Chương 7: Hai Bên Đối Sổ
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
7 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 7/7 chương
Gió sớm từ mặt sông thổi thốc lên triền cát, lạnh buốt thấu qua lớp áo chấn thủ vá vai của Vương Quang.
Đoàn người trên đê túa xuống bãi bồi. Tiếng ủng da nện huỳnh huỵch trên lớp bùn lầy, tiếng gậy sắt va lách cách vào thắt lưng đồng của đám lính cơ làm tan tác đám dẽ giun đang kiếm ăn ven rặng sậy.
Đi đầu là viên thư lại già họ Đỗ—Đỗ Văn Cương. Lão trạc ngoài năm mươi, vóc người đẫy đà, mặc áo lương thâm đã sờn cổ, bên hông lủng lẳng một ống tre đựng thẻ triện và cuốn sổ bộ bìa da bò dày cộp. Mặt lão đỏ gay vì phải lội bộ đường xa giữa gió bấc, hai mắt ti hí nheo lại đầy vẻ cảnh giác và bực dọc.
Nhưng thứ khiến không khí quanh bãi cồn cát đông cứng lại không phải bốn tên lính cơ mang gậy sắt.
Mà là hai cái bóng lướt đi không chạm đất ngay sau lưng họ.
Hai gã quỷ sai áo tro tàn đội mũ cánh chuồn đen nhánh vẫn giữ nguyên vẻ vô hồn như đêm qua. Gã cầm đèn lồng xanh lục lơ lửng bên vai Đỗ thư lại, ngọn lửa ma trơi leo lét hắt thứ ánh sáng nhờ nhờ lên mặt lão. Bốn tên lính cơ phàm trần và cả lão Đỗ hoàn toàn không nhìn thấy hai bóng áo tro tàn ấy. Họ chỉ vô thức rụt cổ lại, xuýt xoa vì cái lạnh bất thường đang bám riết lấy gáy mình.
"Vương Quang!" Đỗ thư lại chống một tay vào đầu gối thở dốc, tay kia chỉ thẳng gậy trúc vào mặt hắn. "Mày to gan thật! Nửa đêm nửa hôm không lo viết văn tế cho nhà người ta, lại chạy tọt ra cồn cát này bới mả làm cái giống gì?"
Bốn tên lính cơ tản ra, vây quanh miệng hố sụt, đầu gậy sắt chĩa xuống đất nện thành một vòng vây lỏng lẻo.
Vương Quang không lùi. Bàn tay giấu trong túi áo siết nhẹ lấy chiếc thẻ bài đồng của cụ Từ. Hắn cúi đầu, chắp tay làm lễ theo thói quen của kẻ dưới:
"Bẩm Đỗ tiên sinh. Con phụng việc nhà họ Trần sang chép bảng phúng điếu. Đêm qua... xảy ra biến cố, con theo lời dặn của người làng ra đây xem xét nấm mồ."
"Biến cố?" Đỗ thư lại cười khẩy một tiếng, nhưng trong ánh mắt lộ rõ vẻ bất an. Lão liếc nhanh xuống miệng hố sâu bốn thước, rồi đột ngột khựng lại.
Dưới đáy huyệt, nắp cỗ ván tạp toác một lỗ tròn to bằng cái bát ăn cơm.
Khúc gỗ hình hài nhi cụt đầu cụt chân đứng trơ trọi giữa đám vải xô nát, chiếc đinh sắt giữa trán rỉ ra từng vệt nước quánh đỏ như máu đọng.
Mặt Đỗ thư lại từ đỏ gay chuyển sang trắng bệch. Lão lùi lại nửa bước, va cả vào tên lính cơ đứng sau:
"Cái... cái mả mẹ gì thế này? Xác thằng Lượng đâu?"
"Bác Lượng... không có dưới đó," Vương Quang trầm giọng đáp.
"Mày nói bậy!" Người lính cơ râu quai nón bên cạnh bỗng bước lên một bước, mặt mày xám ngoét. Hắn nhìn chằm chằm vào đáy huyệt, giọng run rẩy: "Hôm mùng năm... chính tay tao với ba thằng nữa khiêng cỗ ván này từ thuyền lên bãi. Nặng... nặng trĩu tay. Bốn thằng lực lưỡng thở không ra hơi. Trong này... lúc ấy rõ ràng có xác!"
Không ai đáp lại lời hắn. Gió sông rít qua lỗ thủng nắp ván, phát ra tiếng u u lạnh ngắt.
Nếu lúc chôn cỗ ván nặng trĩu tay, vậy thứ mà bốn người lính cơ khiêng trên vai hôm ấy... rốt cuộc là cái gì?
"Hồn phách không có. Khí tức người chết cũng không nằm ở đây."
Một thanh âm the thé, lạnh ngắt như mảnh sành cạo trên đáy nồi bỗng từ khoảng không sau lưng Đỗ thư lại vọng ra.
Vương Quang ngẩng đầu nhìn. Gã quỷ sai cầm xích sắt đã lướt tới mép hố sụt từ lúc nào. Gã cúi cái đầu khẳng khiu xuống, hai hốc mắt tối om xoáy thẳng vào khúc gỗ dưới đáy huyệt.
Đỗ thư lại bỗng nhiên rùng mình run bắn lên một cái, như thể có một luồng gió độc vừa thổi xuyên qua tim. Lão không nhìn thấy gã quỷ sai, nhưng nỗi bất an mơ hồ thúc giục lão thò tay vào bọc áo, rút cuốn sổ bộ hộ tịch bìa da bò ra lật vội vã.
Trang giấy bản ố vàng mở ra dưới gió sớm phần phật.
Trên trang sổ ghi rành rành dòng mực đen đã khô:
Xóm Cổ Miễu, thôn Nam Xang. Trần Khắc Lượng, tam thập tứ tuế, mộc tượng. Giờ Ngọ mùng bốn tháng Chạp chết đuối tại ngã ba sông Đáy. Đã kiểm nghiệm thi thể, thân nhân nhận diện, phát trát chứng tử, xóa tên khỏi sổ đinh.
Bên dưới dòng chữ ấy, có một dấu triện son vuông vức của huyện nha Sơn Nam đóng đè lên một nửa cái tên Lượng.
Và ngay cạnh dấu triện son của người sống... là một vết mực xám ngoét hình ngón tay cái—vết điểm chỉ bằng âm khí của Câu Hồn Ti cõi dưới.
Hai nét dấu, một đỏ một xám, khóa chặt danh phận của một người đã chết.
"Sổ bộ trần gian đã gạch tên," Đỗ thư lại lẩm bẩm, quệt mồ hôi trán. Lão ngẩng lên nhìn quanh bãi tha ma vắng ngắt, nói lớn như để tự trấn an mình: "Tôi không biết ma quỷ nào hết. Tôi chỉ biết giấy trắng mực đen này do huyện đóng dấu triện. Đã đóng dấu xóa tên thì người này là người chết!"
"Tên vẫn còn trong sổ."
Gã quỷ sai cầm đèn lồng cất tiếng rít lạnh lẽo. Gã giơ chiếc đèn lồng da cá nhám lên cao, soi thẳng ngọn lửa xanh lục vào trang sổ bộ trên tay Đỗ thư lại.
Dưới ánh lửa ma trơi, dấu điểm chỉ bằng âm khí của cõi dưới bắt đầu loang lổ, rỉ ra những giọt nước đùng đục như nước phù sa.
Gã quỷ sai cầm xích sắt siết chặt các mắt xích trong tay:
"Tên còn trên giấy, nhưng hồn không ở nơi nó phải ở."
Đỗ thư lại như cảm thấy cổ họng nghẹn cứng lại, dù không thấy ai nói, lão vẫn vô thức thốt lên run rẩy:
"Ai... ai làm?"
Gã quỷ sai im lặng rất lâu, hai hốc mắt sâu hoắm nhìn đăm đăm vào vệt nước đục đang làm nhòe trang sổ:
"Nếu biết, chúng ta đã không phải đến đây."
Vương Quang đứng bên miệng hố, ngực thắt lại.
Cõi âm không biết. Người của nha môn cõi trần cũng không biết. Cả hai bên đều cầm trong tay một cuốn sổ ghi nhận cái chết của Trần Khắc Lượng, nhưng cái chết ấy dường như đã trượt ra ngoài tầm kiểm soát của cả hai hệ thống.
"Đỗ tiên sinh," Vương Quang khẽ lên tiếng, "trưa mùng năm ai là người giao xác bác Lượng cho thân nhân?"
Đỗ thư lại trừng mắt nhìn Vương Quang, vừa bực tức vừa hoang mang:
"Mày hỏi vặn tao đấy à? Chuyện giấy tờ nha môn đến lượt thằng chép mướn như mày can dự sao? Xác vớt ở bãi bồi, có biên bản bàn giao của nha Tuần Giang phụ trách đoạn sông Đáy, có dấu triện của ty Thủy Lực hẳn hoi! Không có biên bản ấy, tao dám tự tiện đóng triện chứng tử chắc?"
Vương Quang nhìn dòng biên bản trên góc sổ, rồi lại nhìn cái quan tài thủng dưới đáy huyệt.
Một tờ giấy của nha môn nói Trần Khắc Lượng đã chết.
Một vết trát cõi dưới nói tên hắn vẫn còn trong sổ nhưng hồn phách mất dấu.
Dưới đáy mộ, một khúc gỗ quấn tóc cắm đinh sắt đang rỉ nước đỏ.
Còn trên dòng sông Đáy ngoài kia, quan coi việc sông nước lại từng ký một tờ biên bản xác nhận đã vớt được một cái xác bằng xương bằng thịt.
Những thứ ấy không thể cùng đúng.
Hắn không biết ai đã đóng chiếc đinh sắt, càng không hiểu ai đã đem khúc gỗ này chôn xuống đây. Nhưng hắn nhận ra, giữa ba bên Nhân Quyền, Thần Quyền và Âm Quyền, đang có một kẽ hở khổng lồ mà một kẻ nào đó đã lách qua.
Cạch.
Một tiếng động khô khốc phát ra từ đáy quan tài.
Khúc gỗ cắm đinh sắt bỗng nhiên nghiêng sang một bên. Lớp tóc đàn bà quấn quanh thân gỗ bắt đầu khô quắt lại, cháy xèo xèo như bị tàn lửa rớt trúng, bốc lên mùi khét lẹt nồng nặc. Chiếc đinh sắt găm giữa trán nó từ từ trồi lên nửa phân, rỉ ra một dòng nước đen ngòm.
Gã quỷ sai cầm xích biến sắc, cánh tay áo tro tàn khẽ nâng lên.
Nhưng sợi xích chưa kịp vung ra thì từ phía khúc quanh sông Đáy ngoài xa, một hồi còi đồng bỗng rúc lên từng chặp dồn dập.
U... u... u...
Tiếng còi đồng trầm hùng xé toạc màn sương sớm, vang dội cả một vùng bãi bồi.
Đỗ thư lại và bốn tên lính cơ giật mình quay ngoắt ra bờ sông.
Trên mặt nước sông Đáy mịt mù hơi lạnh, bóng mũi một con thuyền lớn sơn đen bóng, mũi thuyền khắc hình đầu rồng ngậm mái chèo đang rẽ sóng lao thẳng về phía Cồn Cát Mả Khách. Tiếng trống lệnh trên boong thuyền gõ nhịp đều đặn: Cắc... tùng... cắc... tùng...
Trên cột buồm của con thuyền, một lá cờ đuôi nheo màu xanh chàm thêu bốn chữ chỉ vàng phần phật bay trong gió bấc:
Giang Hà Đốc Vận.
Gã quỷ sai cầm đèn lồng xanh lục lập tức hạ thấp tay xuống. Ánh lửa ma trơi thu nhỏ lại thành một đốm sáng le lói.
Hai gã quỷ sai nhìn lá cờ xanh chàm trên mũi thuyền, rồi đồng loạt lùi lại nửa bước ra mép rặng sậy.
"Người của Thủy Lực," gã cầm đèn thì thào.
Gã cầm xích sắt siết chặt bàn tay:
"Chưa có trát liên giới."
"Họ có thủy phù," gã cầm đèn lạnh lùng đáp. "Đợi."
Hai bóng áo tro tàn đứng im lìm giữa làn sương lạnh, thu mình lại, không tiến thêm một bước nào nữa. Có quyền tróc nã hồn phách, nhưng khi đứng trước một chiếc thuyền mang cờ hiệu của cơ quan cai quản sông nước trần thế, ngục lại cõi dưới cũng phải dừng tay cân nhắc quyền hạn.
Con thuyền tuần giang lướt tới mép cồn cát rồi hạ neo, mũi thuyền cắm phập vào bãi bùn lầy.
Trên boong, hàng chục tay chèo mặc áo giáp da đứng nghiêm trang hai bên mạn. Một viên quan áp thuyền chừng ngoài bốn mươi tuổi, khoác áo choàng lông cừu viền lụa xanh, tay cầm một ống đồng niêm phong sáp đỏ, sải bước tiến ra mũi thuyền, ánh mắt sắc lạnh nhìn thẳng về phía đám người đang đứng quanh miệng huyệt sụt:
"Người của huyện nha Sơn Nam nghe lệnh! Nhận được tin báo cồn cát ven sông có dị biến sụt lún địa mạch, nha Giang Hà Đốc Vận phụng mệnh phong tỏa khu vực bãi bồi. Tất cả những kẻ có mặt quanh phần mộ... đứng nguyên tại chỗ chờ thẩm tra!"
Đỗ thư lại run bắn người, vội vã khép cuốn sổ hộ tịch lại, khúm núm cúi đầu. Bốn tên lính cơ vội vàng buông thấp đầu gậy sắt, không dám thở mạnh.
Chỉ có Vương Quang đứng lặng giữa triền cát.
Hắn nhìn cỗ ván tạp thủng đáy dưới chân.
Nhìn cuốn sổ bộ trên tay Đỗ thư lại.
Nhìn hai bóng quỷ sai đang lặng lẽ quan sát trong màn sương.
Rồi nhìn chiếc thuyền tuần giang sừng sững bên mép nước và chiếc thẻ bài Thành Hoàng đang tỏa hơi ấm âm ỉ trong túi áo ngực.
Hắn đang đứng giữa quá nhiều thế lực có quyền.
Quan nha có trát của quan nha. Cõi dưới có luật của cõi dưới. Người coi sông có phù của người coi sông. Thần giữ đất có cương giới của thần giữ đất.
Ai cũng cầm trong tay một thứ giấy tờ, một tấm thẻ bài để chứng minh quyền hạn của mình. Chỉ có hắn—một kẻ chép thuê kiếm ba mươi đồng kẽm một ngày—là không có bất kỳ quyền hạn nào để đứng ở đây.
Nhưng cũng chính vì không có quyền, hắn mới là kẻ duy nhất nhìn thấy: mọi cuốn sổ, mọi con dấu của cả ba cõi... đều đang bị một thứ gì đó dưới đáy sông Đáy cười nhạo.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.