Phong Sương Niên Ký

Quyển 1: Đại Xuân Biên Niên Sử

Chương 15: Tức Nước Vỡ Bờ

Đăng: 28/09/2026 17:08 6,165 từ 4 lượt đọc

Sang tháng Tám thì mưa ngâu tạnh hẳn.

Trời xanh ngắt, cao vời vợi, nắng vàng như mật ong trải xuống khắp cánh đồng Lò Trấu. Nước ở những thửa ruộng cao rút dần xuống ruộng thấp, ruộng thấp lại rút xuống mương, chảy róc rách qua những chỗ bờ khuyết, ngày cũng như đêm. Chỉ có mấy thửa chiêm trũng dưới chân con đê cũ là vẫn ngập trắng như một cái hồ, bởi chúng thấp quá, nước chẳng còn chỗ nào mà rút.

Nước lên thì cá theo lên. Cá rô, cá diếc, cá trê, cá chép, cả những con cá quả to bằng bắp tay người lớn, từ ao, từ mương, từ lòng sông cũ tràn ra theo nước, bơi vào tận những chỗ ngày thường chỉ có cỏ lác với bèo tấm. Người Lò Trấu bảo nhau nước lên thì cá ăn kiến, nước cạn thì kiến ăn cá. Tháng này là tháng cá ăn kiến. Trên mặt nước, những đám rác rều trôi lều bều, trên rác bâu kín những đàn kiến lửa chạy lụt, túm tụm với nhau thành từng cục đen sì, và cứ chốc chốc lại có một cái miệng cá đớp lên, tóp một tiếng, thế là cả một mảng kiến biến mất.

Trẻ con cả làng đổ ra đồng. Đứa đặt lờ, đứa đơm đó, đứa úp nơm, đứa tát nước. Đứa nào không có đồ nghề gì thì lội xuống chỗ nước nông mà mò bằng tay, mò được con nào thì xâu vào sợi lạt, hét toáng lên như vừa vớ được vàng.

Luân thì có hai cái lờ.

Nó đan lấy vào mấy đêm cuối tháng Bảy, sau cái tối nằm cầm hòn sỏi mà không biết đặt vào đâu. Tre thì nó chặt ở bụi tre mép bãi tha ma, cái bụi chẳng ai nhận là của mình, chẻ nan, vót mỏng, rồi ngồi đan bên bếp sau khi ông lang đã tắt đèn gian giữa. Nó đan hỏng mất ba cái mới ra được hai cái lờ tử tế, cái miệng hom chĩa vào trong như cái phễu, cá chui vào được mà không chui ra được.

Nó đan lờ để làm gì thì nó chẳng kể với ai. Những thứ không nằm trong sổ của ông lang thì không đặt vào hàng sỏi được. Nhưng có lẽ, nó nghĩ, những thứ không nằm trong sổ thì phải trả bằng những thứ không nằm trong sổ. Mà cá thì không nằm trong sổ.

Hôm đầu tiên dỡ lờ, nó được bảy con cá rô với một con cá trê. Nó mang về thả vào cái chậu sành trong gian bếp, chẳng nói năng gì. Tối ấy trên mâm có bát canh cá rô nấu rau cải. Ông lang ăn hết hai bát cơm, cũng chẳng nói năng gì. Luân ngồi nhìn ông húp canh, và trong ngực nó nhẹ đi được một chút, nhẹ như lúc bớt ra được một hòn sỏi.

Thằng Bống thì theo nó từ trước cả khi có lờ.

Chuyện ấy bắt đầu từ cái hôm ăn năm thước. Trưa hôm ấy, lúc lớp đã tan, Luân ra giếng múc nước thì thấy thằng bé ngồi thu lu sau giàn phơi thuốc, một bàn tay đặt ngửa trên đầu gối, lòng bàn tay sưng vù những lằn thước, nước mắt nước mũi chảy ròng ròng mà không dám khóc thành tiếng, sợ ông lang ở trong nhà nghe thấy. Luân đứng nhìn một lúc. Rồi nó ra sau giếng, ngắt mấy lá bỏng mọc ở chân tường, cái thứ lá mà ông lang bảo giã ra đắp chỗ sưng thì mát, vò nát trong lòng bàn tay mình cho ra nước, rồi đắp lên cái lòng bàn tay đỏ lựng kia.

Thằng Bống giật nảy mình, rồi thôi khóc. Nó ngồi nhìn cái đám lá xanh nhầy nhầy trên tay, rồi ngẩng lên nhìn Luân, cái nhìn trố ra như nhìn ông bụt hiện lên trong truyện cổ tích.

"Không phải thuốc nhà thầy đâu." Luân vội bảo. "Lá mọc ở chân tường thôi."

Từ hôm ấy thằng Bống bỏ chỗ ngồi hàng trên, lê xuống ngồi cuối chiếu, cạnh Luân. Buổi nào có học nó cũng tới sớm, lăng xăng đứng ở cổng mà gọi anh Bần ơi. Chiều nào trốn được u nó thì nó lẽo đẽo theo Luân lên đồi, không biết hái thuốc thì đi sau nhặt lá rơi, không biết tên cây thì hỏi, hỏi luôn mồm, hỏi tới lúc Luân phải bảo em im cho anh nghe tiếng chim. Tới lúc xuống dốc thì Luân lại dỗ nó về trước, bởi cái chỗ nó sắp tới thì không dắt ai theo được.

Thằng Cò thì chẳng ưa gì cái đuôi mới mọc ấy.

"Thằng chỏm ấy bám mày như đỉa." Nó bĩu môi. "Con nhà phó cả thợ mộc mà đi bám thằng đào mả, u nó biết thì nó ăn đòn."

Nhưng những hôm ra đồng dỡ lờ, thằng Cò cũng đi, bởi cá thì bán được ở chợ bên kia sông. Mà hễ đi thì thế nào nó cũng chửi thằng Bống ngu hơn con cò, rồi lại đứng bên cạnh mà gỡ cá khỏi lờ cho nó.

Từ hôm đê xong, mười hôm liền chẳng thấy bóng thằng Hợi đâu. Ông tuần không còn đứng trên đê, mà thằng Hợi cũng chẳng thấy mò tới, lâu dần Luân cũng bớt ngó trước nhìn sau.

Hai cái lờ, nó đặt ở thửa chiêm trũng cuối cùng, thửa sâu nhất, sát ngay mép ngõ Mương Đen. Thửa ấy nhiều cá nhất, bởi nước ở mấy thửa trên đều dồn cả xuống đấy, cá cũng dồn theo. Thằng Cò đã bảo thửa ấy gần lò mổ quá, liệu hồn. Luân tính rồi. Lò mổ nhà lão đồ tể làm từ canh tư tới gần trưa, làm xong thì cả nhà ăn, ăn xong thì ngủ, ngủ một mạch tới xế chiều. Giữa trưa là lúc con nhà đồ tể ngủ say nhất. Mà giữa trưa thì nó cũng vừa xong việc buổi sáng, chưa tới giờ lên đồi.

Nó tính như thế. Như cái hôm tháng Tư nó chọn đường tắt qua Mương Đen, vì muốn về cho sớm.

Trưa mùng mười tháng Tám, nắng chang chang. Cả cánh đồng im phăng phắc, chỉ có tiếng ve râm ran trên mấy lũy tre đầu bờ, tiếng nước ồ ồ chảy qua những chỗ bờ khuyết. Thằng Cò với thằng Bống ngồi ở chỗ hai bờ ruộng gặp nhau, đất ở đấy đắp rộng ra thành một khoảnh bằng cái nong, cái giỏ cá đặt ở giữa. Luân lội xuống thửa chiêm trũng, nước ngập tới bụng, dỡ cái lờ thứ nhất ở chỗ bờ khuyết gần đấy, được một mẻ cá rô giãy đành đạch. Nó đổ cả vào giỏ, đặt cái lờ rỗng lên bờ, rồi lội ra xa, về phía cái lờ thứ hai đặt ở tít đầu kia thửa ruộng, chỗ bờ khuyết nằm khuất sau một đám cỏ lác cao quá đầu nó.

Nó đang cúi xuống gỡ cái lờ khỏi chỗ bờ khuyết thì nghe tiếng thằng Cò hét.

"Chạy!"

Luân ngẩng lên.

Qua kẽ cỏ lác, nó nhìn thấy năm cái bóng đang từ đầu ngõ Mương Đen chạy ra dọc bờ ruộng. Thằng Hợi chạy đầu, cởi trần, hai cánh tay đỏ au. Sau nó là hai thằng em, rồi hai đứa đi theo nịnh.

Thằng Cò đã vùng dậy, vừa chạy về phía cái bờ dẫn ra đường cái vừa ngoái lại quát thằng Bống chạy đi. Thằng Bống ôm cái giỏ cá lật đật chạy theo, ôm như ôm của quý nhất đời. Nhưng bờ ruộng sau mấy tuần mưa trơn như bôi mỡ, lại hẹp chỉ vừa một bàn chân. Vừa chạy khỏi cái khoảnh đất được dăm bước thì thằng Bống trượt chân, ngã sấp xuống. Cái giỏ văng ra, lăn lông lốc ngược về phía khoảnh đất, cá rô đổ tràn ra mặt bờ, giãy đành đạch.

Thằng Cò đã chạy được một quãng. Nó chạy nhanh nhất Lò Trấu, cả làng ai cũng biết. Chỉ cần chạy thêm mươi bước nữa là tới đường cái, tới đấy thì thằng Hợi có mọc thêm hai cái chân cũng không đuổi kịp.

Thằng Cò dừng lại. Nó quay đầu nhìn thằng Bống đang bò dậy trên bờ, nhìn cái giỏ, nhìn năm cái bóng đang lao tới.

"Tổ sư." Nó chửi một tiếng.

Rồi nó quay lại.

Luân đứng dưới nước, sau đám cỏ lác, không động đậy.

Nó nhìn thấy hết. Nó nhìn thấy thằng Cò chạy về chỗ thằng Bống, túm cổ áo thằng bé lôi dậy, đẩy về phía khoảnh đất sau lưng mình, rồi đứng chắn ngay đầu bờ, hai nắm tay nắm chặt. Nhìn thấy năm cái bóng ập tới. Thằng Cò đánh như cái hôm ở ao đình, chẳng đỡ, chẳng né, cứ nhắm đứa nào gần nhất mà đấm, mà húc đầu vào. Nó đấm trúng mặt đứa đi theo nịnh chạy đầu, đứa ấy ngã lộn cổ xuống ruộng. Nhưng thằng Hợi đã tới. Thằng Hợi vung tay trái thụi một cú vào bụng thằng Cò, thằng Cò gập người lại như con tôm luộc. Thằng em thứ hai với đứa đi theo nịnh còn lại nhảy vào, mỗi đứa túm lấy một cánh tay, ghì nó xuống mặt bờ sát khoảnh đất, dí mặt nó xuống bùn.

"Nhớ hòn gạch hôm ao đình không, thằng Cò?" Thằng Hợi đứng thở hồng hộc, cúi xuống nhìn. "Tao nhớ đấy. Cái vai tao nhớ đấy."

Thằng Cò ngóc cái mặt bết bùn lên, nhổ phì một bãi nước bọt lẫn bùn vào chân nó.

"Nhớ thì làm sao. Thằng cha mày."

Thằng Hợi đá vào sườn nó.

"Thằng Bần đâu?"

"Tao không biết."

Lại đá.

"Thằng Bần đâu? Cái lờ của nó nằm chình ình kia. Nó đâu?"

"Tổ sư mày. Tao không biết."

Thằng em út, cái thằng mà cả Mương Đen bây giờ gọi là thằng Đái, sấn tới chỗ thằng Bống. Thằng Bống không chạy nữa. Nó bò tới cái giỏ đang nằm lăn lóc ở mép khoảnh đất, ôm chặt lấy vào ngực, rồi co người lại quanh cái giỏ, y như con tôm co quanh cái vỏ.

"Thằng chỏm này hay theo nó!" Thằng Đái reo lên, cái giọng lanh lảnh the thé. "Anh Hợi ơi, thằng chỏm này ngày nào cũng theo thằng Bần!"

"Hỏi nó."

Thằng Đái giật cái giỏ. Thằng Bống không buông. Thằng Đái tát nó một cái, bốp, cái đầu chỏm lệch hẳn sang một bên. Thằng Bống vẫn không buông, chỉ khóc, khóc nấc lên từng chặp mà hai cánh tay gầy nhẳng vẫn ôm siết lấy cái giỏ.

"Thằng Bần đâu? Nói!"

"Em... em không biết ạ..."

Bốp.

Lần này thằng Đái giật được. Nó dốc ngược cái giỏ xuống. Cá rô đổ tràn ra mặt đất, giãy đành đạch, bắn cả bùn lên. Cả bọn cười hô hố, rồi thằng Đái với thằng Hợi thi nhau lấy chân gạt cá xuống ruộng, gạt từng con, từng con, có con bị giẫm lên, nghe bẹp một tiếng. Đứa đi theo nịnh vừa bị thằng Cò đấm ngã ướt như chuột lột bò lên được bờ, trông thấy cái lờ rỗng Luân để trên bờ, liền nhấc lên, giơ cao quá đầu, rồi đập xuống.

Rắc.

Thằng Đái vứt cái giỏ rỗng sang một bên, túm lấy cổ áo thằng Bống lôi ngược lên, giơ tay định tát cái nữa.

Tất cả những gì Luân nghĩ sau đấy, chỉ diễn ra trong mấy nhịp thở.

Không đứa nào trông thấy nó. Đằng sau lưng nó có một cái rãnh nước nhỏ chạy dọc chân bờ, lội men theo rãnh ấy, lom khom sau đám cỏ, là ra tới chân đê, qua đê là tới Dốc Cửa Mả, cái dốc nó thuộc như thuộc đường chỉ tay. Lên tới đấy thì chẳng đứa nào đuổi kịp nó.

Nhịn thì sống. Đấy là cái luật đầu tiên nó tự rút ra từ hồi còn chưa biết mặt một con chữ nào, và cái luật ấy đã giữ cho nó sống tới tận hôm nay. Ai cũng bảo nó chạy. Lão ăn mày bảo thế. Thằng Cò cũng bảo thế.

Nó chỉ cần lùi lại một bước.

Nhưng nó không lùi được.

Nó đứng đó, nhìn thằng Bống bị túm cổ áo lôi lên, cái đầu chỏm lệch sang một bên, hai cánh tay chẳng còn gì mà ôm vẫn cứ ôm lấy khoảng không trước ngực. Cái dáng co ro ấy nó biết rõ hơn ai hết. Hồi tháng Tư, bên bờ Mương Đen, nó cũng đã co người lại y như thế quanh cái rổ thuốc, cái rổ đựng bữa cơm ngày mai, cái vạch mực ngày kia. Cũng có đứa dốc ngược cái rổ ấy xuống. Cũng có đứa giẫm lên, rắc.

Hồi ấy người bị đánh là nó, mà nó thì chịu được. Bị đánh với nó cũng như trời mưa, cứ đến thì chịu. Nó chịu tới mức cái đau trên người cũng thành quen.

Nhưng bây giờ người bị đánh không phải nó.

Mỗi cái tát giáng xuống cái đầu chỏm kia, mỗi cái đá thụi vào sườn thằng Cò, lại rơi xuống một chỗ nào đấy trong người nó, cái chỗ mà chưa trận đòn nào với tới. Chỗ ấy không quen đau.

Nó bị đánh thì nó chịu được. Thằng Cò bị đánh, thằng Bống bị đánh, thì nó không chịu được.

Người làng vẫn bảo một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ. Nó chưa từng thấy con ngựa nào bỏ cỏ vì con ngựa khác. Tít đằng kia, mấy người đàn bà đang tát nước ở thửa ruộng cao nghe tiếng khóc thì ngẩng lên nhìn, rồi quay lưng lại, tát tiếp, gầu nước hắt lên xoàn xoạt. Trên con đê mới đắp, một ông đàn ông gánh rơm dừng lại một nhịp, rồi lại đi. Con nhà lão đồ tể thì ai dám đụng.

Không có ai cả.

Ngoài kia thì ai cầm thước cho mày?

Cái giọng khàn đặc của lão ăn mày lại vang lên trong đầu nó, cái giọng của buổi chiều nó hỏi đánh lại người ta thì có sai không. Trong lớp thì có ông lang cầm thước, đứa nào giật xôi thì có ông ấy đánh vào tay đứa ấy. Còn ngoài này, lão bảo đéo có ai.

Nó nhìn xuống hai bàn tay mình, và nó biết nó muốn đánh. Cái muốn này khác hẳn cái muốn hôm đứng sau lưng thằng em út giữa bãi tha ma. Hôm ấy nó muốn cho nó hả. Hôm nay nó muốn đánh vào cái tay đang tát thằng Bống, vào cái chân đang đá sườn thằng Cò, đánh cho những cái tay ấy, cái chân ấy thôi đi. Không phải đánh cho bõ. Không phải đánh cho chúng nó đau bằng nó, đau hơn nó.

Ngoài này không có ai cầm thước. Thế thì nó cầm.

Nó sẽ là cái thước ấy.

Nó mà lùi lại một bước thì nó giữ được cái mạng, mai kia dựng được cái nhà ba gian hai chái. Gian cho nó, gian cho u Hai, gian cho thằng Cò.

Cái nhà ấy sẽ có một gian bỏ trống.

Trên bờ ruộng, thằng Hợi cúi xuống nhặt một thứ gì.

Là nửa hòn gạch vỡ, cái thứ người ta vẫn chèn vào chỗ bờ khuyết cho nước khỏi xói lở. Thằng Hợi cầm nửa hòn gạch trong tay trái, cân cân, rồi giơ lên, giơ cao quá đầu, ngay phía trên cái đầu bết bùn của thằng Cò đang bị hai đứa ghì xuống đất.

"Hôm ấy mày cho tao nửa hòn gạch." Thằng Hợi nói. "Hôm nay tao trả mày."

Cái đòn chưa rơi.

Luân hít vào, hít xuống tận cái bể chứa hơi, rồi nhìn xuống cái giếng trong bụng mình. Cái thứ ngọt lịm, nóng ran có ở trong ấy, mảnh như một sợi khói hương. Nhưng cái đầy ắp lồng ngực nó lúc này thì lạnh và nặng, nặng trịch như nửa hòn gạch vồ, và nó chỉ muốn đúng một điều.

Nó muốn cái hòn gạch kia đừng rơi xuống.

Ngay cạnh chỗ nó đứng, cái bờ khuyết nó vừa gỡ lờ ra đang tuôn nước ào ào. Nước ở thửa ruộng bên trên dồn xuống đây, dồn mãi, dồn cả tháng trời, dồn tới lúc cái bờ đất không giữ nổi nữa, xói toác ra, và nước cứ thế tuôn qua, cuồn cuộn, trắng xóa, cuốn phăng cả mấy nắm cỏ người ta chèn vào chỗ khuyết.

Người ta bảo tức nước thì vỡ bờ.

Luân giơ cái lờ trong tay lên, bẻ.

Rắc.

Cái lờ nó đan mấy đêm liền dưới ánh than hồng, đan để trả những thứ không nằm trong sổ, gãy toác ra trong tay nó, kêu rắc một tiếng như cái rổ thuốc hôm tháng Tư, như cái lờ trên bờ vừa rồi. Nó rút ra một cây nan dài, dẹt, mỏng, dẻo, cây nan nó vót bằng chính con dao quắm ông lang cho mang đi đào rễ. Nó cầm lên, cầm bằng tay trái, cầm như cầm con cá rô, vừa đủ.

Cây nan trong tay nó mỏng dẹt, nhẹ bẫng, dài hệt như cái thước tre ông lang vẫn đặt ngang trên đùi mỗi sáng.

Nó bước ra khỏi đám cỏ lác.

Nước ngập tới bụng, nó lội từng bước một, không vội, cũng chẳng nấp, nước rẽ ra hai bên thân nó ì oạp. Tới chân bờ, nó bám tay vào mép đất mà leo lên, đứng thẳng dậy, nước từ người nó chảy ròng ròng xuống đất.

Thằng Hợi vẫn đứng giơ nửa hòn gạch, quay lưng về phía nó.

"Nói! Thằng Bần đâu?"

"Ở đây không có thằng Bần nào."

Cả bọn quay phắt lại.

Luân đứng trên bờ ruộng hẹp, cách chúng nó chừng mươi bước, quần áo ướt sũng dính bết vào người, tay trái cầm một cây nan tre. Nó không cúi đầu. Nó không cười. Nó nhìn thẳng vào mặt thằng Hợi, nhìn như ông lang vẫn bắt nó nhìn mỗi khi thưa gửi.

Thằng Hợi nhìn nó trân trân. Cái tay cầm nửa hòn gạch khựng lại giữa trời.

"Mày... mày nói cái gì?"

"Tao tên là Minh Luân."

Bờ ruộng im phăng phắc. Chỉ còn tiếng nước ào ào tuôn qua chỗ bờ khuyết, tiếng ve râm ran trên lũy tre, tiếng thằng Bống nấc lên từng chặp.

Rồi thằng em thứ hai phá ra cười.

"Minh Luân! Nó bảo nó tên là Minh Luân!" Nó ôm bụng, cười ngặt nghẽo. "Thằng đào mả mà có tên như con quan!"

Đứa đi theo nịnh cười theo. Thằng Đái cũng cười, cười the thé, cố cười cho thật to, to hơn cả anh nó.

Thằng Hợi không cười.

Luân thấy cái mặt nó sầm lại, và nó biết vì sao. Chín năm nay nó thưa với thằng Hợi bằng tiếng anh, xưng bằng tiếng em, có lúc bằng cả tiếng con, câu nào cũng dạ, cũng ạ. Chưa bao giờ cái tiếng kia ra khỏi mồm nó.

"Mày vừa xưng gì với tao?"

Luân không đáp câu ấy.

"Bỏ hòn gạch xuống."

Thằng Hợi nhìn nó thêm một nhịp. Rồi nó nhếch mép.

"Bỏ xuống à? Ừ. Thì bỏ."

Vai trái nó giật về sau.

Luân nhìn thấy. Nó nghiêng đầu. Nửa hòn gạch sượt qua bên tai nó, nghe vèo một tiếng, rồi rơi tõm xuống thửa chiêm trũng sau lưng, nước bắn lên trắng xóa.

"Đánh nó!"

Bờ ruộng hẹp chỉ vừa một bàn chân, hai bên là nước, cho nên chẳng đứa nào xông lên cùng một lúc được. Đứa đi theo nịnh vừa đập cái lờ lao lên trước. Đứa kia buông tay thằng Cò ra, lao theo sau, đứa nọ nối đuôi đứa kia trên cái bờ đất hẹp.

Đứa đầu vung nắm đấm. Luân nhìn cái vai nó, cái vai bao giờ cũng nhúc nhích trước cái tay, và nó bước lệch sang nửa bước, bàn chân bám lấy mép bờ trơn, cái eo xoay đi, cái vai xoay theo.

Cây nan quất xuống cổ tay đứa ấy.

Đét.

Cái tiếng ấy khô, đanh, gọn, y như tiếng thước tre quất xuống lòng bàn tay thằng Quý hôm nào. Đứa đi theo nịnh rú lên, ôm cổ tay, lảo đảo, trượt chân, rồi ngã tùm xuống ruộng.

Đứa thứ hai chồm tới sát hơn, vung nắm đấm quệt ngang qua miệng Luân. Môi nó toác ra, mằn mặn. Đứa ấy chưa kịp vung cái thứ hai thì cây nan đã quất xuống mu bàn tay nó. Đét. Nó thét lên, rụt tay về, mất đà, cũng ngã nhào xuống nước, loi ngoi như con vịt bị trói cánh.

Luân chỉ đánh vào tay. Cái tay nào vung lên thì nó quất vào cái tay ấy, như thước của ông lang chỉ quất vào tay, chưa bao giờ quất vào mặt ai, cái sau đều như cái trước, không vì giận mà nặng thêm.

Thằng em thứ hai của thằng Hợi buông thằng Cò ra, lội xuống ruộng, định vòng dưới nước mà túm lấy chân Luân kéo xuống. Tay nó vừa chộp được cổ chân Luân thì cây nan đã quất xuống mu bàn tay nó. Đét. Nó buông ra như vừa sờ phải hòn than, ôm tay mà nhảy tâng tâng giữa ruộng, nước bắn tung tóe.

Thằng Đái vẫn đứng túm cổ áo thằng Bống, trố mắt nhìn ba đứa lớn hơn nó đang ôm tay loi ngoi dưới ruộng. Luân bước về phía nó một bước, cây nan giơ lên. Thằng bé buông ngay cổ áo thằng Bống ra, lùi một bước, hai bước, rồi quay đầu chạy biến về phía đầu ngõ, vừa chạy vừa ngoái lại.

Bây giờ trên bờ chỉ còn thằng Hợi.

Nó đứng trên cái khoảnh đất chỗ hai bờ gặp nhau, cách Luân chừng sáu bảy bước, cái vai phải xệ xuống, hai con mắt đỏ ngầu, ngực phập phồng. Nó nhìn cây nan tre trong tay Luân, rồi nhìn ba đứa đang loay hoay dưới ruộng, rồi lại nhìn Luân, và Luân thấy trong mắt nó một thứ mà từ trước tới giờ nó chưa từng thấy trong mắt thằng Hợi. Không phải sợ. Là ngỡ ngàng, cái ngỡ ngàng của người đang đi trên con đường quen bỗng thấy đất dưới chân mình sụt xuống.

"Tránh ra!" Thằng Hợi gầm lên với lũ em, dù chẳng đứa nào đứng chắn đường nó.

Rồi nó xông tới.

Luân nhìn cái vai trái nó. Cái vai giật về sau. Luân nghiêng đầu, nắm đấm lướt qua sát má. Cây nan quất xuống cổ tay trái thằng Hợi. Đét. Một lằn đỏ hằn lên ngay trên cái cổ tay vốn đã đỏ au.

Thằng Hợi không rú lên. Nó chỉ nhăn mặt. Cái cổ tay quanh năm dội nước sôi ở lò mổ ấy dai hơn cổ tay lũ em nó nhiều. Nó lại đấm. Lần này vai nó giật muộn hơn một chút, Luân lách người, nắm đấm sượt qua bả vai, và cây nan lại quất xuống, quất vào cẳng tay. Đét.

Năm.

Lúc ấy nó không đếm. Nhưng về sau nó nhớ rõ là năm.

Lần thứ ba thằng Hợi đấm, vai nó không động.

Cái vai trái ấy đứng im như tượng, vậy mà nắm đấm vẫn cứ lao tới, lao thẳng vào mặt Luân. Có những chiều ngồi trên sạp tre, lão ăn mày cũng ném kiểu ấy, vai đứng yên mà quả ổi đã tới trước mặt. Luân trông thấy nắm đấm thì đã muộn.

Mặt nó như nổ tung. Trời đất quay một vòng, rồi nước ở đâu ập tới trùm kín lấy nó, đục ngầu, lạnh buốt, xộc vào mũi, vào miệng. Nó đã ngã khỏi bờ, ngã ngửa xuống thửa chiêm trũng.

Nước. Lại là nước bùn. Cái vị này nó biết, biết từ cái hôm ở ao đình.

Luân đạp chân xuống bùn, ngoi lên, ho sặc sụa, nhổ ra một ngụm nước lẫn máu. Cây nan tre vẫn nắm trong tay trái. Nó bám vào mép bờ mà leo lên.

Ngã xuống thì đứng dậy. Không có lý do thứ hai.

Nó đứng dậy.

Thằng Hợi đứng chờ nó trên bờ, thở hồng hộc. Luân chưa kịp đứng vững thì nó đã lao tới. Luân giơ cây nan lên chắn. Nhưng lần này thằng Hợi không đấm. Nó xòe bàn tay trái ra mà chộp.

Bàn tay to bè của đứa quanh năm túm chân lợn chộp gọn lấy cây nan. Mép nan sắc cứa vào lòng bàn tay nó, máu rỉ ra đỏ lòm, vậy mà nó không buông. Nó giật mạnh. Luân không để cây nan tuột, nó nắm vừa đủ, không chặt quá mà cũng không lỏng quá, như lão ăn mày dạy. Nhưng cây nan thì mỏng. Thằng Hợi giật thêm cái nữa, vặn đi.

Rắc.

Cây nan gãy làm đôi. Nửa trong tay thằng Hợi, nửa trong tay Luân. Nửa trong tay Luân chỉ còn dài bằng một gang tay, đầu gãy tua ra những sợi tre nhọn hoắt như răng lược, mấy sợi đâm cả vào lòng bàn tay nó.

Cái thước gãy rồi.

Thằng Hợi vứt nửa cây nan xuống ruộng, rồi đấm.

Luân ngã. Lần này nó ngã trên bờ, và nó lăn, lăn một vòng đúng như lão dạy, rồi đứng dậy. Nắm đấm thứ hai trúng mạng sườn. Nó gập người lại, khuỵu xuống, rồi lại đứng dậy. Nắm đấm thứ ba trúng bả vai, hất nó ngã ngồi. Nó đứng dậy.

Nó không đánh lại được nữa. Cây nan gãy rồi, còn nắm tay nó thì chưa bao giờ đấm vào ai. Nhưng lần nào đứng dậy, nó cũng đứng vào đúng một chỗ, cái chỗ giữa thằng Hợi với thằng Bống, với thằng Cò đang lồm cồm bò dậy phía sau.

"Nằm im đấy!" Nó quát thằng Cò, không quay lại.

Thằng Cò không nằm im. Nó chưa bao giờ nằm im. Nhưng nó bò dậy được nửa người thì lại khuỵu xuống, ôm lấy mạng sườn, thở ra từng hơi như cái bễ thủng.

Thằng Hợi đấm thêm cái nữa, cái nặng nhất. Luân bật ngang ra, ngã sóng soài xuống cái bờ bên cạnh, cách chỗ nó vừa đứng mấy bước. Mắt trái nó đã sưng lên, chỉ còn nhìn được qua một cái khe. Máu mũi chảy xuống miệng, tanh tanh. Nó chống hai tay xuống bùn mà nhổm dậy, nhổm lên được nửa chừng thì hai cánh tay lại run lẩy bẩy.

Thằng Hợi đứng thở, nhìn cái thằng gầy như que củi đang cố nhổm dậy dưới đất, cái thằng ngã bao nhiêu lần thì đứng dậy bấy nhiêu lần, và lần đầu tiên Luân thấy nó lúng túng. Luân hiểu cái lúng túng ấy. Xưa nay thằng Hợi đánh nó chỉ mấy cái là xong, nó sẽ nằm xuống, co lại, hoặc cười, hoặc chạy. Còn bây giờ nó không chịu nằm xuống. Mà đánh một đứa không chịu nằm xuống thì biết đánh tới bao giờ.

Rồi thằng Hợi liếc sang thằng Bống.

Thằng bé vẫn ngồi thu lu ở mép khoảnh đất, mặt mũi tèm lem, cái đầu chỏm run bần bật. Thằng Hợi nhìn thằng bé, rồi nhìn Luân đang chống tay dưới đất, và Luân thấy trong mắt nó vừa nảy ra một thứ gì.

Thằng Hợi quay lưng lại với Luân, bước một bước dài về phía thằng Bống, giơ chân lên. Cái bàn chân to bè ấy giơ cao, ngay phía trên cái đầu chỏm.

Luân không kịp nghĩ.

Nó vẫn đang nằm rạp dưới đất, bụng áp xuống bùn. Cũng như cái chiều trong vòng tròn trước cửa điếm, nó lủi tới như con chạch lủi bùn, trượt đi trên lớp bùn nhầy nhụa của mặt bờ, tới ngay sau lưng thằng Hợi. Cái chân trụ của thằng Hợi nằm ngay trước mặt nó. Nó dồn cả người vào, cả hai bàn chân đạp xuống đất, cả cái eo, cái vai, húc thẳng vào phía sau đầu gối cái chân trụ ấy.

Thằng Hợi khuỵu xuống. Cái chân đang giơ lên chới với giữa trời, cả tấm thân to như con nghé nghiêng hẳn sang một bên, hai tay quờ quạng, rồi đổ ụp xuống thửa chiêm trũng.

Ùm.

Nước bắn lên trắng xóa, rơi lộp độp xuống mặt Luân.

Luân chống tay đứng dậy.

Dưới chân bờ, thằng Hợi đang vùng vẫy. Chỗ ấy là chỗ sâu nhất của thửa chiêm trũng, nước ngập tới ngực nó, đáy là một lớp bùn nhão nhoét, dẻo quánh như bã đậu, sa chân xuống là bùn hút lấy mà giữ. Thằng Hợi quờ tay trái lên mép bờ mà bám, nhưng mép bờ trơn tuột, bám được lại tuột. Tay phải nó thì chẳng giơ lên được, chỉ quẫy quẫy dưới nước như cái mái chèo gãy. Nó chúi xuống, nuốt phải một ngụm nước bùn, ho sặc sụa, ngóc lên, lại chúi xuống. Cái mặt nó ướt nhẹp, bết bùn, hai con mắt trợn ngược lên nhìn Luân.

Và Luân thấy trong hai con mắt ấy một thứ.

Sợ.

Lần đầu tiên trong đời, nó thấy thằng Hợi sợ.

Luân đứng trên bờ, tay trái vẫn nắm nửa cây nan gãy, cái đầu gãy tua ra những sợi tre nhọn hoắt. Thằng Hợi ở ngay dưới chân nó, cách chưa tới một sải tay. Cái mặt ngửa lên ấy, cái vai phải xệ xuống ấy, cái bàn tay trái cứ bám lên mép bờ lại tuột ấy, tất cả đều phơi ra ngay dưới mũi cây nan gãy trong tay nó.

Rồi cái thứ ấy trào lên.

Nó không trào lên mảnh như sợi khói hương nữa. Nó ập lên như nước qua chỗ bờ khuyết, ồ ạt, cuồn cuộn, ngập hết lồng ngực, dâng lên cổ họng, bốc lên mặt, lên tận đỉnh đầu. Nóng ran. Ngọt lịm. Ngọt hơn cả cái chiều đứng sau lưng thằng em út giữa bãi tha ma. Ngọt hơn bát rượu nếp hôm Đoan Ngọ.

Uống nước bùn cho no đi, thằng ăn mày!

Cái câu ấy bọn con nhà đồ tể đã gào vào mặt nó ở ao đình năm ngoái, trong lúc bàn tay thằng Hợi ấn đầu nó xuống nước. Hôm ấy nước ao cũng đục ngầu như thế này. Hôm ấy Luân cũng quờ tay lên mà không bám được vào đâu. Hôm ấy Luân cũng trợn mắt lên mà nhìn, nhìn cái mặt thằng Hợi đang cười hô hố ở phía trên.

Bây giờ thì thằng Hợi ở dưới. Còn nó ở trên.

Chỉ cần một bước. Một bước xuống, đặt bàn chân lên cái bàn tay đang bám mép bờ kia mà di một cái, như thằng Hợi đã di gót chân lên cái cọc tre khắc chữ nhân. Hoặc chẳng cần tới thế. Chỉ cần đâm cái đầu nan gãy kia xuống, đâm vào cái mặt đang ngửa lên.

Tay trái nó giơ lên.

Nó không biết mình đã giơ tay lên từ lúc nào. Nửa cây nan gãy chĩa xuống, ngay phía trên cái mặt thằng Hợi. Cả người nó run lên. Cánh tay nó run bần bật, như đang giằng co với ai.

Cái khó nhất không phải là ra đòn. Cái khó nhất là dừng.

Nó đưa mắt nhìn quanh. Trên bờ không còn ai đang bị đánh. Thằng Cò đã ngồi dậy được, ôm sườn, thở hồng hộc. Thằng Bống vẫn ngồi thu lu ở mép khoảnh đất. Ba đứa kia đã bò được lên bờ bên kia, đứng co ro ôm tay từ xa. Thằng Đái thì chạy mất từ lâu. Không còn nắm đấm nào đang giơ lên, không còn hòn gạch nào chực rơi. Chẳng còn gì để mà chặn.

Hả một lần thì lần sau phải hả hơn.

Thước của ông lang năm cái là năm cái. Chưa bao giờ có cái thứ sáu.

Luân hạ tay xuống.

Nó hạ chậm, chậm như người ta đặt xuống đất một vật gì nặng lắm, nặng hơn nửa hòn gạch, nặng hơn cả hai thúng đất ướt trên sườn đê. Rồi nó vung tay, ném nửa cây nan gãy ra thật xa, ra giữa thửa ruộng. Cây nan xoay mấy vòng trên không, rơi xuống mặt nước, nổi bồng bềnh, trôi dần theo dòng nước đang dồn về phía chỗ bờ khuyết.

Thằng Hợi nhắm tịt mắt lại lúc cây nan bay qua đầu nó, như người vừa bị đánh.

"Về đi." Luân nói.

Thằng Hợi mở mắt ra. Nó nhìn Luân trân trân, như nhìn một thứ gì mà nó không biết gọi là gì. Rồi nó quay người, vừa lội vừa bơi, vừa chúi vừa bò, băng qua thửa ruộng về phía bờ bên kia, chỗ ba đứa kia đang đứng. Tới bờ, nó bám vào tay lũ em mà lên, đứng dậy, ướt sũng, bùn bết từ đầu tới chân, bàn tay trái còn rỉ máu ở chỗ nan tre cứa.

Nó đứng đấy nhìn sang một lúc lâu. Rồi nó gào lên, gào qua cả thửa ruộng, cái giọng lạc đi, khàn một nửa, the thé một nửa, như cái chum vừa nứt.

"Minh Luân! Minh Luân cái thá gì! Tao nhớ cái tên ấy rồi đấy! Mày liệu hồn!"

Rồi cả bọn quay lưng chạy về phía ngõ Mương Đen.

Tiếng chân xa dần, rồi tắt.

Hai đầu gối Luân khuỵu xuống lúc nào nó không biết. Nó ngồi phịch xuống bờ đất ướt, và bấy giờ cái đau mới ập tới, ập tới từ khắp mọi chỗ, từ con mắt sưng húp, từ cái môi toác, từ cái mạng sườn, từ bả vai, từ cái lòng bàn tay trái bị những sợi tre gãy đâm vào lởm chởm như lông nhím. Hai bàn tay nó run lẩy bẩy, run không sao giữ được.

Thằng Bống bò tới, ôm chặt lấy chân nó, khóc òa lên, khóc to, khóc nức nở, khóc như từ nãy tới giờ nó mới dám khóc thành tiếng.

Thằng Cò ngồi cách đấy mấy bước, ôm mạng sườn, nhổ ra một bãi nước bọt đỏ lòm. Nó nhìn Luân. Nhìn lâu, rất lâu, như nhìn một người lạ vừa ở đâu tới ngồi vào chỗ thằng bạn nó.

"Mày ngu à?" Cuối cùng nó nói, giọng khàn đặc. "Chúng nó năm đứa."

Luân ngẩng lên. Cái câu ấy nó đã nghe ở đâu rồi. Nó nhớ ra. Là chính nó nói, bên giếng đình, cái hôm thằng Cò vác nửa hòn gạch tới, máu trên trán chảy ròng ròng. Sao mày lại xông vào, chúng nó năm đứa cơ mà.

"Mày bảo có gì chia đôi mà." Nó đáp.

Thằng Cò ngẩn ra. Rồi nó phá lên cười, cười mà ôm sườn nhăn nhó, cười tới mức phải cúi gập cả người xuống, cái răng khểnh nhe ra dính máu.

"Thằng này đần thật."

Rồi nó thôi cười. Nó nhìn ra thửa ruộng, nhìn nửa cây nan gãy còn nổi lều bều trên mặt nước, đang trôi dần về phía chỗ bờ khuyết.

Trên mặt bờ, những con cá rô bị bọn kia gạt văng ra vẫn còn nằm rải rác, con thì đã nằm im, con thì vẫn còn giãy. Cá rô dai lắm, người ta vẫn bảo con cá rô nằm trên cạn cả buổi mà vẫn sống. Thằng Bống thôi khóc, buông chân Luân ra, lồm cồm bò đi nhặt. Nó nhặt từng con, từng con, con nào còn giãy thì bỏ vào giỏ, con nào nằm im thì cầm lên lay lay mấy cái rồi cũng bỏ vào. Cái đầu chỏm cúi xuống, cặm cụi, chăm chú, như đang làm một việc hệ trọng nhất đời.

Luân ngồi nhìn thằng bé nhặt cá. Hồi tháng Tư, bên bờ Mương Đen, nó cũng đã ngồi nhặt từng cọng thuốc bị dìm xuống mương, nhặt mà biết chẳng còn cọng nào dùng được. Mấy con cá rô này thì khác. Mấy con cá rô này vẫn còn sống.

Lâu lắm, thằng Cò mới lên tiếng, không quay lại.

"Luân."

Tim Luân đập thình thịch.

"Gì?"

"Không." Thằng Cò nói, mắt vẫn nhìn ra ruộng. "Tao gọi thử."

Luân ngồi im một lúc.

"Giống không?"

Thằng Cò không trả lời ngay. Gió thổi qua thửa chiêm trũng, mặt nước gợn lên lăn tăn, lấp lánh dưới nắng trưa. Trên lũy tre, ve vẫn kêu râm ran như chưa từng có chuyện gì.

"Giống." Thằng Cò nói.

Rồi nó lồm cồm đứng dậy, chìa tay ra kéo Luân lên. Bàn tay đầy máu với bùn, như cái hôm ở giếng đình.

1

Được yêu thích bởi: Đại Hiệp Mèo