Phong Sương Niên Ký

Quyển 1: Đại Xuân Biên Niên Sử

Chương 16: Vè Cho Thằng Ngu

Đăng: 28/09/2026 17:08 4,453 từ 4 lượt đọc

Ba đứa lê về tới đầu xóm Trung thì thằng Cò bảo để nó đưa thằng chỏm về, chứ mặt mũi Luân thế kia mà vác tới tận cổng nhà người ta thì u thằng bé ngất ra đấy mất. Thằng Bống không chịu buông tay Luân, phải bị thằng Cò lôi đi, vừa đi vừa ngoái lại mãi.

Luân xách cái giỏ cá về nhà.

Trời đã xế. Ông lang ngồi thái thuốc ngoài hiên như mọi chiều, con dao cầu đưa lên đưa xuống, cạch, cạch, đều đặn như tiếng mõ. Con dao dừng lại khi Luân bước vào sân.

Ông nhìn nó. Con mắt trái sưng húp chỉ còn một đường chỉ, tím bầm. Cái môi dưới rách một đường. Máu mũi đã đóng thành vảy. Quần áo ướt rồi khô, bùn đóng lại thành từng mảng cứng queo. Bàn tay trái nó nắm lại giấu dưới vạt áo, còn tay phải thì xách cái giỏ cá.

Luân đặt cái giỏ xuống trước hiên, lùi lại một bước, đứng thẳng lưng. Lần này dọc đường về nó không tập sẵn câu nào. Nó chẳng cần tập.

"Thưa thầy, con đánh nhau ạ."

Con dao cầu vẫn nằm im trên tấm thớt.

"Với ai?"

"Dạ, với Hợi ạ."

Ông lang nhìn nó. Luân không biết ông có nghe ra cái tiếng đã rơi mất trước cái tên ấy hay không. Mặt ông chẳng đổi.

"Vì sao?"

Luân kể. Nó kể ngắn thôi, bởi mỗi lần mở miệng thì cái môi toác lại rát. Chuyện hai cái lờ, chuyện thằng Cò quay lại vì thằng Bống ngã, chuyện năm đứa, chuyện nửa hòn gạch giơ lên trên đầu thằng Cò. Rồi nó ngừng lại, nghĩ một lúc, tìm cho ra cái câu đúng nhất.

"Ngoài ruộng không có ai cầm thước ạ."

Ông lang không nói gì.

Bàn tay ông đang đặt trên cán dao cầu khẽ siết lại, mấy ngón tay gân guốc co vào, các đốt ngón tay trắng bệch ra, như cái trưa tháng Tư trong gian bếp, cái trưa nó bảo con không có cha mẹ, thầy ạ. Ông nhìn nó rất lâu, lâu tới mức mặt trời đã tụt xuống thêm một con sào sau rặng tre.

"Mày đánh nó mấy cái?"

Luân nghĩ. Nó lần lại từng cái một, như người ta đếm lại từng hạt đỗ trong lòng bàn tay.

"Dạ... năm cái ạ. Hai đứa đi theo, mỗi đứa một cái vào tay. Thằng em Hợi một cái vào mu bàn tay. Hợi hai cái, một cái vào cổ tay, một cái vào cẳng tay ạ. Cái nào cũng vào tay ạ." Nó ngập ngừng. "Với một cái con húc vai vào khoeo chân Hợi ạ, lúc Hợi giơ chân định giẫm lên đầu thằng Bống ạ."

"Có cái nào thừa không?"

Luân nghĩ lâu hơn. Nó nghĩ tới cái mặt ngửa lên dưới chân bờ, tới nửa cây nan gãy run run trong tay, tới cái thứ ngọt lịm ập lên như nước qua bờ khuyết. Nó muốn trả lời cho đúng. Nó không muốn trả lời cho dễ.

"Dạ... có một cái con suýt thừa ạ. Lúc Hợi ngã xuống ruộng rồi ạ." Nó nói, giọng nhỏ lại. "Con dừng được ạ."

Ông lang ngồi im.

Rồi ông nói, cái giọng khàn khàn đều đều, đúng cái giọng hôm ông gọi thằng Quý, gọi thằng Bống trong lớp.

"Chìa tay ra."

Luân đứng sững.

Nó nhớ thằng Bống hôm ấy, nhớ cái mặt trố ra không tin nổi vào tai mình, năm thước, không nhẹ hơn thằng Quý một cái nào. Nó giật trước thì nó ăn phần của nó, mày cắn sau thì mày ăn phần của mày. Người ta vẫn bảo thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi. Luân chẳng biết ông lang thương hay ghét. Nó chỉ biết nó đã đánh năm cái, thì nó ăn năm cái. Thế là sòng phẳng.

Nó bước lên, rút bàn tay trái ra khỏi vạt áo, chìa ra, lòng bàn tay ngửa lên, rồi nhắm mắt lại.

Nó đợi cái thước.

Cái thước không đến.

Một bàn tay gân guốc cầm lấy cổ tay nó, xoay bàn tay nó ra phía ánh sáng. Luân mở mắt. Ông lang đang cúi xuống nhìn lòng bàn tay nó, nhìn những sợi tre gãy đâm vào lởm chởm, cái thì còn thò một đầu ra ngoài, cái thì đã lút hẳn vào trong thịt, chung quanh sưng tấy đỏ lên.

"Dằm tre mà để trong thịt qua đêm thì mưng mủ." Ông nói. "Ngồi xuống."

Luân ngồi xuống bậc thềm mà chẳng biết mình đang ngồi.

Ông lang châm ngọn đèn dầu lạc, lấy trong hộp gỗ ra một cây kim khâu, hơ đầu kim lên ngọn lửa cho đỏ, đợi nguội, rồi cúi xuống khều từng cái dằm ra. Ông khều chậm, kỹ, cái nào lút sâu thì ông lấy mũi kim rạch khẽ một đường ở miệng rồi mới gắp ra. Luân rít lên qua kẽ răng mấy lần, rồi thôi. Nó ngồi nhìn cái đỉnh đầu lốm đốm bạc của ông lang cúi xuống sát bàn tay mình, và nó nhớ ra một chuyện. Hôm ấy thằng Bống cắn thằng Quý, cắn cả lúc nắm xôi đã rơi xuống chiếu rồi mà vẫn không chịu nhả. Hôm nay thằng Hợi ngã xuống ruộng rồi, thì nó dừng.

Ông lang gắp xong cái dằm cuối cùng, rửa tay cho nó bằng nước muối, quệt cao, quấn vải. Rồi ông ngẩng lên nhìn con mắt sưng húp, lấy hai ngón tay ấn nhẹ quanh gò má, quanh sống mũi, rồi ấn xuống mạng sườn. Luân nhăn mặt.

"Xương không gãy." Ông nói. "Mai vẫn gánh được nước."

"Dạ."

Ông lang đậy nút lọ cao lại. Rồi ông liếc xuống cái giỏ cá.

"Cái gì đây?"

"Dạ, cá con đặt lờ bắt được ạ." Luân lí nhí. "Con để... để trả thầy ạ."

"Trả cái gì?"

Luân cúi gằm mặt xuống. Nó nói, nói khẽ như sợ gió nghe thấy.

"Dạ... trả những cái thầy không ghi ạ."

Ông lang không nói gì. Ông nhìn cái giỏ, nhìn mười mấy con cá rô bầm dập nằm chồng lên nhau, con thì đã chết, con thì vẫn còn há mang thở phập phồng. Ông nhìn lâu, lâu hơn cái đáng để nhìn một giỏ cá.

"Mười mấy con cá rô," ông nói, "mà đòi trả chữ thánh hiền."

Giọng ông khàn khàn, như mọi khi. Nhưng không gắt.

"Đem xuống bếp. Con nào còn sống thì thả vào chum."

"Dạ."

Luân xách giỏ đứng dậy, đi được mấy bước thì dừng lại, quay đầu.

"Thưa thầy... con nói tên con ra rồi ạ."

Ông lang đang với tay cầm lại con dao cầu, nghe thế thì ngừng.

"Nói với ai?"

"Dạ, với Hợi ạ. Nó hỏi thằng Bần đâu. Con bảo ở đây không có thằng Bần nào." Luân nuốt nước bọt. "Con bảo... con bảo tao tên là Minh Luân ạ."

Ông lang ngồi im một lúc. Luân không biết ông giận vì cái tiếng tao, hay ông đang nghĩ gì khác. Nó chỉ thấy ông đặt con dao cầu xuống, nhìn ra cái giàn phơi thuốc đang đổ bóng xiên xiên trên sân.

"Người ta bảo mua danh ba vạn, bán danh ba đồng." Ông nói. "Mày vừa đem cái danh ấy ra giữa ruộng rồi. Từ mai cả làng biết. Người ta gọi mày thế nào, gọi bằng cái giọng gì, thì mày cũng phải thưa. Giữ được hay không là từ giờ."

"Dạ."

"Đi đi."

Cạch. Con dao cầu lại đưa xuống, gọn, đều.

Sáng hôm sau, tay trái quấn vải, Luân còn đang lóng ngóng chưa biết làm cá thế nào thì đã thấy ông lang ngồi sẵn trong gian bếp từ lúc nào. Ông ngồi trên cái ghế con, trước mặt là cái chậu sành, tay cầm con dao nhỏ, đánh vảy từng con cá rô, móc mang, rửa sạch, ướp muối, xếp vào cái niêu đất. Ông làm chậm, kỹ, gọn ghẽ, như lúc ông băng bó cho người ốm. Mấy tháng ở nhà ông, Luân chưa thấy ông lang xuống bếp làm cá bao giờ.

Trưa ấy trên mâm có niêu cá rô kho. Ông lang gắp cá, gỡ từng cái xương nhỏ, ăn chậm rãi, chẳng nói gì về niêu cá. Luân cũng chẳng dám hỏi.

Người ta vẫn bảo tiếng lành đồn gần, tiếng dữ đồn xa. Chuyện ở thửa chiêm trũng thì chẳng rõ là lành hay dữ, chỉ biết là đồn nhanh. Chưa tàn buổi sáng hôm ấy, cả Lò Trấu đã biết. Người ta kể với nhau ở bến ao đình, ở giếng đình, ở hàng nước đầu chợ, và mỗi người kể một khác. Người thì bảo thằng Bần đánh năm đứa con nhà đồ tể ngã lộn cổ xuống ruộng. Người thì bảo nó đánh gãy tay thằng Hợi. Có người còn thề sống thề chết là trông thấy nó cầm cái que mà quất vun vút như tướng nhà trời, thằng Hợi phải quỳ xuống mà lạy. Mấy bà già thì chép miệng bảo thằng ấy ngủ ở cái điếm ma què mấy năm, chẳng ma xui quỷ khiến thì sao dám.

Nhưng cái chuyện người ta kể nhiều nhất, kể mà cười nhiều nhất, lại là chuyện khác.

"Nó bảo nó tên là Minh Luân!"

"Minh Luân! Nghe như tên con quan!"

"Thằng đào mả mà đòi tên con quan! Ông lang đặt cho à? Ông lang đặt tên cho đứa chạy vặt mà cũng hay chữ gớm!"

Người lớn cười. Trẻ con thì nhanh hơn người lớn. Chỉ một buổi chiều, cái tên ấy đã theo Luân tới mọi nơi nó đi qua. Nó gánh nước ra giếng, có đứa đứng vắt vẻo trên bờ rào gào lên Minh Luân ơi. Nó ôm rổ lên đồi, có đứa nấp sau bụi tre nhại giọng quan huyện, bẩm quan lớn Minh Luân. Có mấy đứa còn đặt ra được cả vè, vừa lẽo đẽo theo sau lưng nó vừa hát:

Minh Luân là cậu con quan,Nhà thì điếm hoang, đi đào huyệt thuê.

Luân nghe hết. Lần nào có đứa gọi Minh Luân, nó cũng quay lại mà dạ, dạ rành rọt, dạ như dạ ông lang, rồi mới đi tiếp.

Gọi mãi mà nó cứ dạ mãi thì bọn trẻ đâm chán. Trêu một thằng mà nó chẳng đỏ mặt, chẳng cãi, chẳng chạy, chỉ quay lại dạ một tiếng rồi đi, thì còn gì là vui. Tới chiều hôm thứ ba, chỉ còn vài đứa bé tí là còn chạy theo sau lưng nó mà gọi, gọi xong rồi đứng ngẩn ra, chẳng biết làm gì tiếp.

Ngày xưa, người ta gọi thằng Bần thì nó cũng dạ. Hồi ấy nó dạ cho người ta khỏi đánh. Bây giờ người ta gọi Minh Luân, nó dạ vì đấy là tên nó.

Thằng Bống thì mất hút. Thằng Cò bảo u nó nhốt nó trong nhà, từ hôm ấy không cho ra khỏi cổng. Còn thằng Cò thì mang về những tin khác.

"Lão đồ tể đánh thằng Hợi một trận ra trò." Nó vừa nhai củ khoai vừa kể, cái mạng sườn còn quấn vải, thỉnh thoảng lại nhăn mặt. "Lão bảo mười hai tuổi đầu, đánh nhau thua thằng đào mả chín tuổi thì về đây làm gì cho nhục cái lò mổ. Lão quất bằng roi da trâu, cả Mương Đen nghe thấy. Xong lão chửi ầm lên, bảo sang xóm Trung mà đòi lại cái bàn tay cho con lão."

"Lão có sang không?"

"Sang cái nỗi gì." Thằng Cò cười khẩy. "Lão chửi cả buổi rồi ngồi uống rượu. Nhà lão có ai ốm thì lại chẳng phải gõ cửa ông lang."

Luân im.

Nó nhớ cái lằn roi da trâu trên má thằng Hợi hồi tháng Mười năm ngoái, cái hôm thằng Hợi vừa bị bố đánh xong thì đi tìm nó mà ném xuống ao đình. Bây giờ thằng Hợi lại vừa bị đòn. Nó không biết lần này thằng Hợi sẽ đi tìm ai.

Mấy chiều sau ấy, Luân vẫn xuống điếm hoang như mọi chiều. Lão ăn mày không hỏi gì về con mắt sưng, cái tay quấn vải. Lão cũng chẳng dạy gì mới, chỉ bắt nó đứng tấn, chạy, né, ngã như mọi chiều, riêng chém thì tạm thôi vì cái tay trái. Luân cứ tưởng lão không biết chuyện.

Chiều rằm tháng Tám, lúc Luân móc nửa nắm cơm ra, lão ăn mày không cầm lấy ngay như mọi khi.

Lão ngồi trên sạp tre, cái bầu rượu đặt bên cạnh, nút kín. Luân để ý thấy từ lúc nó tới, lão chưa uống ngụm nào.

"Năm lần." Lão nói.

"Dạ?"

"Mày bị thằng Hợi đấm ngã năm lần." Lão giơ bàn tay to bè ra, xòe năm ngón. "Một lần xuống ruộng. Bốn lần trên bờ."

Luân đứng sững. Nó chưa kể với lão một lời nào.

"Chú... chú ở đấy ạ?"

Lão không đáp câu ấy, cũng như chưa bao giờ lão đáp câu ấy.

"Đánh như con gà mái bới rác." Lão khạc một bãi ra sân. "Cầm cái nan lờ mà để nó giật gãy. Thằng Hợi nó giả đòn một cái, vai không động mà tay vẫn đi, thế là mày đứng ra đớp trọn nắm đấm như con cá rô đớp mồi. Tao ném quả ổi kiểu ấy cả tháng trời, mày học được cái đéo gì?" Lão khịt mũi. "Thằng Hợi mà không ngu tới mức quay lưng lại với mày để giơ chân với thằng chỏm, thì giờ này mày đang nằm dưới ruộng cho đỉa nó bú."

Luân cúi đầu.

"Dạ."

Lão ăn mày im một lúc. Rồi lão nói, giọng trầm hẳn xuống, không còn chê bai nữa.

"Lúc nó ngã xuống ruộng ấy. Mày đứng trên bờ, cầm cái nan gãy."

"Dạ."

"Tay mày run không?"

Luân ngẩng lên. Lão ăn mày không nhìn nó. Lão nhìn ra cây chuối dựng giữa sân, cái thân chuối dập nát lỗ chỗ những vết cành ổi.

"Dạ, run lắm ạ." Luân nói. "Run như có ai giằng ạ."

"Ừ." Lão ăn mày gật đầu, chậm, rất chậm. "Nó giằng thế đấy."

Lão không nói nó là ai. Luân cũng không hỏi. Nó chỉ nhìn cái bàn tay to bè đặt trên đầu gối lão, những vết sẹo chằng chịt từ cổ tay lên tới khuỷu, và nó nhớ cái chiều trong vòng tròn, cây gậy tre giơ lên rồi dừng lại giữa trời.

"Mày dừng." Lão nói.

"Dạ."

Lão không hỏi vì sao. Lão chỉ chìa tay ra cầm lấy nửa nắm cơm, bóc lá, cắn một miếng, nhai chậm rãi, chậm hơn mọi khi.

"Nghe đâu giờ mày có tên rồi."

"Dạ."

Lão nheo mắt, hỏi như trêu. "Tên gì?"

"Dạ, Minh Luân ạ."

Lão ăn mày nhai nốt miếng cơm, nuốt, rồi mới nói.

"Ừ. Đỡ xấu."

Luân gãi đầu, cười. Hồi còn là thằng Bần, người nào hỏi tên nó xong cũng chê đúng một câu, tên gì mà xấu thế, lão ăn mày cũng chê y như vậy. Giờ thì lão bảo đỡ. Nó nghe cái chữ đỡ ấy mà sướng hơn được khen.

Lão ăn mày ăn hết nửa nắm cơm, liếm mấy hạt dính trên lá, rồi nhìn nó từ đầu tới chân, cái nhìn của người ta ngắm một cái chum sành mới ra lò, xem có chỗ nào rạn.

"Tay chân mày thì chậm. Sức thì như con mèo ốm. Mà tư chất thì kém, kém lắm." Lão nói, giọng đều đều. "Tao dạy mày cầm gươm mấy tháng nay, mày cũng chỉ tới thế. Cái thân mày như cái bị rách, hơi vào bao nhiêu lọt ra bấy nhiêu. Đánh được mươi hơi thở đã hết hơi."

"Dạ."

"Tao cho mày mấy câu khẩu quyết."

"Khẩu... khẩu quyết là gì ạ?"

"Là vè." Lão phẩy tay. "Vè để thở. Công pháp loại bình thường nhất trần đời, cho mấy thằng ngu học thôi. Ngu tới mấy cũng học được. Học vào thì hơi mày dài hơn. Hơi dài hơn thì bị đấm ngã năm lần, mày vẫn còn đứng dậy được lần thứ sáu."

Luân mở to mắt. Nó chưa nghe cái chữ công pháp bao giờ, cũng chẳng biết nó là cái gì. Nó chỉ nghe thấy lão bảo học vào thì đứng dậy được lần thứ sáu.

"Dạ!"

"Khoan." Lão giơ tay lên. "Hôm trước tao bảo gì? Dạy mày cái đáng tiền hơn thì tao đòi cả nắm."

Luân khựng lại. Nó nhìn cái lá chuối rỗng trong tay lão, rồi nhìn xuống cái bụng lép kẹp của mình. Từ mai đưa lão cả nắm thì trưa nó nhịn. Mà đê thì đắp xong rồi, chắc gì ông lang còn cho nắm to.

Nhưng nó đã hỏi, lão đã đáp, thế là giao kèo. Nó đứng thẳng lưng lên.

"Dạ. Từ mai cháu đưa chú cả nắm ạ."

Lão ăn mày nhìn nó, nhìn con mắt còn tím, cái môi còn toác, cái bụng lép như mặt trống thủng. Rồi lão khịt mũi.

"Thôi. Người ta bảo mạnh vì gạo, bạo vì tiền. Tiền thì mày không có. Gạo mà cũng không nốt thì lấy đâu ra hơi mà thở." Lão ngả lưng vào vách. "Vẫn nửa. Nhưng nửa to."

"Dạ!"

"Đợi trăng lên."

Mặt trời lặn sau rặng tre. Phía đông, từ sau đỉnh Dốc Cửa Mả, mặt trăng rằm tháng Tám nhô lên, tròn vành vạnh, sáng vằng vặc, trong vắt như cái đĩa bạc vừa đánh bóng. Nó không vàng úa như cái trăng rằm tháng Bảy treo trên bãi tha ma hôm nào. Trăng tháng Tám thì bao giờ cũng trong hơn.

Lão ăn mày bảo nó ngồi xếp bằng trên bậc cửa điếm, quay mặt về phía trăng. Lưng thẳng. Hai bàn tay úp lên hai đầu gối. Mắt khép hờ.

"Thở bằng cái bể. Như mọi khi."

Luân thở.

Rồi lão đọc.

Giọng lão lúc ấy khác hẳn mọi khi. Không khàn đặc, không lè nhè, không đứt quãng như những đêm say. Lão đọc rành rọt, chậm rãi, từng tiếng rơi xuống đều đều như tiếng mõ trong chùa, đọc trơn tru như câu đã thuộc từ lâu lắm.

Vô hình vô định hướng,Tướng tan theo gió sương.Vạn nẻo quy nhất mạch,Pháp tại tâm vô thường.

Luân ngồi nghe. Nó chẳng hiểu chữ nào. Vô là gì, tướng là gì, vô thường là gì, nó chẳng biết. Nó chỉ nghe thấy cái giọng ấy, và cái giọng ấy làm cho gáy nó lạnh đi một cách lạ lùng, như có ai vừa thổi một hơi gió đêm vào đấy.

"Đọc lại."

Luân đọc lại. Nó đọc sai. Nó đọc vô hình vô... vô định hướng, tướng tan theo... theo gió mưa. Đầu gậy tre gõ xuống đầu gối nó, cộc.

"Sương. Không phải mưa."

Nó đọc lại. Lại sai. Lại cộc. Tới lần thứ mười thì nó đọc trơn được cả bốn câu, không vấp chữ nào. Cái đầu nó chậm, nhưng đã thuộc thì thuộc chắc.

"Thưa chú, thế nghĩa là gì ạ?"

"Hiểu làm đéo gì." Lão ăn mày gắt. "Thằng ngu thì học vẹt. Con vẹt nó có hiểu nó nói gì đâu, mà người ta vẫn khen nó nói hay."

Rồi lão dạy nó cách thở theo vè. Hít vào thì đọc câu đầu, đọc trong đầu thôi, không được ra tiếng. Thở ra thì câu hai. Hít vào câu ba. Thở ra câu bốn. Hơi đi xuống cái bể dưới rốn. Hết bốn câu thì lại đọc từ đầu. Đọc tới lúc quên mất mình đang đọc thì thôi.

"Tối nào đi ngủ cũng vận công một lượt."

"Vận công là gì ạ?"

"Là đọc vè mà thở. Hỏi lắm." Lão gõ gậy. "Ngồi đấy mà luyện."

Luân ngồi luyện.

Hít vào. Vô hình vô định hướng. Thở ra. Tướng tan theo gió sương. Hít vào. Vạn nẻo quy nhất mạch. Thở ra. Pháp tại tâm vô thường.

Lần đầu, lần thứ hai, nó còn nhớ đếm. Tới lần thứ năm thì nó quên mất mình đang ở câu thứ mấy. Từ trong làng vọng ra tiếng trống ếch trẻ con đánh đón trăng, tùng tùng dinh, tùng tùng dinh, lẫn với tiếng hát lanh lảnh:

Ông giẳng ông giăng,Xuống chơi với tôi,Có bầu có bạn...

Nó nghe tiếng hát, thế là lạc mất câu ba. Đầu gậy tre lại gõ xuống đầu gối. Cộc.

"Tai để đâu?"

Nó lại đọc từ đầu.

Trăng lên cao dần. Ánh trăng rọi xuống sân điếm trắng như rắc vôi, rọi lên cây chuối dập nát giữa sân, lên cái mái rạ thủng lỗ chỗ, lên bộ râu tóc bù xù của lão ăn mày ngồi bất động trên sạp. Ngoài đồng, ếch nhái kêu ồm ộp. Dưới chân dốc, nước ruộng chiêm trũng loang loáng một màu bạc.

Hít vào. Thở ra. Bốn câu. Lại bốn câu.

Tới một lúc, Luân không còn nghe thấy tiếng trống ếch nữa. Không còn nghe thấy tiếng ếch nhái. Chỉ còn tiếng thở của mình, chầm chậm, đều đều, như tiếng nước lên xuống dưới đáy một cái giếng rất sâu.

"Được rồi."

Tiếng lão ăn mày kéo nó về. Luân mở mắt. Trăng đã lên cao quá ngọn tre.

"Thấy gì?"

"Dạ...?"

"Thấy gì. Trong người."

Luân nghĩ một lúc, ngượng ngùng.

"Dạ... cháu thấy ấm ấm ở bụng ạ." Rồi nó vội nói thêm, cho khỏi bị mắng là bịa. "Mà chắc tại cháu vừa ăn cơm ạ."

Lão ăn mày nhìn nó một lúc.

"Ấm ở đâu?"

"Dạ... dưới rốn ạ."

Lão không nói gì thêm. Lão với lấy cái bầu rượu, rút nút, tu một ngụm, rồi quệt ngang miệng.

"Ừ. Tại cơm." Lão nói. "Ngu thật."

Luân gãi đầu, cười hì hì.

Lúc nó ôm rổ đứng dậy chào về, lão ăn mày gọi giật lại.

"Ê. Thằng ranh."

"Dạ."

"Mấy câu vè ấy. Đừng đọc cho ai nghe."

"Dạ."

Nó đi được một quãng thì cái đầu chậm chạp của nó mới đi tới được một chỗ, rồi đứng lại ở đấy. Vè cho thằng ngu thì ai mà thèm nghe. Mà đã là vè cho thằng ngu, sao lại phải giấu?

Nó đi hết con dốc mà vẫn chưa nghĩ ra.

Đêm rằm tháng Tám, làng Lò Trấu sáng hơn mọi đêm.

Trên đường làng, trẻ con xóm Thượng rước đèn, đèn ông sao, đèn cá chép, đèn kéo quân, đèn nào cũng thắp một mẩu nến nhỏ ở trong, lung linh đỏ vàng như một đàn đom đóm lớn. Mấy đứa cầm trống ếch đi đầu, gõ tùng tùng dinh, đứa nào cũng mặc áo mới. Trước cổng nhà ông Bá Hộ bày cả một mâm cỗ trông trăng, bưởi, hồng, chuối, cốm, bánh, lại có cả một con chó xếp bằng múi bưởi, mắt là hai hạt nhãn. Xuống tới xóm Trung thì thưa đèn hơn. Còn xóm Hạ với Mương Đen thì chẳng có đèn, chỉ có trăng.

Luân đi giữa hai hàng rào dâm bụt, không có đèn. Nó cũng chẳng cần. Trăng sáng tới mức nhìn rõ cả từng hòn sỏi trên mặt đường.

"Anh Luân!"

Nó giật mình quay lại.

Thằng Bống đang chạy tới, tay cầm một cái đèn ông sao dán giấy điều, cái đầu chỏm lúc lắc. Cái đèn nan chuốt khéo, năm cánh đều tăm tắp, chắc là tay ông phó cả thợ mộc làm cho con. Một bên má thằng bé vẫn còn vệt bầm đã ngả vàng.

"Anh Luân! U em nhốt em trong nhà mấy hôm, hôm nay mới cho ra rước đèn!" Nó hổn hển. "Anh đi đâu về thế?"

Luân đứng im.

Anh Luân. Thằng Bống gọi nó là anh Luân. Không phải anh Bần. Không phải Minh Luân ơi như bọn trẻ vừa gọi vừa cười. Là anh Luân, gọi tự nhiên như người ta gọi tên người ta.

"Anh đi..." Nó ngập ngừng. Nó không nói dối được, mà cũng không nói hết được. "Anh đi học về."

Thằng Bống chẳng để ý. Nó giơ cái đèn ông sao lên, chìa ra giữa hai đứa.

"Anh cầm với em. Đèn của em đấy. Thầy em làm."

Hai đứa đi cạnh nhau trên con đường làng, mỗi đứa cầm một cánh đèn ông sao, cái đèn đỏ lắc lư ở giữa, ánh nến hắt lên hai khuôn mặt, một khuôn mặt còn tím một bên mắt, một khuôn mặt còn vàng một bên má. Từ đầu xóm, tiếng trẻ con xóm Thượng vẫn còn hát:

Có bầu có bạn,Có ván cơm xôi,Có nồi cơm nếp...

Tới đầu ngõ nhà ông lang thì ở đầu kia đường có tiếng đàn bà gọi toáng lên, Bống ơi, về ngay. Thằng Bống giật mình, lục trong túi áo ra một múi bưởi bóc sẵn, dúi vội vào tay Luân, rồi cầm đèn chạy biến. Cái đốm đèn đỏ lắc lư xa dần giữa hai hàng rào dâm bụt, rồi khuất.

Luân đứng nhìn theo một lúc, tay cầm múi bưởi.

Đêm ấy thằng Cò về sớm, nằm sẵn trong ổ rơm. Luân bẻ múi bưởi làm đôi, đưa nó một nửa. Thằng Cò cầm lấy, chẳng hỏi ở đâu ra.

Hai đứa nằm xuống. Trăng rằm lọt qua những kẽ hở trên mái lá cọ, rọi xuống gian bếp thành từng vệt trắng mỏng như sợi chỉ.

Luân nằm ngửa, đặt bàn tay quấn vải lên bụng, ngay dưới rốn chừng một đốt tay. Nó hít vào. Vô hình vô định hướng. Thở ra. Tướng tan theo gió sương.

"Luân."

"Gì?"

"Mày lẩm bẩm cái gì thế?"

Luân không biết là mình lẩm bẩm ra miệng. Nó mím chặt môi lại, nhớ tới lời lão ăn mày.

"Vè."

"Vè gì?"

"Vè cho thằng ngu."

Thằng Cò im một lúc. Rồi trong bóng tối có tiếng nó khịt mũi.

"Thế thì hợp với mày."

Luân cười khẽ, cười xong thì cái môi toác lại rát. Thằng Cò trở mình, kéo manh chiếu lên tận cằm, một lúc sau thì ngáy khò khò.

Luân nằm nhìn mấy vệt trăng trên mái. Nó chợt nhớ cái chữ ông lang vạch lên tấm bảng hôm nào, chữ minh, bên trái là mặt trời, bên phải là mặt trăng. Ngày có mặt trời, đêm có mặt trăng. Đêm nay thì có trăng.

Hít vào. Thở ra. Bốn câu. Lại bốn câu.

Tới lúc nó quên mất mình đang đọc, thì nó ngủ.

1

Được yêu thích bởi: Đại Hiệp Mèo