Phong Sương Niên Ký

Quyển 1: Đại Xuân Biên Niên Sử

Chương 14: Được Voi Đòi Tiên

Đăng: 28/09/2026 17:08 4,858 từ 4 lượt đọc

Qua rằm tháng Bảy, mưa ngâu vẫn chưa chịu dứt.

Trời lầm lì, xám xịt, úp xuống cánh đồng Lò Trấu như một cái vung nồi. Có hôm mưa rả rích từ sáng tới chiều, có hôm lộp độp một chập rồi ngớt, ngớt được một lúc lại lây rây, lất phất, bay nghiêng nghiêng theo gió như có ai đứng trên trời mà rây cám. Bên kia con đê cũ phía xóm Hạ là cái lòng sông cũ, ngày thường chỉ là một dải bãi lầy lau sậy mọc ngập đầu người, vậy mà mưa ngâu mới được nửa tháng, nước ở đâu đã lại tràn về đầy ắp, đục ngầu như nước vo gạo, cuộn lên từng xoáy lờ đờ, cuốn theo cả cành tre, xác rạ, có hôm cả một con lợn chết trương phềnh trôi dập dềnh qua trước mặt người đứng xem. Còn con đê mà cả làng đắp vội đắp vàng hồi đầu tháng thì sau mười hôm mưa đã lún xuống gần bằng mặt ruộng, có quãng nứt ra những đường ngoằn ngoèo như vệt roi trên lưng trâu, nước bên kia rỉ qua kẽ nứt tí ta tí tách suốt ngày đêm. Mấy cụ già ra đầu đê đứng nhìn, chắp tay sau lưng mà lắc đầu, bảo đắp đê giữa mùa mưa thì có khác gì lấy rổ mà múc nước. Nói thì nói vậy, chứ không đắp thì biết làm gì. Năm ngoái đê vỡ, cả xóm Hạ ngồi trên bãi tha ma mà nhìn nhà mình chìm, rồi nửa tháng sau thì chôn nhau.

Sáng hăm mốt, lão mõ lại cắp cái mõ tre đi rao khắp các ngõ.

"Cốc cốc cốc! Trình làng nước! Ông lý có lệnh, từ mai mỗi nhà một suất ra đắp lại con đê cũ! Nhà nào không có người thì nộp tiền thay, mỗi ngày ba mươi đồng! Cốc cốc cốc!"

Tiếng mõ lóc cóc đi qua hết ngõ này sang ngõ khác, lẫn vào tiếng mưa rồi mất hút.

Nhà ông lang thì chẳng phải bàn. Đợt đắp đê hồi đầu tháng, ông lang cử thằng Cò, thằng Cò đi được đúng một buổi rồi trốn ra chợ, ông phải nộp tiền thay mất mấy ngày liền. Lần này thì ba mươi đồng một ngày ấy ông giữ lại trong ống tre. Ông chỉ nói đúng một câu, trong lúc đang ngồi thái thuốc ngoài hiên, con dao cầu vẫn đưa lên đưa xuống đều đặn.

"Mai mày đi."

"Dạ."

Luân dạ ngay, chẳng nghĩ ngợi gì. Đi đắp đê cũng như đi gánh nước, như đi hái thuốc, như trời mưa thì phải che, việc đến thì làm. Nó chưa bao giờ nghĩ khác.

Con đê cũ chạy dài từ chân xóm Hạ ra tới tận bãi sông, cao ngang đầu người lớn, mặt đê chỉ vừa lối một người gánh đi. Sáng hôm sau, trời vừa rạng thì trên con đê ấy đã lố nhố người là người. Đàn ông cởi trần, đàn bà xắn váy quai cồng, ai cũng đội nón mê, khoác tơi lá, trông từ xa như một đàn cò lấm bùn đang lúi húi mổ mồi. Người thì xúc đất dưới thửa ruộng trũng chân đê, người thì gánh lên, người thì cầm vồ gỗ đứng đợi sẵn. Đất tháng Bảy sũng nước, xúc lên nặng trịch, nhão nhoẹt, đổ xuống tới đâu bè ra tới đấy như bánh đúc gặp nắng, cho nên thúng vừa dốc xuống thì hai ba cái vồ đã nện theo ngay, nện thình thịch, thình thịch, nện tới lúc lớp đất mới chịu bám vào lớp đất cũ mới thôi.

"Hò dô ta nào!"

"Dô ta!"

"Kéo cái đất lên nào!"

"Dô ta!"

Mấy ông đàn ông lực điền đứng trên mặt đê cất tiếng hò, hò một câu thì cả con đê đáp một tiếng, vồ nện xuống đúng theo tiếng dô. Nghe thì vui tai. Nhưng Luân chỉ cần gánh ba lượt là biết cái vui ấy nằm ở cổ họng người hò, chứ chẳng nằm trên hai cái vai người gánh.

Ông tuần đinh coi đê là một người đàn ông mặt rỗ như tổ ong, tay cầm cái roi mây, đứng trên mô đất cao nhất mà chỉ trỏ. Thấy Luân vác cái đòn gánh ngắn với đôi thúng con lò dò tới, ông nhíu mày.

"Nhà ông lang cử cái thằng oắt này à?"

"Dạ."

"Mày được mấy lạng mà đòi gánh đất?" Ông tuần khoát tay, rồi thở ra. "Thôi, có còn hơn không. Xuống kia mà xúc."

Luân lội xuống ruộng trũng. Nước ngập tới đầu gối, bùn lún tới bắp chân, rút chân nào lên cũng nghe đánh bõm một tiếng. Nó xúc đất vào đôi thúng con cho đầy, đầy có ngọn, quẩy lên vai, rồi bấm cả mười đầu ngón chân xuống sườn đê trơn nhẫy mà leo.

Nó leo được.

Lượt đầu leo được. Lượt thứ năm, lượt thứ mười cũng leo được. Hai bàn chân nó bám xuống đất như lão ăn mày bắt nó bám mỗi lần đứng tấn, hơi thở dồn xuống tận dưới rốn, phì phò như cái ống bễ, và cái sườn đê trơn tuột kia thì có gì khác con dốc đất đỏ lên cây gạo mà chiều nào nó cũng ôm hai hòn đá cuội chạy lên chạy xuống mười lượt. Gần trưa, một ông đàn ông gánh sau lưng nó phải ngạc nhiên mà bảo thằng Bần gầy như que củi mà dai sức nhỉ, gánh chẳng kém người lớn. Mấy người quanh đấy ngẩng lên nhìn nó một cái, gật gù, rồi lại cúi xuống làm.

Cả buổi sáng, người ta gọi nó bằng cái tên ấy không biết bao nhiêu lần.

"Thằng Bần, gánh ra đầu kia!"

"Dạ!"

"Thằng Bần, đổ vào chỗ này này, chỗ này lún!"

"Dạ!"

Lần nào nó cũng dạ, dạ to, dạ rành rọt. Từ cái sáng ông lang vạch hai chữ lên tấm bảng tới nay đã được sáu hôm. Sáu hôm ấy cái tên mới nằm im trong ngực nó, im như hòn than hồng vùi dưới tro bếp. Ngày nào nó cũng lén bới ra nhẩm một lượt, nhẩm xong lại vùi vào. Mấy lần nó đã định nói cháu tên là Luân, nói với ông tuần, với ông đàn ông gánh sau lưng, với cả bà cụ hôm rằm nhét cho nó quả trứng luộc, giờ đang ngồi nhặt cỏ lác dưới chân đê. Nhưng lần nào câu ấy cũng mắc lại ở cổ, mắc như hóc xương cá. Nó nghĩ tới cái mặt thằng Cò hôm nó khoe tên, cái câu nghe như tên con quan. Một thằng đào mả mà đứng giữa đê xưng tên con quan với chừng ấy người, thì người ta cười cho vỡ cả đê.

Thế là nó lại dạ. Cái tên kia nó để dành. Để dành tới bao giờ thì nó cũng chưa biết.

Nhà lão đồ tể cử thằng Hợi.

Luân trông thấy nó từ lượt gánh đầu tiên. Thằng Hợi cởi trần, hai cánh tay đỏ au, lưng bóng nhẫy nước mưa, đứng dưới ruộng trũng mà xúc đất bằng cái mai cán ngắn. Nó xúc bằng tay trái, tay phải chỉ đỡ hờ lấy cán, cái vai bên ấy vẫn xệ xuống như cái chái nhà bị lún cột. Mười hai tuổi mà nó đã to ngang một người đàn ông nhỏ con, một nhát xúc bằng người ta xúc hai. Nó cũng trông thấy Luân. Nó chẳng nói gì. Nó chỉ nhìn, cái nhìn bám theo Luân từ dưới ruộng lên tới mặt đê, từ mặt đê xuống tới ruộng, bám dai như con đỉa trâu.

Người lớn đứng khắp nơi, ông tuần lại cầm roi mây đứng trên cao, nên suốt buổi sáng thằng Hợi chỉ nhìn.

Tới lượt gánh thứ mười mấy, lúc Luân đang leo cái quãng sườn đê trơn nhất, thì có một thúng đất từ đâu dốc ụp xuống ngay trước mũi chân nó.

Nó trượt. Đôi thúng văng mỗi bên một ngả, đất vãi tung tóe, cả người nó ngã ngửa ra sau, lộn xuống chân đê.

Rồi nó lăn.

Nó chẳng kịp nghĩ gì cả. Cằm tự cúi xuống ngực, hai tay tự thu vào, cái vai tự chạm đất trước, và nó lăn tròn một vòng theo sườn đê như quả bưởi lăn, tới chân đê thì đã đứng dậy, bùn bết từ đầu tới gót mà hai chân vẫn đứng vững trên mặt ruộng.

Trên đê có mấy tiếng cười rộ lên.

"Thằng Bần ngã mà tròn như cái con lăn!"

"Nó lăn quen rồi, ngày nào chả lăn ở dốc tha ma!"

Luân nhặt đôi thúng lên, ngước nhìn lên mặt đê. Thằng Hợi đứng ngay trên đầu dốc, tay cầm cái thúng rỗng, miệng thưa với ông tuần là con trượt tay ạ, đất nhão quá ạ. Nhưng mắt nó thì không nhìn ông tuần. Mắt nó nhìn Luân, nhìn hai cái chân vừa đứng vững dưới ruộng, và từ từ nheo lại.

Trưa, lúc nghỉ tay, thằng Hợi đi ngang chỗ Luân ngồi. Nó không dừng, chỉ hơi nghiêng đầu xuống, nói khẽ như người ta nhổ vỏ hạt bí.

"Ma trơi cứu mày được một lần thôi."

Rồi nó đi thẳng.

Mưa ngớt. Người trên đê lục tục kéo nhau xuống ngồi dưới mấy gốc tre đầu bãi mà giở cơm nắm ra ăn. Cơm của người xóm Hạ phần nhiều độn khoai, độn ngô, có nhà chỉ có mấy củ khoai luộc với một nhúm muối. Luân ngồi ở gốc tre cuối cùng, quay lưng lại với mọi người, rồi mới dám giở cái nắm lá chuối giắt trong vạt áo ra.

Cơm trắng.

Nó đã quen với cơm trắng được mấy tháng nay, quen tới mức mở vung nồi không còn phải khóc. Nhưng cái việc ngồi ăn cơm trắng trước mặt người xóm Hạ thì nó vẫn chưa quen được. Cho nên nó quay lưng. Nó bẻ nắm cơm ra làm đôi, ăn một nửa, ăn chậm, nhai kỹ từng miếng, còn nửa kia thì gói lại bằng lá chuối, gói hai lần lá, buộc lạt cẩn thận, nhét vào tận trong cạp quần cho khỏi ướt.

Nửa nắm ấy là của lão ăn mày.

Chuyện ấy mới có từ sau cái tối nó tự mình nói được hai tiếng chia đôi với thằng Cò. Nằm trong ổ rơm đêm ấy, nó mới nghĩ ra một chuyện mà mấy tháng nay nó chưa từng nghĩ tới. Chiều nào nó cũng xuống điếm mà học không, tối về lại có cơm trắng ăn no. Còn lão ăn mày thì ngày ngày ngửa tay ngoài chợ, có hôm được bát cơm thừa, có hôm chẳng được gì. Cái nghĩ ấy cứ ngứa ngáy trong người nó, như hạt cơm mắc trong kẽ răng. Thế là trưa hôm sau nó bẻ đôi nắm cơm của mình, để dành một nửa, chiều mang xuống điếm. Lão ăn mày nhìn nửa nắm cơm trong tay nó mà nhướn cặp lông mày rậm.

"Tao bảo tao đéo lấy công."

"Dạ, cháu không trả công ạ." Luân đáp, cái câu nó đã tập suốt dọc đường. "Cháu chia đôi ạ."

Lão ăn mày nhìn nó, nhìn mãi. Rồi lão cầm lấy, không nói một lời, bóc lá, ăn ba miếng là hết, liếm cả mấy hạt cơm dính trên lá.

Từ hôm ấy, chiều nào cũng thế. Lão chẳng bao giờ cảm ơn, cũng chẳng bao giờ từ chối.

Chiều ấy hái thuốc xong thì mặt trời đã ngả quá nửa. Tới điếm hoang, Luân đặt rổ xuống, móc nửa nắm cơm trong cạp quần ra đưa cho lão ăn mày, rồi ra giữa sân đứng tấn.

Nén hương cắm ở kẽ bậc cửa chưa cháy được một phần ba thì hai đầu gối nó đã run bần bật. Hai cái bát sành trên đùi sóng sánh, sánh ra, nước chảy ròng ròng xuống ống quần.

Cây gậy tre vụt vào bắp chân nó đánh chát một cái.

"Chiều nay mày làm cái đéo gì mà như cọng bún thiu thế?"

"Dạ..." Luân nghiến răng, cố đứng cho vững. "Sáng nay cháu đi đắp đê ạ."

"Đắp đê?" Lão ăn mày đang nhai dở miếng cơm thì ngừng nhai. "Mày à? Lão lang cử mày à?"

"Dạ. Thầy cháu già rồi ạ. Thằng Cò thì đi chợ ạ."

Lão ăn mày nuốt đánh ực, rồi hất hàm.

"Ngồi xuống. Đứng thế thì đứng làm gì, gãy cả chân."

Luân đặt hai cái bát xuống bậc cửa, ngồi phịch xuống cạnh đấy, hai bắp đùi vẫn còn giật giật như có con gì chạy bên trong. Lão ăn mày liếm nốt mấy hạt cơm dính trên lá chuối, rồi hỏi, giọng dửng dưng như hỏi chuyện trời mưa.

"Đắp đê thì lão lang trả mày bao nhiêu?"

Luân ngẩn ra.

"Dạ... không trả ạ. Việc nhà ạ."

"Việc nhà." Lão nhắc lại. "Thế việc nhà thì lão lang tính với mày thế nào? Lão ấy có quyển sổ cơ mà."

Thế là Luân kể. Nó kể cái giao kèo từ đêm ba mươi, kể quyển sổ giấy bản với những vạch mực đều tăm tắp như răng lược, sáng quét sân gánh nước nhóm bếp, chiều lên đồi hái thuốc, tối rửa cối quét gian thuốc, ngày nào đủ việc thì tối ấy ông lang gạch đi một vạch, còn cơm ăn thì tính vào công. Nó kể rành rọt, đếm trên đầu ngón tay, như đứa đang trả bài.

"Trong cái giao kèo ấy có đắp đê không?"

Luân nghĩ một lúc. "Dạ... không có ạ."

"Sáng nay mày đắp đê cả buổi. Chiều mày vẫn hái đủ thuốc. Tối về mày vẫn phải rửa cối. Tối nay lão lang gạch cho mày mấy vạch?"

"Dạ... một vạch ạ. Như mọi hôm ạ."

"Như mọi hôm." Lão ăn mày khịt mũi. "Thằng mõ rao thế nào? Nhà nào không có người thì nộp tiền thay, mỗi ngày bao nhiêu?"

"Dạ, ba mươi đồng ạ."

"Ba mươi đồng. Lão lang không nộp, lão ấy cử mày." Lão gõ đầu gậy xuống nền đất, từng tiếng một, cộc, cộc, như người ta gảy hạt bàn tính. "Tức là mày đắp đê thay cho ba mươi đồng. Ba mươi đồng ấy vẫn nằm nguyên trong ống tre nhà lão ấy. Còn mày được cái gì?"

Luân há miệng, rồi ngậm lại.

Cái đầu nó lần theo từng tiếng gậy mà đi, chậm, nhưng không vấp. Ba mươi đồng một ngày. Đê thì chắc phải đắp dăm bảy hôm, có khi mười hôm. Mười hôm thì ba trăm đồng. Ba trăm đồng mua được bao nhiêu gạo thì nó không biết, nhưng nó biết ba trăm đồng thì to hơn tất cả những gì nó từng cầm trong tay kể từ ngày lão mõ vớt nó lên khỏi bờ sông.

"Lão lang dạy mày không ai cho không ai cái gì, phải không?" Lão ăn mày nói tiếp. "Mọi thứ đều là đổi chác. Người ta cho mày ăn vì mày còn làm được việc."

"Dạ."

"Thế thì đổi chác cho ra đổi chác." Lão nhổ toẹt một bãi nước bọt ra sân. "Mày đem một thúng thóc ra chợ đổi, người ta trả mày một thúng muối. Hôm sau mày đem hai thúng thóc, người ta vẫn trả mày một thúng muối. Mày làm thế nào?"

"Dạ... cháu không đổi với người ấy nữa ạ."

"Ừ. Thế mà sáng nay mày gánh hai thúng thóc ra chợ đấy. Rồi xách về có một thúng muối." Lão dí đầu gậy vào ngực nó. "Người ta bảo của một đồng, công một nén. Cái mày bỏ ra không phải cái thúng đất. Là cái lưng mày, cái chân mày, cái buổi sáng của mày. Lưng mày cũng là của. Chân mày cũng là của."

Luân ngồi im. Nó chưa bao giờ nghĩ cái lưng mình là của. Cả làng Lò Trấu chưa có ai nghĩ thế về cái lưng của nó.

"Làm nhiều hơn thì phải đòi nhiều hơn." Lão ăn mày nói, chậm rãi, rành rọt từng tiếng, như người đong gạo, đong đầy đấu nào mới gạt đấu ấy. "Hoặc thêm cơm. Hoặc gạch thêm vạch. Làm thêm mà công vẫn như cũ thì là mày cho không. Mà mày có phải cha mẹ đẻ ra lão lang đâu mà cho không."

Nói tới đấy, lão cười khục khục trong cổ họng, như vừa nghĩ ra được một câu gì đắc ý lắm.

"Mày không đòi, thì người ta tưởng công mày rẻ. Người ta đã tưởng rẻ thì trả rẻ mãi, trả rẻ tới lúc mày chết. Nhớ lấy."

Luân không đáp. Nó nghĩ tới con đê ban sáng, tới những tiếng gọi thằng Bần gánh ra đầu kia, thằng Bần đổ vào chỗ này. Nó chẳng hiểu vì sao nó lại nghĩ tới những tiếng ấy. Nó chỉ thấy trong ngực có cái gì hơi nhói lên, như hòn than dưới tro bị ai cời trúng.

"Thưa chú..." Mãi nó mới hỏi. "Thế cháu đòi thầy cháu ạ?"

"Không đòi thì thôi. Mai lại gánh không công."

"Nhỡ thầy cháu mắng thì sao ạ?"

"Thì đứng đấy mà nghe." Lão ăn mày ngả lưng dựa vào vách, với lấy cái bầu rượu. "Mắng thì có mất miếng thịt nào đâu."

Luân ngồi nghĩ thêm một lúc lâu. Rồi nó hỏi thêm một câu nữa, cái câu tự dưng trồi lên trong đầu nó, bởi nó vốn là đứa tính cái gì cũng phải tính cho hết hai đầu.

"Thưa chú, thế... thế chú dạy cháu nhiều hơn, thì cháu có phải chia cho chú nhiều hơn không ạ?"

Lão ăn mày đang định tu một ngụm thì dừng tay, cái bầu rượu lơ lửng trước miệng. Lão nhìn nó, cái nhìn nheo nheo, rồi nhe hàm răng vàng khè sứt mất hai chiếc ra mà cười.

"Phải chứ sao không. Hôm nào tao dạy mày cái đáng tiền hơn, tao đòi cả nắm."

Lão tu một ngụm, quệt ngang miệng, gõ gậy xuống đất đánh cộc.

"Còn ngồi đấy làm gì? Không đứng tấn được thì chém. Một trăm nhát. Nhát nào cũng vừa đủ."

Tối ấy, rửa cối xong, quét gian thuốc xong, Luân lên gian giữa.

Quyển sổ nợ đã mở sẵn trên chiếu, bên ngọn đèn dầu lạc, cây bút lông đã chấm mực. Ông gạch một vạch. Cái nét ngang nhỏ cắt qua cái nét dọc, gọn gàng, như mọi tối.

Luân quỳ xuống ở mép chiếu, hai bàn tay vò vò vạt áo.

"Thưa thầy..."

Ông lang không ngẩng lên. "Gì?"

Luân nuốt nước bọt. Suốt dọc đường về, nó đã tập cái câu này không biết bao nhiêu lần, tập như tập một chữ khó, nét nào trước nét nào sau. Vậy mà lúc này mở miệng ra thì chữ nào cũng lộn xộn.

"Thưa thầy, hôm nay con đi đắp đê cả buổi sáng ạ. Chiều con vẫn hái đủ thuốc ạ. Tối con vẫn rửa cối ạ. Mà đắp đê thì... thì không có trong giao kèo ạ." Nó hít một hơi thật sâu, sâu xuống tận cái bể chứa hơi. "Con làm nhiều hơn mọi hôm ạ. Thầy gạch thêm cho con một vạch, hoặc thầy cho con thêm cơm, được không ạ?"

Cây bút lông dừng lại giữa chừng.

Ông lang ngẩng lên. Ông nhìn nó, nhìn như nhìn một cái chữ lạ vừa mọc ra trên tấm bảng.

"Ai dạy mày câu ấy?"

Luân cúi đầu. Nó nhớ tới chữ tín, người đứng cạnh lời nói của mình. Nó không nói dối. Nhưng nó cũng không nói hết.

"Dạ... có người bảo con ạ."

"Người nào?"

Luân im.

Ông lang nhìn nó thêm một lúc. Rồi mắt ông khẽ liếc ra ngoài cửa, ra cái khoảng tối om ngoài sân, một thoáng thôi, ngắn tới mức Luân tưởng mình trông nhầm. Ông không hỏi nữa.

"Được." Ông nói. "Mày muốn tính thì tao tính."

Ông chấm bút vào nghiên.

"Đắp đê không có trong giao kèo. Cái ấy mày nói phải. Mỗi buổi đắp đê, tao gạch thêm cho mày một vạch." Ông gạch thêm một nét, gọn, nhanh. "Thế là sòng phẳng."

Luân mở to mắt. Nó không ngờ lại dễ tới thế. Lão ăn mày nói đúng, chỉ cần mở miệng ra là được. Cái đầu nó còn đang lâng lâng vì cái vạch vừa được gạch thì cái miệng đã tự nói tiếp, nói nốt cái vế sau của câu lão ăn mày dạy ban chiều.

"Thế... thế còn cơm ạ? Con gánh nặng thì con đói ạ."

Ông lang đặt cây bút xuống.

Ông đặt chậm, gác ngang lên miệng nghiên, rồi mới ngẩng lên nhìn nó. Ngọn đèn dầu lạc khẽ lay, bóng ông đổ dài lên vách, đen sì.

"Được voi đòi tiên."

Luân cứng người.

"Mày muốn tính cơm à? Được. Thì tính." Ông lang nói, không to, cái giọng khàn khàn đều đều như đọc một cái đơn thuốc. "Hồi Tết, mày ăn mỗi bữa hai bát. Từ tháng Năm tới giờ, mày ăn ba bát, có bữa bốn. Cơm tính vào công, tao nói từ đêm ba mươi. Mỗi bữa thêm một bát, ngày ba bữa, từ tháng Năm tới giờ là bao nhiêu bát, mày đếm đi."

Luân há miệng mà không ra tiếng. Từ tháng Năm tới giờ, ngày nào nó cũng ăn như tằm ăn rỗi, ăn xong vẫn thấy đói. Nó cứ tưởng chẳng ai để ý.

"Lọ cao hôm rằm, tao không ghi. Vải băng tay, tao không ghi. Dầu đèn mày ngồi viết chữ mỗi tối, tao không ghi. Mẩu than, tấm bảng, tao không ghi." Ông ngừng lại một nhịp. "Chữ. Mỗi sáng một chữ, từ tháng Ba tới giờ. Mấy nhà khá giả trong làng với bên kia sông góp tiền góp gạo cho con học sáu buổi một tháng. Mày thì một tháng ba mươi buổi. Tao không ghi."

Ông cầm cây bút lên lại, chấm mực, đưa ra lơ lửng phía trên trang giấy.

"Còn nắm cơm trưa của mày. Trưa nào mày cũng gói một nắm to bằng cái bát, mà tối nào về cũng ăn như người chết đói. Nắm ấy mày ăn có một nửa." Ông nói, mắt không rời trang giấy. "Nửa kia mày cho ai, tao không hỏi. Của mày thì mày cho. Nhưng mày cho người ta rồi thì đừng về đây bắt tao bù."

Luân lạnh cả sống lưng. Nó chưa hề kể với ai chuyện nửa nắm cơm.

"Mày biết đếm cơ mà." Ông lang nói. "Tính hết vào thì trang của mày dài thêm bao nhiêu vạch. Đếm đi. Đếm xong thì tao ghi."

Mũi bút lông lơ lửng phía trên trang giấy, một giọt mực đọng lại ở đầu ngọn, chực rơi.

Luân đếm. Nó đếm những bát cơm từ tháng Năm, rồi rối. Nó đếm lọ cao, vải băng, dầu đèn, mẩu than, tấm bảng, rồi lại rối. Tới những buổi chữ thì nó không đếm nổi nữa. Đếm tới đâu thì cái hàng sỏi trong đầu nó dài ra tới đấy, dài hơn cả cái hàng dưới ổ rơm, dài ra mãi, dài tới tận chân tường, dài ra tận ngoài sân.

"Dạ thôi ạ!" Nó bật ra, giọng lạc cả đi. "Con không đòi nữa ạ! Thầy đừng ghi ạ!"

Giọt mực trên đầu bút rơi xuống, nhưng không rơi vào trang giấy. Ông lang đã nhấc bút ra khỏi quyển sổ từ lúc nào, và giọt mực ấy rơi xuống chiếu, loang ra thành một chấm đen tròn.

Ông gác bút lên nghiên.

"Mày mới biết tính được có một buổi chiều," ông nói, "mà đã đem cái tính ấy ra tính với tao. Muốn sòng phẳng với tao thì tao sòng phẳng với mày. Nhưng sòng phẳng thì phải sòng phẳng cả hai đầu. Đầu nào có lợi cho mình mới đem ra tính, thì không gọi là sòng phẳng. Thế gọi là con buôn."

Ông gập quyển sổ lại.

"Đi ngủ."

Đêm ấy thằng Cò không về.

Luân nằm co trong ổ rơm mà không ngủ được. Nó thò tay xuống dưới lớp rơm, lần ra cái hàng sỏi của quyển sổ, sờ từng hòn một trong bóng tối, đếm đi đếm lại. Rồi nó nhặt thêm một hòn sỏi ở góc bếp, cầm trong tay.

Lọ cao. Vải băng. Dầu đèn. Mẩu than. Tấm bảng. Chữ.

Những thứ ấy không nằm trong sổ. Mà đã không nằm trong sổ thì nó chẳng biết đặt vào đâu. Đặt vào cái hàng sỏi kia thì không phải, bởi ông không ghi. Nó nằm nghĩ mãi, rồi nó nhớ ra còn một thứ nữa ông lang không kể, cái thứ mà có đếm tới sáng nó cũng không biết phải bằng bao nhiêu vạch.

Cái tên.

Lão ăn mày bảo làm thêm mà công vẫn như cũ thì là cho không. Còn ông lang thì bảo, từ cái trưa nửa rổ kim ngân nở bung trong gian bếp, rằng trên đời này, ngoài cha mẹ đẻ ra mày, không ai cho không ai cái gì cả.

Cái đầu nó đi tới đấy thì đứng lại, như người đi đêm tới trước một cánh cửa lạ, đứng mãi mà không dám đẩy.

Nó nằm cầm hòn sỏi trong tay cho tới lúc ngủ thiếp đi. Hòn sỏi vẫn chưa được đặt vào đâu cả.

Sáng hôm sau, lúc Luân đang xới cơm nắm mang đi đắp đê, ông lang đi ngang qua gian bếp. Ông dừng lại một nhịp, nhìn cái nắm cơm trong tay nó.

"Nắm to vào." Ông nói. "Đắp đê mà ăn như mèo thì có ngày ngã lộn cổ xuống sông."

Rồi ông đi thẳng ra giếng, không ngoái lại.

Luân đứng ngẩn ra, tay cầm cái muôi. Tối qua nó bị mắng là được voi đòi tiên. Sáng nay nó được thêm cơm. Nó đứng mãi mà không hiểu. Rồi nó xới thêm một muôi nữa, nắm lại cho chặt, cái nắm cơm to gần gấp rưỡi mọi hôm, phải gói tới ba lần lá chuối.

Trưa hôm ấy, ngồi quay lưng dưới gốc tre cuối bãi, nó vẫn bẻ nắm cơm làm đôi. Chỉ có điều bây giờ, nửa nào cũng to bằng cả nắm cơm hôm qua.

Chiều, lão ăn mày cầm nửa nắm cơm lên, cân cân trong lòng bàn tay, nhướn mày.

"To hơn."

"Dạ."

"Lão lang cho à?"

"Dạ. Thầy cháu mắng cháu là được voi đòi tiên ạ. Mắng xong thì sáng nay thầy cháu bảo nắm to vào ạ."

Lão ăn mày ngẩn ra một nhịp. Rồi lão phá lên cười, cười rung cả vai, cười tới mức cái bầu rượu trên sạp lăn lông lốc xuống đất, mấy con sáo đang mổ giun ngoài sân giật mình bay vụt lên mái điếm.

"Tổ sư lão lang." Lão lắc đầu, quệt nước mắt.

Luân chẳng hiểu lão cười cái gì. Nó chỉ ngồi nhìn cái nửa nắm cơm to bự trong tay lão vơi đi từng miếng một, nhìn mãi, và tới lúc ấy cái đầu nó mới lần ra được một chỗ. Cái bài học chiều hôm qua, làm nhiều thì đòi nhiều, hoặc thêm vạch hoặc thêm cơm. Gạch thêm vạch thì lợi cho sổ của nó. Còn cơm thì chiều nào cũng chia đôi.

Có khi cái bài học ấy, lão dạy cho cái bụng lão trước, rồi mới tới cái lưng nó.

Đê đắp xong vào hôm hăm tám. Lần này thì không lún.

Chiều hôm ấy trời hửng. Lần đầu tiên từ hôm rằm, mặt trời mới ló ra khỏi mây cho ra hồn, đỏ ối như lòng đỏ trứng vịt, rọi xuống cánh đồng ngập nước một thứ ánh sáng vàng rực. Luân đứng trên mặt đê mới, đất dưới chân còn ướt, nhìn xuống. Dưới chân đê, mấy thửa ruộng chiêm trũng bỏ không từ sau vụ gặt nay đã thành một biển nước trắng xóa, mênh mông, phẳng lặng, in cả trời chiều lẫn mấy đám mây lững lờ. Thỉnh thoảng mặt nước lại lăn tăn gợn lên một vệt, rồi đánh tõm một tiếng, một bóng cá quẫy lên rồi lặn mất, để lại những vòng sóng tròn cứ loang ra, loang ra mãi.

"Đê xong rồi."

Tiếng ấy vang lên ngay sau lưng nó.

Luân không quay lại. Nó biết tiếng ai. Nó nghe tiếng bước chân nặng trịch đi qua sau lưng mình, nghe hơi thở phả ra mùi mỡ lợn, rồi nghe cái giọng ấy nói tiếp, khẽ thôi, khẽ như người ta rủ nhau đi làm một việc gì vui lắm.

"Ông tuần thì đâu có đứng đấy mãi."

Tiếng bước chân đi xuống dốc đê, xa dần.

Luân vẫn đứng yên, nhìn xuống biển nước dưới chân. Nước lặng như tờ. Chỉ thỉnh thoảng mới có một con cá quẫy lên, đánh tõm một tiếng, rồi lặn mất.

1

Được yêu thích bởi: Đại Hiệp Mèo