Phong Sương Niên Ký

Quyển 1: Đại Xuân Biên Niên Sử

Chương 18: Năm Tuổi

Đăng: 28/09/2026 17:08 3,607 từ 6 lượt đọc

Ông lang nghe tiếng trống thì đặt con dao cầu xuống.

Ông ngồi im nghe một lúc, nghe hết một hồi ba tiếng, rồi lại một hồi ba tiếng nữa. Rồi ông cầm con dao lên, thái tiếp.

"Lên đình nghe cho rõ." Ông nói, mắt không rời tấm thớt. "Rồi về kể tao nghe."

"Dạ. Thầy không lên ạ?"

Ông lang hất hàm về phía cổng, tay vẫn không rời cán dao.

"Đi đi."

Luân khoác cái áo tơi lá, chạy ra cổng. Đi được một quãng nó mới sực nhớ ra cái chuyện người Lò Trấu vẫn kể đi kể lại mãi, cái lần quan huyện về làng đứng giữa sân đình đọc tờ trát mà đọc không thông, phải sai người xuống tận xóm Trung mời ông lang lên đọc hộ. Hôm nay chẳng thấy ai xuống mời. Mà ông cũng chẳng lên.

Nó nghĩ chắc ông đang dở mẻ thuốc.

Sân đình đã chật người. Mưa bụi vẫn bay lây rây, đọng thành những hạt li ti trắng mờ trên tóc, trên vai áo, trên những cái nón lá, nón mê chen nhau san sát. Người ta đứng co ro, tay giấu trong vạt áo, thì thào hỏi nhau có chuyện gì, chẳng ai biết, mà ai cũng đoán là chẳng có chuyện gì lành.

Trên thềm đình, ba người lính huyện đứng khoanh tay. Người đứng giữa là tên cai, mặt vuông, râu quai nón, cái bụng to căng dưới áo nẹp. Bên hông tên nào cũng đeo gươm, vỏ gỗ sơn đen, chuôi quấn dây gai. Luân đứng chen ở rìa sân, nhìn mãi cái vỏ gươm ấy. Nó mới được thấy gươm thật đúng một lần, cũng vào cái hôm quan huyện về làng. Mấy tháng nay nó cầm cành ổi chém cây chuối, lão ăn mày bảo coi như gươm. Bây giờ nhìn cái vỏ gươm thật, nó mới thấy cành ổi của nó nhẹ bẫng.

Cạnh tên cai là một ông thơ lại gầy đét, râu lún phún như râu dê, áo the thâm bạc phếch ở hai khuỷu tay. Ông ta rút trong ống tre ra một tờ giấy cuộn tròn, mở ra, hắng giọng, rồi đọc.

"Bản huyện phụng thượng ty trát sức: kim bồi trúc hạ lưu đê điều, khai tạc thủy áp, trưng tập dân phu. Hạn tam nguyệt hoàn công. Chiếu đinh bạ, phàm hộ hữu tráng đinh tự thập lục tuế chí ngũ thập tuế, xuất phu nhất danh, tự bị lương thập nhật. Hộ bất xuất phu, nạp thế tiền ngũ quan. Chính nguyệt nhị thập nhật, ngũ canh, tề tập đình sở. Đào tị giả, chiếu luật trị tội, toàn gia liên tọa."

Ông ta cuộn tờ giấy lại.

Sân đình lặng ngắt. Chỉ nghe tiếng một đứa trẻ con đâu đó hỏi u nó ông ấy nói cái gì thế.

Người Lò Trấu nghe được mỗi mấy tiếng. Đê điều. Tam nguyệt. Ngũ quan.

Lý trưởng bước lên một bậc thềm, xoa hai bàn tay vào nhau, giảng lại cho dân bằng tiếng người.

"Nghĩa là thế này. Lần này là suất đinh, không phải suất nhà. Nhà nào có đàn ông từ mười sáu tới năm mươi thì nộp một người. Đi ba tháng. Xuống hạ lưu đắp đê, đào cống. Gạo ăn mười ngày đầu thì tự mang. Nhà nào không đi thì nộp năm quan tiền thế. Ngày hai mươi, canh năm, có mặt ở đây."

Lúc ấy cả sân đình mới vỡ ra.

"Năm quan!"

"Vừa đắp đê làng xong, lại đắp đê huyện!"

"Đắp đê làng thì tối còn được về ăn cơm nhà. Đây ba tháng!"

"Năm quan là ba nghìn đồng. Ba nghìn đồng là trăm ngày công đắp đê chứ ít à!"

Luân đứng im, nghe cái con số ấy rơi vào đầu mình, rồi cái đầu nó lần theo con số mà đi, chậm, từng bước một. Hồi tháng Bảy, lần theo từng tiếng gậy của lão ăn mày, nó đã tự nhẩm ra mười ngày đắp đê là ba trăm đồng, mà ba trăm đồng thì đã to hơn tất cả những gì nó từng cầm trong tay. Năm quan thì gấp mười lần thế.

Có một người đàn bà xóm Hạ chen lên, cái khăn mỏ quạ ướt đẫm mưa bụi, giọng lạc cả đi.

"Ông lý ơi, nhà tôi chồng chết năm lũ, còn mỗi thằng cu nhà tôi..."

"Thằng cu nhà bà mười sáu rồi phải không?"

"Dạ... nó mới mười sáu..."

"Mười sáu là đinh." Lý trưởng phẩy tay, chẳng nhìn bà ta. "Lệnh quan chứ có phải lệnh tôi đâu."

Người đàn bà đứng sững giữa sân, hai tay buông thõng, rồi ngồi thụp xuống đất ướt, sụt sịt.

Ở phía đầu sân, người quản gia nhà ông Bá Hộ đã bước lên thềm từ bao giờ, tay xách năm xâu tiền nặng trĩu, cúi đầu nói nhỏ gì đó với ông thơ lại. Ông thơ lại gật gù, lấy bút ghi. Nhà ông Bá Hộ nộp năm quan, đếm xong trong có một cái chớp mắt, rồi người quản gia còn khéo léo dúi thêm một xâu nhỏ vào ống tay áo ông thơ lại. Ông thơ lại rụt tay vào, mặt không đổi sắc.

Ở phía cuối sân, có người lầm bầm, không rõ là ai.

"Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa."

"Đắp đê cho ai thế hả ông cai?" Một ông già đứng gần thềm hỏi to.

Tên cai lừ mắt nhìn xuống.

"Việc quan. Hỏi lắm."

Ông già rụt cổ lại. Nhưng lúc quay đi, Luân vẫn nghe ông ta lẩm bẩm với người đứng cạnh.

"Lại ông Thái Úy họ Đặng chứ còn ai."

Lý trưởng giở sổ, đọc từng nhà. Quyển sổ đinh của Lò Trấu mỏng lắm. Lính bắt mấy năm liền, rồi năm kia lũ cuốn, dịch thổ tả, người chết người đi, nhà còn đàn ông trong tuổi đinh đếm chưa hết hai mươi lăm nóc. Đọc tới đâu, người ta ồ lên tới đấy, người thì kêu, người thì khóc, người thì cứ đứng ngây ra như bị ai gõ vào đầu. Nhà ông trùm nộp tiền. Nhà ông phó cả thợ mộc nộp tiền. Những nhà còn lại, phần đông là đi người, bởi chẳng mấy nhà trong Lò Trấu có được năm quan tiền nằm sẵn trong ống tre.

"Xóm Trung. Nhà ông lang..."

Lý trưởng dừng lại, liếc một cái, rồi lật sang trang.

"Không."

"Sao lại không?"

Mụ Tú chen lên, cái mặt đỏ gay, ngón tay chỉ thẳng về phía Luân đang đứng.

"Nhà ông lang có hai thằng ranh ăn không ngồi rồi kia kìa! Nhà người ta thì một thằng con trai cũng phải đi, nhà ông ấy hai thằng lại chẳng mất suất nào là thế nào?"

Lý trưởng thở dài, cái kiểu thở dài của người phải giảng một điều quá dễ cho một đứa quá ngu.

"Tôi đã nói suất đinh, không phải suất nhà. Ông lang sáu mươi rồi, lão rồi, ngoài sổ. Còn hai thằng ranh ấy thì có tên trong sổ đinh đâu mà bắt." Ông ta hếch cằm về phía Luân. "Mà có bắt thì chín, mười tuổi đầu, gánh được mấy hòn đá? Bà muốn quan huyện trả về làng hai cái xác giữa đường à?"

Mấy người đứng quanh cười ồ lên. Mụ Tú lườm Luân một cái dài, rồi hậm hực lùi về chỗ cũ.

Luân đứng im.

Có tên trong sổ đâu mà bắt.

Nó nghĩ tới cái trang sổ đêm mùng một, hai chữ viết dọc ở đầu trang, mực đen hơn mực những vạch bên dưới. Cả cái làng Lò Trấu này, mấy trăm con người, mấy chục quyển sổ của lý trưởng, của ông trùm, của nhà ông Bá Hộ, chỉ có đúng một quyển có tên nó. Quyển sổ nợ.

Từ ngày lão mõ vớt nó lên, nó chẳng có tên trong sổ nào, thế là người ta đánh nó, người ta sai nó, người ta ném cho nó như ném cho chó. Hôm nay cũng chính cái không có tên ấy giữ nó ở lại làng.

Nó không biết nên nghĩ thế nào về chuyện ấy.

"Mương Đen. Nhà lão đồ tể!"

Không ai lên tiếng.

"Nhà lão đồ tể đâu?"

"Lão đang mổ lợn, ông lý ạ." Có người nói vọng lên. "Sáng nào lão chẳng mổ tới trưa."

Lý trưởng chép miệng, lấy bút đánh một dấu vào sổ.

"Mai điểm mặt. Bảo lão mang người lên."

Luân đếm. Nó đếm theo tiếng lý trưởng đọc, nhà nào đi người thì nó bấm một đốt ngón tay, bấm hết hai bàn tay lại bấm lại từ đầu. Mười chín nhà đi người. Thêm nhà lão đồ tể chưa ai lên nhận, là hai mươi.

Luân về tới nhà thì ông lang vẫn ngồi thái thuốc ngoài hiên, như thể từ lúc nó đi tới giờ ông chưa hề đứng dậy. Nó kể. Kể từ ba người lính, cái vỏ gươm, ông thơ lại râu dê, cho tới năm quan, ba tháng, mười chín nhà đi người với một nhà chưa lên, người đàn bà ngồi thụp xuống đất.

Con dao cầu vẫn đưa lên đưa xuống, cạch, cạch.

"Xuống hạ lưu à?"

"Dạ. Đắp đê, đào cống ạ."

Con dao dừng lại.

Ông lang ngồi im một lúc, mắt nhìn ra cái giàn phơi thuốc lấm tấm mưa bụi.

"Mùa này dưới ấy lắm muỗi."

Chỉ thế thôi. Rồi ông đứng dậy, đi vào gian thuốc, mở mấy cái ngăn tủ, bốc ra từng nắm, từng nắm, bày lên cái nong. Một đống lá thường sơn khô quắt, một đống búp ổi phơi giòn, một nhúm gừng thái lát.

"Gói hai mươi gói. Mỗi gói ba thứ."

Luân ngồi xuống bên cái nong, lấy lá chuối khô gói lại, buộc lạt. Nó gói, và nó đếm.

"Thưa thầy, lá này chữa gì ạ?" Nó giơ một nhúm lá thường sơn lên.

"Sốt rét."

"Còn búp ổi ạ?"

"Đi tả." Ông lang bốc thêm một nắm búp ổi thả vào nong, chẳng buồn nhìn.

"Gừng ạ?"

"Để đi đường mà nhai. Cho ấm bụng."

Gói thứ mười. Gói thứ mười lăm. Gói thứ mười chín. Tới gói thứ hai mươi thì Luân buộc lạt chậm hẳn lại. Nó nhìn cái gói lá chuối trong tay, cái gói cuối cùng, và nó nghĩ không biết gói này rồi sẽ nằm trong túi áo ai.

Chiều ấy, Luân xuống điếm.

Đường tắt xuống điếm thì phải đi hết ngõ Mương Đen, mà đi hết ngõ Mương Đen thì phải đi ngang qua lò mổ. Từ hôm ở thửa chiêm trũng, Luân lại đi đường tắt. Mưa bụi đã ngớt, nhưng đất ngõ vẫn nhão nhoét, lép nhép dưới chân. Còn cách lò mổ mấy chục bước chân đã ngửi thấy mùi, cái mùi tanh nồng của tiết lợn, của lòng lợn, của phân lợn trộn với nước gạo chua, quện vào nhau, xộc lên tận óc.

Lão đồ tể ngồi trên cái ghế đẩu kê trước cửa lò, cởi trần giữa trời rét, cái bụng phệ đỏ au, đang mài con dao chọc tiết lên hòn đá mài, xoèn xoẹt, xoèn xoẹt. Dưới rãnh, nước lẫn tiết loang đỏ quạch. Trong chuồng, mấy con lợn ụt ịt, dúi mõm vào nhau.

Thằng Hợi ngồi xổm bên cái chậu gỗ, hai tay thọc vào trong một đống lòng lợn, đang tuốt. Hai thằng em nó đứng nép ở cửa chuồng.

"Mai mày lên đình."

Thằng Hợi không ngẩng lên. Hai tay nó vẫn tuốt, tuốt chậm lại.

"Nghe thấy chưa?"

"Nghe rồi."

"Thằng đánh nhau thua cả thằng đào mả thì ở nhà làm cái gì?" Lão đồ tể lật con dao, mài nốt mặt kia, xoèn xoẹt. "Ở nhà ăn hại cơm tao à? Đi gánh đá cho quan. Ba tháng về, may ra còn ra hình thằng người."

Thằng Hợi vẫn cúi. Một khúc lòng tuột khỏi tay nó, rơi đánh bộp xuống chậu.

Lão đồ tể dừng mài.

"Quan hỏi thì bảo mười sáu. Nghe chưa? Mười sáu."

Thằng Hợi im một lúc lâu. Rồi nó nói, giọng rè đi như cái mõ nứt.

"Mười sáu."

Lúc ấy nó ngẩng lên. Và nó nhìn thấy Luân đứng ở đầu ngõ.

Hai đứa nhìn nhau.

Mấy tháng nay, gặp Luân ở đâu thằng Hợi cũng quay mặt đi, nhổ toẹt một bãi xuống rãnh. Lần này nó không nhổ. Nó nhìn Luân được một lúc, rồi mới quay mặt đi. Nó cúi xuống cái chậu gỗ, nhặt khúc lòng lên, tuốt tiếp, tuốt mạnh tới mức khúc lòng đứt đôi trong tay.

Luân đi tiếp xuống điếm.

Chiều ấy nó tập hỏng cả buổi. Chém thì trượt, né thì chậm, ngã thì ngã như cái chum vỡ. Lão ăn mày gõ gậy vào đầu gối nó mười mấy lần, cộc, cộc, cộc, mà nó vẫn cứ lơ đãng như người ngủ mê. Tới lần thứ mười mấy thì lão thôi không gõ nữa, nhìn nó chằm chằm.

"Hồn mày để ở lò mổ à?"

Luân giật mình ngẩng lên. Lão ăn mày chẳng giải thích gì thêm, chỉ gõ đầu gậy xuống đất một cái.

"Ôm đá chạy dốc. Chạy tới lúc hồn nó về thì thôi."

Sáng mười bảy tạnh mưa, trời xám như lưng con cá chép chết.

Sân đình đông hơn cả hôm trước. Mười chín người đàn ông đứng thành hai hàng giữa sân, người già nhất tóc đã lốm đốm bạc, người trẻ nhất là thằng cu nhà người đàn bà xóm Hạ, mặt còn lún phún lông tơ, đứng mà hai đầu gối cứ run lẩy bẩy. Người nhà đứng vòng ngoài, vợ con, cha mẹ, anh em, người nào cũng rầu rĩ, có người khóc thút thít, có người ôm con mà dỗ, dỗ đứa trẻ con mà nước mắt mình thì chảy ròng.

Tên cai ngồi sau một cái án thư kê ngay trên thềm, trước mặt là quyển sổ phu bìa xanh. Ông thơ lại ngồi bên cạnh, cầm bút, gọi từng người lên. Tên. Tuổi. Hộ. Người nào lên tên cai cũng nhìn từ đầu tới chân như người ta xem trâu ở chợ, bắt giơ tay, bắt quay lưng, có người còn bị bắt há miệng ra xem răng.

Luân chen được lên hàng đầu đám người đứng xem, cạnh thằng Cò. Ông lang lại bảo nó lên xem, còn ông thì ở nhà.

Tới gần trưa thì lão đồ tể lên.

Lão vẫn đeo cái tạp dề da trâu đen bóng, lấm tấm tiết lợn chưa khô, một tay túm gáy thằng Hợi mà đẩy đi trước, như đẩy một con lợn lên cân. Tới trước án thư, lão cúi rạp người xuống.

"Bẩm quan, suất nhà con đây ạ."

Ông thơ lại chấm bút.

"Tên?"

"Hợi."

"Tuổi?"

Thằng Hợi mở miệng. Nhưng lão đồ tể đã nói trước.

"Mười sáu, bẩm quan."

Sân đình không ai nói gì.

Nhưng Luân thấy mấy người đứng gần đấy liếc nhau. Ai ở Mương Đen mà chẳng nghe thấy cái hôm tháng Tám, lão đồ tể quất roi da trâu vào lưng con, chửi toáng lên mười hai tuổi đầu đánh nhau thua thằng đào mả chín tuổi. Ai ở Lò Trấu mà chẳng biết thằng Hợi mới lên mười ba hôm mùng một Tết. Người ta nhìn nhau. Rồi người ta nhìn xuống đất.

Có một bà cụ đứng sau lưng Luân khẽ tặc lưỡi, thì thào với người bên cạnh.

"Tuổi Hợi, năm Hợi. Năm tuổi của nó đấy. Năm tuổi mà đi xa thì phải hạn..."

"Suỵt."

Tên cai ngả người ra sau, nheo mắt nhìn thằng Hợi.

"Mười sáu?" Hắn gãi cái cằm râu quai nón. "Mười sáu mà cái mặt còn non choẹt thế kia?"

Lý trưởng vội bước lên, xoa xoa hai bàn tay.

"Bẩm quan cai, nhà nó bán thịt, ăn thịt từ bé, nên cái xác thì to mà cái mặt thì non ạ."

Có mấy tiếng cười, cười gượng. Tên cai không cười.

"Giơ tay lên."

Thằng Hợi giơ hai tay lên. Tay trái vươn thẳng lên trời. Tay phải lên tới ngang vai thì dừng lại, run run, rồi không lên nữa.

"Tay phải làm sao?"

"Bẩm, nó thuận tay trái." Lão đồ tể cười hề hề, cái bụng phệ rung rung. "Tay phải nó lười, quan ạ."

Luân biết cái tay ấy không lười.

Nó nhớ cái chiều tháng Mười năm Đinh Dậu ở ao đình, cái bóng gầy nhẳng của thằng Cò lao từ trên bờ xuống, nửa hòn gạch giơ cao đập thẳng vào bả vai thằng Hợi, tiếng thằng Hợi rú lên giữa mặt ao, cái bả vai rũ xuống một bên. Từ bữa ấy, thằng Hợi không bao giờ giơ được tay phải quá đầu nữa.

Bên cạnh nó, thằng Cò đưa tay lên sờ cái vết sẹo trên trán mình, cái vết sẹo của chính hòn gạch ấy, lúc thằng Hợi nhặt nó lên từ dưới nước mà nện trả. Nó sờ đi sờ lại, như người ta gãi một chỗ ngứa mà chẳng biết mình đang gãi.

Luân há miệng.

Nó không biết nó định nói gì. Có khi nó định nói nó mười ba. Có khi nó định nói cái tay ấy không phải lười. Cái miệng nó cứ thế mở ra, trước cả khi cái đầu chậm chạp của nó kịp nghĩ xong.

Thằng Hợi quay đầu lại.

Nó nhìn thẳng vào Luân. Cái nhìn ấy không phải cái nhìn cầu cứu. Cũng không phải cái nhìn doạ nạt. Nó là cái nhìn của một thằng đang bị người ta lột quần giữa sân đình, và chỉ xin đúng một điều, là đừng có thằng nào cúi xuống nhặt cái quần lên hộ nó.

Luân ngậm miệng lại.

Tên cai phẩy tay.

"Được. Gánh được là được."

Ông thơ lại cúi xuống quyển sổ, ngọn bút sột soạt trên giấy. Luân không đọc được ông ta viết gì. Nó chỉ nhìn thấy mấy chữ đen đen nối nhau chạy dọc xuống trang giấy, như một hàng kiến.

Tên cai gõ ngón tay xuống mặt án thư, cộp, cộp.

"Ngày hai mươi, canh năm, có mặt. Mang gạo ăn mười ngày, mang cuốc thuổng, quang gánh. Trốn thì cả nhà chịu tội."

"Dạ, dạ." Lão đồ tể lại cúi rạp người, rồi quay lại đẩy vào lưng thằng Hợi một cái. "Về."

Trên đường về, thằng Cò đi trước, chẳng nói chẳng rằng, chân cứ đá một hòn sỏi lăn lóc cóc trên mặt đường. Tới đầu xóm Trung thì nó dừng lại, không quay đầu.

"Cái vai nó là tại tao."

Luân đứng lại sau lưng nó.

"Hôm ấy nó dìm mày." Thằng Cò nói tiếp, giọng gắt, như đang cãi nhau với ai. "Tao mà không đập thì giờ mày nằm dưới đáy ao đình cho bèo nó quấn rồi."

"Ừ."

"Tao không hối hận."

"Ừ."

Thằng Cò đá hòn sỏi thêm một cái. Hòn sỏi văng xuống rãnh, chìm nghỉm.

"Tao không hối hận." Nó nói lại, lần này nhỏ hơn. Rồi nó đi thẳng một mạch về nhà, không đợi Luân.

Trưa ấy Luân về kể cho ông lang nghe, kể cả cái tuổi mười sáu lẫn cái tay phải lười. Ông nghe hết, không hỏi câu nào, chỉ có con dao cầu là dừng lại lâu hơn mọi khi.

Chiều hôm ấy, lúc từ điếm về, trời đã nhá nhem.

Luân đi ngang qua thửa chiêm trũng cuối cùng, cái thửa sâu nhất, sát ngay mép ngõ Mương Đen. Mặt nước ruộng xám xịt, phẳng lì, không một gợn, chỉ có mấy con cò bợ đứng co một chân ở tít đằng xa.

Ở chỗ hai bờ ruộng gặp nhau, cái khoảnh đất rộng bằng cái nong, có một người ngồi.

Thằng Hợi ngồi bó gối trên bờ, tay phải thõng xuống bên sườn. Tay trái nó bốc từng cục đất trên bờ, ném xuống chỗ nước sâu nhất, cái chỗ hôm tháng Tám nó ngã xuống ngập tới ngực. Tõm. Một lúc. Tõm.

Luân dừng lại.

Thằng Hợi không quay đầu.

"Nhìn cái gì?"

Luân không đáp.

Tõm. Một cục đất nữa. Những vòng sóng tròn loang ra trên mặt nước xám, loang mãi, loang tới tận chân bờ bên kia thì tan.

"Sáng nay mày định nói cái gì?"

Luân vẫn không đáp.

Thằng Hợi bốc thêm một cục đất, cầm trong tay, bóp vụn ra, để cho đất lọt qua kẽ ngón tay, rơi lả tả xuống chân.

"Mày mà nói ra." Nó nói, giọng trầm, khàn. "Thì tao giết mày."

"Ừ."

Thằng Hợi quay phắt lại, trừng mắt nhìn nó. Có lẽ nó tưởng Luân sẽ sợ, hay sẽ cãi, hay sẽ chạy. Luân chẳng làm gì trong ba cái ấy. Nó chỉ đứng đấy, gật đầu, như người ta gật đầu với một điều ai cũng biết.

Thằng Hợi nhìn nó một lúc. Rồi nó quay đi.

"Cút."

Luân đi.

Tới cuối bờ ruộng thì nó ngoái lại. Thằng Hợi vẫn ngồi đấy, một cái bóng đen thui co ro giữa hai mặt nước xám, cái tay phải vẫn thõng xuống bên sườn như một cành cây gãy mà chưa rụng.

Hôm nghe thằng Cò kể chuyện lão đồ tể đánh con, Luân đã tự hỏi không biết lần này thằng Hợi sẽ đi tìm ai.

Bây giờ thì nó biết. Thằng Hợi chẳng đi tìm ai cả.

Người ta đã tìm đến nó trước.

1

Được yêu thích bởi: Đại Hiệp Mèo