Chương 30: Hiểm Hiệp Phong Thanh Hàn Thiết Sách, Trọc Lưu Thạch Chuyển Tống Tào Chu.
Sơn Hải Trầm Vân - Phần 2
Mục lục
6 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 6/6 chương
CHƯƠNG 30:
Hiểm hiệp phong thanh hàn thiết sách,
Trọc lưu thạch chuyển tống tào chu.
Ngày hai mươi mốt tháng Ba, năm Tuyên Hòa thứ tư. Lộ Hà
Đông, trạm thủy tuần trên Hoàng Hà.
Sương mỏng phủ ngang mặt
sông. Dòng nước đục ngầu cuộn bọt trắng dội liên tiếp vào hàng cọc gỗ lim đóng giữa lòng sông. Một đoạn xích sắt
nặng chắn ngang luồng nước.
Lá cờ hiệu quân lương
viền đen phần phật trong gió lạnh. Chiếc thuyền tào hạng trung chầm chậm rẽ
sóng tiến tới. Mạn thuyền ghép gỗ bách dày mớn nước lún sâu trong
lớp phù sa đục. Phía sàn trước, giàn tời neo bằng gỗ lim bọc đồng đen nằm sát mạn.
Những sợi dây chão bện nan tre đực kéo căng, trục bánh lái khẽ rung theo từng đợt
sóng.
Hai bên bờ, hàng trăm
thiên phu để trần nửa thân trên, bàn chân bấu sâu vào bùn, thân người rạp thấp
kéo dây chão. Trục gỗ xoay lạch cạch, dây chão cọ ràn rạt qua ròng rọc. Tiếng
nước liên tiếp dội vào mạn thuyền.
Lính thủy tuần ghì vai
vào tay tời, đoạn xích sắt từ từ rời khỏi mặt nước. Từng mắt xích phủ đầy rong
nhớt nhỏ từng giọt nước đục xuống màn sương.
Chiếc thuyền tuần nhỏ
áp sát mạn gỗ. Viên Đốc Lương quan bước lên sàn thuyền, vạt áo bào màu lục sẫm
ướt đẫm hơi nước.
Viên quản sự thuyền tào
từ miệng khoang lật đật bò ra, đầu gối khuỵu xuống mặt ván, hai tay nâng xấp giấy
thông quan quá đầu. Phía sau gã, Dương Lão đứng tựa góc cột buồm, tấm lưng dưới
lớp áo vải thô hơi còng, một bàn tay giấu kín trong vạt áo, ngón tay đè nhẹ lên
túi Giao tử bọc da.
Tần Viễn ngồi xổm cạnh
giàn tời neo. Đầu ngón tay bết mỡ trâu pha mạt sắt miết chậm qua từng khe hở của
chốt khóa sắt và vành bánh răng đồng.
Chiết Khả Cửu đứng trước
cửa khoang giữa. Thân hình tựa vào vách gỗ, năm ngón tay buông lỏng trên chuôi
đao bọc vải thô.
Viên Đốc Lương quan giật
lấy xấp giấy tờ trên tay quản sự, lật qua lật lại hồi lâu:
- Quân lương chuyển vận
Tây Quân, sao không có áp triện của Đô Chuyển Vận Sứ?
Viên quản sự run rẩy,
trán dập sát mặt ván ướt:
- Khởi bẩm Đại nhân...
chiến sự tiền tuyến khẩn cấp, Chiết gia quân lĩnh mệnh áp tải gấp quân nhu cho
Đồng Thái sư, nhật kỳ không thể chậm trễ...
Tên quan nhìn màn sương
xám phủ kín mặt sông:
- Triều đình có phép của
triều đình. Trạm tuần có quy củ của trạm tuần. Theo lệ, quân lương thiếu áp triện
phải lưu lại bến ba ngày để kiểm nghiệm.
Dương Lão bước lên khom
lưng đưa tay đỡ lấy khuỷu tay viên quản sự, vạt áo vải thô khẽ chạm qua nếp áo
lục của viên quan. Ba tờ Giao tử lót dưới vạt áo trượt vào ống tay áo rộng của
viên Đốc Lương quan.
Đầu ngón tay tên quan hơi
động, cảm nhận độ dày của mép giấy hoa văn, rồi thong thả vuốt phẳng nếp gấp
nơi cổ tay áo:
- Quân vụ tiền tuyến quả
thực cấp bách. Nhưng qua trạm mùa nước lớn, hao hụt dọc đường khó tránh. Thả
xích. Theo lệ... khấu bốn mươi bao lưu kho trạm.
Đám thuộc hạ nhảy lên
sàn thuyền, móc sắt cắm phập vào bao tải vải đay, liên tiếp dỡ bốn mươi bao túc
mạch quẳng xuống cầu tàu đất bùn.
Dương Lão cúi đầu lui lại
góc cột buồm.
Tần Viễn nhặt một mẩu
than dưới sàn, vạch lên mạn gỗ một vệt ngắn: Bốn mươi bao, đổi một khắc rời trạm. Đầu than kéo thêm vệt thứ hai:
Giằng co động đao, trễ kỳ hạn mười ngày.
Cổ tay khẽ hất, mẩu than rơi tõm xuống dòng phù sa đục. Đổi được.
Đoạn xích sắt nặng nề
rơi xuống nước rồi chìm vào lòng sông. Chiếc thuyền tào chầm chậm rẽ nước vượt
qua trạm thủy tuần.
---
Quảng Thắng Tự Hộ Lộ Viện
Sa môn Tĩnh Hoằng, khể thủ bái bạch:
Miên Sơn Tĩnh Hư Quán —
Thủ Tĩnh Chân Nhân đạo tịch tọa tiền.
Kính thông:
Đêm hăm ba tháng Ba,
canh hai, tại bến Triệu Thành.
Ba đệ tử tuần lộ thấy một
thuyền tào chở nặng túc mạch ngược dòng Phần Hà, đi đơn độc trong đêm. Trên cột
buồm có lá cờ hiệu quân lương viền đen. Tuệ Giác hiếu kỳ áp mạn, tự tiện bước
lên xem xét; bị người cầm lái dùng sống đao bọc vải gạt xuống nước, trật khớp
vai phải. Hai đệ tử đi cùng đưa y vào bờ.
Sau đó, bần tăng men bờ
sậy theo thuyền đến gần sáng. Ngoài người cầm lái, trên sàn còn một lão nhân bước
chân nhẹ bẫng, gần như không phát ra tiếng động. Trong khoang tối có một hơi thở
thưa đến nỗi qua mười nhịp sóng mới nghe lại một lần; bần tăng dò mãi vẫn không
định được nông sâu. Bọn ta chưa thấy mặt người trong khoang, cũng chưa rõ danh
tính hai người trên sàn. Đao thế của người cầm lái đủ sức áp đảo Tuệ Giác; võ học
nhiều khả năng đã chạm Tá Thế, nhưng bần tăng chưa dám đoán sâu hơn.
Triều đình đang thu xếp
việc bắc phạt, song chưa thể lấy đó làm bằng cớ định tội một chuyến thuyền. Chỉ
riêng việc thuyền chở nặng, đi đêm, không có thuyền hộ tống và mang theo hai
người võ nghệ cao đã đủ khiến hành tung cần được làm rõ. Hai cao thủ bên ta có
thể giữ người trên sàn, nhưng chưa biết kẻ trong khoang sẽ ứng biến ra sao.
Kính xin Đạo môn chiếu giao ước Phần Hà, cử hai người tới huyện Hoắc Ấp tiếp ứng
chặn thuyền, hỏi rõ trước đêm hăm sáu. Việc này cốt để tra xét; nếu đối phương
không có ý gây hại, xin chớ vọng động.
Phụ trình: Tín ngọc bán
bích.
Bất cụ. Cẩn bạch.
Tuyên Hòa tứ niên, Quý
Xuân, ngày hăm tư tháng Ba.
Sa môn Tĩnh Hoằng cẩn
trạng.
---
Rạng sáng ngày hai mươi lăm tháng Ba, năm Tuyên Hòa thứ
tư.
Sương cuối xuân phủ sườn
nam Miên Sơn, che mờ những vách đá vôi xám và khe nứt bám rêu. Tĩnh Hư Quán nép
mình sau rặng bách, mái ngói âm dương thoáng hiện khi gió lùa. Chuông sớm từ
Tam Thanh Điện ngân qua mái hiên, dội vào vách đá rồi tan vào thung lũng Phần
Hà.
Dọc hành lang gỗ bách,
nước khe chảy trong máng xẻ đôi, nhỏ giọt đều đều vào chiếc chum sành dưới
hiên. Nằm nép bên điện, trà thất với những cửa sổ dán giấy lụa nhìn ra vách đá,
bếp đất ủ than bùn đỏ dưới nồi nước ngải cứu đang sôi liu riu. Nắp gốm thỉnh
thoảng rung khẽ, hơi thảo mộc quyện với mùi trầm nhạt và mùi gỗ ẩm sau đêm
sương.
Ánh ban mai lọt qua lớp
giấy lụa, rơi nghiêng trên án thư tử đàn. Dải lụa từ Triệu Thành, được cư sĩ
đưa lên quán trong đêm qua đang mở phẳng trên án. Phiến ngọc bán bích đè lên
mép thư, nét mực trên từng hàng chữ đã khô. Bên án, chén trà men tro vẫn còn
hơi ấm.
Thủ Tĩnh Chân Nhân ngồi
xếp bằng trên nệm cói, đạo bào vàng đất xếp gọn trên đầu gối, mái tóc bạc búi
sau gáy bằng trâm gỗ đào. Những nếp nhăn sâu hằn quanh khóe miệng; hai bàn tay
già nua khuất trong tay áo rộng.
Tĩnh Huyền Đạo Trưởng ở
phía kia án thư. Áo đạo bào xám buông thẳng, đai vải đay thắt gọn; một bên vai
bà tựa nhẹ vào cột bách. Bà vuốt phẳng đầu dải lụa bị cuộn cong, dò lại từng
hàng chữ rồi giữ mép thư dưới nửa mảnh ngọc.
Qua khung cửa, lối núi
hướng về Hoắc Ấp vẫn chìm trong sương.
Thủ Tĩnh khẽ gõ đầu ngón
tay lên án, rồi cất lời:
- Thư của Tĩnh Hoằng đã
tới. Bến sông phía nam có việc cần làm rõ, mà người của ta chưa đủ để tự mình xử
lý. Muội quản đường núi đã lâu, nên cử ai đi?
Tĩnh Huyền khẽ dời chân:
- Đạo chúng tuần lộ dưới
núi chỉ quen việc canh phòng bến đò, khó đối phó ở hẻm sông. Các trưởng lão như
ta và tỷ tuổi đã cao, phải ở lại trông coi sơn môn. Muội nghĩ... chỉ có Thanh
Nhược và Diệp Sơ là thích hợp nhất.
Thủ Tĩnh nhấc chén trà,
nhấp một ngụm rồi đặt xuống:
- Vì sao?
Tĩnh Huyền thong thả:
- Thanh Nhược giữ thế
chính diện nghiêm cẩn, Diệp Sơ bộ pháp linh hoạt tìm góc hở. Hai cô cháu cùng
luyện kiếm gần mười tám năm, đã thấu rõ nhịp ra tay của nhau; còn muốn ghìm chiếc
thuyền ngàn thạch, vẫn phải dựa vào sức của bốn người và thế nước. Lại thêm Diệp
Sơ căn cốt khó gặp, kiếm thuật đã chạm Tá Thế, cả Tĩnh Hư Quán đều trông vào nó
làm Quán chủ đời kế tiếp. Nếu chưa từng đối diện người và việc dưới chân núi,
mai này làm sao đủ bản lĩnh gánh vác sơn môn giữa thời loạn?
Thủ Tĩnh đẩy dải lụa về
phía Tĩnh Huyền. Lụa lướt nhẹ trên mặt án, dừng cạnh chén trà.
- Muội nhìn không lệch.
Cứ để tín vật trên án. Cho người gõ khánh, gọi Thanh Nhược và Diệp Sơ tới.
Tĩnh Huyền cuộn dải lụa
lại, lui hai bước rồi ra khỏi trà thất. Bước chân bà nhỏ dần trên hành lang gỗ
bách. Ba tiếng khánh đồng vọng từ ngoài sân, ngân qua mái ngói rồi dội vào
thung lũng.
Chưa đầy nửa tuần
hương, tiếng đế giày cỏ đã dừng ngoài thềm. Hai bóng áo bước qua ngưỡng cửa.
Thanh Nhược đi trước, đạo
bào chàm sẫm dệt dày, vạt áo được buộc gọn; nơi cổ tay áo sờn nhẹ, mái tóc đen
búi cao cài trâm gỗ bách. Thanh Liễu Diệp Cổ Kiếm đeo sát bên hông trái, vỏ da
cá đuối tối màu. Theo sau Thanh Nhược là Diệp Sơ. Đạo bào xám tro phủ xuống vóc
người mảnh dẻ, mái tóc đen buộc gọn bằng dải lụa mộc. Thanh kiếm mảnh đeo bên
hông trái, chuôi hơi chếch về phía trước. Cuộn dây tơ tằm ngâm sáp cùng quả rọi
đồng được buộc gọn bên hông phải. Khi nàng bước sau người cô, quả đồng chạm khẽ
vào khuy thắt lưng.
Cả hai đứng lại trước
án, chắp tay hành lễ:
- Bái kiến Quán chủ.
Thủ Tĩnh ngẩng đầu, ánh
mắt lướt qua Thanh Nhược rồi dừng nơi Diệp Sơ đang nép phía sau:
- Thư của Tĩnh Hoằng đã
thuật rõ điều ông tận mắt thấy, cũng giữ lại những điều ông chưa thể định đoạt.
Các con xuống đó để tra rõ lai lịch chuyến thuyền; chưa hỏi được thì không vội
kết tội.
Thủ Tĩnh đẩy nửa mảnh
ngọc bội qua án, về phía Thanh Nhược:
- Con dẫn Diệp Sơ theo
đường Thạch Lương Kính; trước khi trời tối, phải đến hang Lạc Nhạn Hốc ở huyện
Hoắc Ấp. Chờ bồ câu của Tĩnh Hoằng xác nhận vị trí thuyền rồi mới phối hợp với
người Quảng Thắng Tự. Chưa nhận được tin thì không được tự ý xuất thủ.
Thanh Nhược cúi đầu:
- Đồ nhi lĩnh mệnh.
Thanh Nhược khép tay
quanh nửa mảnh ngọc. Thủ Tĩnh chuyển sang người đứng cạnh nàng:
- Diệp Sơ.
Diệp Sơ bước tới trước
án:
- Đồ nhi xin nghe.
- Con ở trên núi mười bảy
năm rưỡi, ăn cháo suối ngải cứu, luyện kiếm trong thạch thất, chưa từng một lần
xuống núi. Dưới bến có bùn lầy, có người đói khổ, cũng có kẻ che giấu mưu tính.
Những gì con học trong quán chưa đủ để hiểu hết người đời; hãy nhìn cho rõ rồi
hãy định đoạt.
Năm ngón tay Thủ Tĩnh
khép quanh miệng chén men tro, miết dọc đường viền gốm:
- Môn kiếm Tùy Phong lấy
tĩnh làm gốc. Khi kiếm rời vỏ, chỉ nhằm ngăn thuyền và tra xét; tuyệt đối đừng
để sát khí làm vẩn đục Sơ tâm.
Ngón tay Diệp Sơ khép
quanh nút dây quả rọi rồi buông ra:
- Đồ nhi ghi nhớ lời
Quán chủ.
Thủ Tĩnh phất nhẹ tay
áo:
- Đi đi. Giữ lấy thân
mình.
Hai người cùng cúi đầu,
lùi ba bước rồi xoay người ra khỏi trà thất.
Ngoài hiên, sương trên
mái ngói đã mỏng đi. Hai bóng áo chàm xám theo lối Thạch Lương Kính men theo sườn
núi đi xuống, khuất dần sau rừng bách.
---
Chiều muộn ngày hăm
sáu, bồ câu của Tĩnh Hoằng bay về hang Lạc Nhạn Hốc, mang theo mẩu lụa báo thuyền
tào ngược dòng sắp qua khúc sông Hoắc Sơn.
Canh ba đêm ngày hai mươi sáu tháng Ba, năm Tuyên Hòa
thứ tư.
Gió bấc luồn dọc hẻm
sông Hoắc Ấp, mang theo hơi buốt của tuyết tan từ thượng nguồn. Một lớp sương
thấp trôi sát mặt nước đục; trên cao, vầng trăng tàn lẩn khuất sau rặng Hoắc
Sơn sẫm tối. Bờ tây dựng đứng vách đất hoàng thổ hàm ếch; bờ đông là bãi cuội
ngầm ken dày sậy nước cao quá đầu người.
Dòng Phần Hà xiết về
nam, dồn từng đợt sóng vào mạn gỗ. Chiếc thuyền tào chở ngàn thạch túc mạch nặng
nề rẽ ngược lên Bắc. Mớn nước ăn sâu, đáy thuyền chỉ còn cách bãi sỏi vài tấc
nước. Trên cột buồm, lá cờ hiệu quân lương viền đen ướt đẫm sương đêm rũ xuống,
thỉnh thoảng khẽ giật theo gió lạnh. Ngọn đèn bọc da dầu trước mũi hắt ra quầng
sáng vàng đục, chỉ đủ soi rõ mặt nước nổi bọt phù sa trong phạm vi một trượng.
Chiết Khả Cửu đứng tựa
hông vào cần bẻ lái bằng gỗ lim nơi sàn lái ở đuôi thuyền. Hai bàn tay buông lỏng
đè lên thanh đòn gỗ, nương theo lực dội của từng con sóng để giữ mũi thuyền bám
sát luồng sâu ven bờ đông. Bên cột buồm, Dương Lão khoanh hai tay trong vạt áo
vải thô, tấm lưng hơi còng bất động dưới sương đêm. Phía trước sàn mũi, Tần Viễn
ngồi xổm cạnh giàn tời bọc đồng, những ngón tay dính mỡ trâu lần dọc từng mắt
xích.
Bỗng từ vách đá bờ đông
vọng lại tiếng gỗ bật răng rắc. Một thân bách cổ thụ dài hơn hai trượng, gốc lớn
một vòng tay ôm, xé màn sương lao xuống lòng sông ngay trước mũi thuyền. Nước bắn
tung tóe; thân cây ghim sâu vào bãi sỏi ngầm giữa luồng, ngọn cành nhô khỏi mặt
nước sủi bọt.
Tên lính trạm áp tải ngồi
bên chậu than giật nảy người, buông rơi ngọn trường thương. Mũi thuyền chỉ còn
cách thân cây nửa trượng. Chiết Khả Cửu gồng cứng hai cánh tay, ghì mạnh cần
lái sang mạn trái, mượn sức nước bẻ ngoặt mũi thuyền ra mép ngoài luồng tránh
cú đâm.
Khối thuyền ngàn thạch
chao mạnh sang một bên. Khoảnh khắc sàn đuôi thuyền lướt sát mỏm đá vôi nhô ra
mép nước bờ đông, một bóng áo xám tro từ rặng sậy bước lên gờ đá.
Diệp Sơ vung cổ tay. Sợi
dây tơ tằm ngâm sáp mang theo quả rọi đồng xé gió lướt là là mặt nước, bay vòng
quanh trục bánh lái gỗ lim lộ dưới gầm sàn đuôi thuyền. Răng cưa bằng đồng cắn
sâu vào thớ gỗ ướt; sợi dây quấn chặt ba vòng quanh trục. Đầu dây đã ghim vào một
khe nứt trên vách đá.
Trục bánh lái khựng lại
trong tiếng ken két của gỗ nghiến vào nhau, cần bẻ lái trên sàn mắc cứng ở góc
ngoặt. Mũi thuyền vừa chệch về tây, dòng xiết trong khúc hẹp ép xéo vào mạn phải,
đẩy cả khối thuyền nghiêng đi, cày lên dải sỏi nông ven bờ đông. Thuyền lắc mạnh
rồi nằm nghiêng trên bãi cạn.
Bọt nước còn chưa lắng,
hai bóng áo xám thô đã xuất hiện trên mỏm đá nhô sát mép nước.
Trí Dũng dựng thiền trượng
sắt, nện đầu trượng xuống mặt đá. Chấn lực làm rêu bám ở mép đá bong ra. Tĩnh
Hoằng vuốt chòm râu bạc, cất giọng ồm ồm dội qua màn sương:
- A di đà Phật. Đêm hăm
ba ở bến Triệu Thành, thí chủ đánh bật Tuệ Giác xuống sông, làm trật khớp vai
phải của y...
Bàn tay Chiết Khả Cửu
siết chặt, lớp vải thô bọc quanh chuôi đao rách toạc:
- Thuyền quân lương Tây
Quân! Kẻ cản đường, chém!
Hắn bật khỏi sàn thuyền,
vượt khoảng nước cạn hai trượng, bổ thẳng phác đao xuống đầu Trí Dũng!
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.