Nó cúi đầu dạ một tiếng, dạ nhỏ, rồi chạy ra gian bếp, chui vào ổ rơm, nằm quay mặt vào vách mà cười không thành tiếng.
Sáng mùng hai, thằng Cò dậy từ lúc gà gáy canh năm.
Nó ra gian giữa, đứng trước mặt ông lang, gãi gáy mất một lúc, rồi mới nói, giọng cộc lốc như mọi khi, nhưng nhỏ hơn mọi khi.
"Ông cho cháu xin ba nén hương."
Luân đang ngồi thổi lửa sau tấm liếp gian bếp, nghe thế thì ngừng thổi. Cả năm nay, trước mặt ông lang thằng Cò chỉ gọi ông, còn xưng thì hoặc chẳng xưng gì, hoặc xưng tôi cộc lốc như hồi đêm ba mươi năm ngoái. Đây là lần đầu tiên nó xưng cháu.
Ông lang không hỏi để làm gì. Ông với tay lên ban thờ, rút trong bó hương ra ba nén, đưa cho nó.
Mộ u thằng Cò nằm ở góc bãi tha ma, sát bờ tre, cạnh một ngôi mả không người thăm. Luân nhớ chỗ ấy rõ hơn ai hết. Tháng Ba năm Đinh Dậu, chính nó đào cái huyệt ấy, đào từ sáng tới xế chiều, hai bàn tay phồng rộp, phải xé bao tải quấn vào mà đào tiếp. Cái cọc tre cắm ở đầu mả bây giờ đã ngả màu xám, nghiêng nghiêng như người đứng ngủ gật.
Thằng Cò ngồi xổm xuống, nhổ cỏ quanh mả. Nó nhổ kỹ, nhổ tận gốc, nhổ xong thì vốc đất vỗ vỗ lên cho mả cao hơn một chút. Rồi nó móc trong túi áo ra một miếng bánh chưng gói lá, cái miếng nó để dành từ đêm ba mươi mà Luân không biết, đặt xuống đầu mả.
Nó châm hương. Hai nén cắm trước mả u nó. Còn một nén, nó cầm trên tay, ngẩn ra một lúc, rồi chìa cho Luân.
"Chia cho cái mả bên kia một nén."
Luân cầm nén hương sang ngôi mả không người thăm. Cỏ gà cỏ may đã mọc trùm lên lún phún. Nó ngồi xuống nhổ, nhổ như cái hôm Thanh minh năm nào, rồi cắm nén hương xuống đầu mả, chỗ cái cọc tre gãy mà nó đã dựng lại.
Bên này, thằng Cò ngồi bó gối trước mả u nó, nói lầm rầm.
"U ơi, Tết. Con ăn bánh chưng rồi. Nhà ông lang. Ông ấy keo lắm, nhưng cơm thì trắng." Nó ngừng một lúc, đưa mu bàn tay quệt ngang mũi. "Thế thôi."
Luân ngồi bên ngôi mả không người thăm, nhìn khói hương bay xiên xiên trong gió. Nó không biết u nó nằm ở đâu. Lão mõ vớt được nó trong một cái thúng rách dạt vào bờ sông, năm nó chừng hai tuổi, thế thôi, ngoài ra chẳng ai biết gì hơn. Có khi u nó cũng nằm ở một góc bãi nào đó, cạnh một bờ tre nào đó, cỏ gà cỏ may mọc trùm lên kín mít. Có khi u nó nằm dưới đáy sông. Có khi chẳng nằm ở đâu cả.
Nó cúi xuống, nhổ nốt một cọng cỏ may cuối cùng.
Tối ấy, lúc ông lang giở sổ cho Luân gạch, Luân để ý nhìn. Không có vạch nào cho ba nén hương.
Mùng ba, Luân dậy từ canh ba.
Nó chẻ một đống củi xếp gọn dưới chái bếp. Nó hạ từng cái nong trên giàn phơi xuống, lật trở, rồi đặt lên lại cho thẳng hàng. Nó rửa cối, rửa chày, lau tủ thuốc, lau tới cái ngăn kéo cuối cùng. Rồi nó ra giếng gánh nước, gánh cho đầy ắp hai cái chum trong bếp, đầy tới mức nước sóng sánh tràn ra miệng chum.
Nó đang kéo gầu cho gánh cuối thì ông lang mở cửa bước ra, đứng trên thềm, nhìn cái đống củi, nhìn giàn phơi, nhìn nó.
Sáng mùng một năm ngoái, cái sáng đầu tiên nó ngủ dậy dưới mái nhà này, ông cũng đứng trên thềm mà hỏi nó một câu. Bây giờ ông hỏi lại đúng câu ấy.
"Ai bảo mày gánh nước?"
Luân đặt gánh nước xuống, chùi tay vào vạt áo.
"Dạ, hôm nay mùng ba ạ."
Ông lang nhìn nó một lúc lâu. Rồi ông quay vào, không nói gì.
Trong buổi sáng, mấy nhà có con theo học lần lượt sang Tết thầy. Ông trùm làng dẫn thằng Quý sang, xách theo một con gà trống thiến buộc chân, lông đỏ au, vừa đặt xuống sân đã vỗ cánh phành phạch làm thằng Quý giật nảy mình. Ông phó cả thợ mộc dắt thằng Bống sang, xách một cặp bánh chưng với một chai rượu nút lá chuối. Thằng Bống mặc cái áo cánh nâu mới, cài khuy lệch mất một khuy, cái đầu chỏm vừa cạo xanh lè. Người lớn ngồi chiếu trên uống nước, nói chuyện mùa màng. Trẻ con đứng khoanh tay dưới thềm, lần lượt vái thầy một vái. Luân đi bưng nước.
Lúc đi ngang qua thềm, thằng Bống kéo vạt áo nó, thì thào.
"Anh Luân Tết thầy bằng gì?"
"Bằng nước."
Thằng Bống trố mắt. "Nước gì ạ?"
Luân đưa mắt về phía gian bếp, chỗ hai cái chum sành đầy nước tới miệng.
Thằng Bống nhìn về phía gian bếp, rồi nhìn nó, rồi gật đầu, gật rất nghiêm trang, như thể đã hiểu. Luân biết là nó chẳng hiểu gì.
Chiều mùng ba, Luân xuống điếm.
Lão ăn mày ngồi trên sạp tre, bầu rượu kẹp giữa hai đầu gối, mắt lim dim. Luân đứng khoanh tay trước sạp, rồi móc trong áo ra cái gói lá dong buộc lạt, hai tay đưa lên.
"Cháu Tết chú ạ."
Lão ăn mày mở một mắt, nhìn cái gói lá.
"Cái gì đây?"
"Dạ, bánh chưng ạ."
"Mày lại đòi cái gì?"
"Dạ không ạ. Cháu Tết chú."
Lão ăn mày mở nốt con mắt kia, nhìn nó chằm chằm, như nhìn một con chó tự dưng biết đi bằng hai chân.
"Mùng ba Tết thầy." Lão nói. "Tết thầy thì mang sang cho lão lang nhà mày. Tao đéo phải thầy mày."
"Dạ." Luân vẫn giơ cái gói lá. "Thế thì cháu Tết chú."
Lão ăn mày khịt mũi một tiếng. Nhưng lão cầm lấy. Lão cởi lạt, bóc lá, rồi ngồi ăn, ăn chậm, nhai kỹ, chẳng nói câu nào. Ăn xong, lão chùi tay vào vạt áo, cầm cây gậy tre đứng dậy.
"Ra sân."
Luân ra sân.
"Đầu năm tao mừng tuổi mày." Lão chống gậy, đứng trên cái chân lành. "Năm cái ngã."
Cái thứ nhất vào khoeo chân, Luân quỵ xuống. Nó đứng dậy. Cái thứ hai gạt ngang bắp chân, nó ngã nghiêng, lăn một vòng như quả bưởi, đứng dậy. Cái thứ ba vào vai, cái thứ tư vào hông. Cái thứ năm thì lão chỉ chọc nhẹ đầu gậy vào ngực nó, nhẹ như người ta gõ cửa, mà nó vẫn ngã ngửa ra, lưng đập xuống đất đánh bịch.
Nó nằm dưới đất. Ngực phập phồng. Hơi thở dồn dập, nhưng chưa đứt. Cái chỗ dưới rốn âm ấm.
Nó chống tay. Nó đứng dậy.
Lần thứ sáu.
Lão ăn mày nhìn nó đứng đấy, người lấm lem đất, hai chân run nhưng vẫn đứng, rồi lão gật đầu, chậm lắm.
"Ừ."
Chỉ thế thôi. Lão quay về sạp, ngồi xuống, rút nút bầu rượu.
Luân đứng thở một lúc, rồi ngồi bệt xuống bậc cửa điếm, nhìn lão tu rượu. Ngoài xa, trên bãi tha ma, khói hương đầu năm vẫn còn vương vất trên mấy ngọn cỏ may. Nó hỏi, hỏi bâng quơ.
"Chú ơi, Tết năm ngoái chú ăn ở đâu ạ?"
"Ở miếu."
"Thế năm kia ạ?"
Lão ăn mày không đáp. Lão lắc cái bầu, nghe rượu óc ách dưới đáy, tu một ngụm, mắt nhìn ra mấy ngọn đồi xám.
"Ở cái chỗ đéo có bánh chưng."
Luân còn định hỏi chỗ ấy là chỗ nào. Nhưng lão ăn mày đã gõ đầu gậy xuống đất, cộc một tiếng.
"Đứng tấn."
Tối mùng ba, ông lang lại giở sổ, chấm bút, chìa ra cho Luân.
Luân không cầm.
"Thưa thầy." Nó nói. "Hôm nay thầy đừng gạch ạ."
Ông lang nhìn nó.
"Hôm nay con Tết thầy ạ."
Cây bút lông dừng lại trên tay ông, ngọn bút còn ướt mực, cách mặt giấy chừng một đốt ngón tay. Ngọn đèn dầu lạc lách tách, bóng ông lang đổ dài trên vách, cái bóng không động đậy.
Rồi ông gác cây bút lên nghiên. Ông gấp sổ lại. Ông không nói gì.
Ông đứng dậy, đi vào gian trong, một lúc sau thì trở ra, tay cầm cái ấm đất với hai cái chén hạt mít. Ông ngồi xuống, pha gói chè hôm ba mươi người ta biếu, rót ra hai chén, đẩy một chén về phía Luân.
"Uống đi."
Luân nhìn chén nước chè xanh, sóng sánh, nghi ngút khói. Nó chưa uống chè bao giờ. Chè là thứ của người lớn, của các cụ ngồi chiếu trên, của những người khách sang Tết thầy ban sáng. Nó bưng chén bằng cả hai tay, thổi phù phù, rồi nhấp một ngụm.
Chát xít. Chát tới mức lưỡi nó rụt lại, mặt nhăn nhúm như quả táo tàu.
Ông lang nâng chén của mình lên, uống một ngụm, mắt nhìn ra cái sân tối, không nhìn nó.
Luân nuốt ngụm chè xuống. Rồi nó nhấp ngụm nữa.
Hai thầy trò ngồi uống hết ấm chè, chẳng ai nói câu nào.
Tháng Giêng là tháng ăn chơi.
Năm ấy, tháng Giêng của Lò Trấu chỉ được chơi tới rằm. Rằm tháng Giêng, người ta còn lên chùa lễ Thượng nguyên, còn đội mâm xôi đi lễ đình, còn dựng cây đu ở bãi cỏ trước đình cho trai gái đánh đu, tiếng cười rúc rích cả một buổi chiều.
Sáng mười sáu, trời mưa bụi. Thứ mưa lây rây như bột, bay lất phất, đứng ngoài trời một lúc thì tóc đã lấm tấm trắng, thấm lạnh vào tận xương.
Luân đang lật nong thuốc dưới hiên thì nghe từ đầu làng vọng lại tiếng vó ngựa lộc cộc trên đường đất. Không phải một con. Nhiều con. Làng Lò Trấu chẳng nhà nào nuôi ngựa.
Rồi trống đình nổi lên. Không phải cái nhịp trống đình đám. Cũng không phải trống hội.
Tùng. Tùng. Tùng.
Ba tiếng một, thúc dồn, gọi cả làng ra sân đình.
Được yêu thích bởi: Đại Hiệp Mèo
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.