Chương 1: Người Chết Gõ Cửa
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
7 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 7/7 chương
Đêm Trần Khắc Lượng trở về, con chó trong sân là thứ đầu tiên nhận ra hắn đã chết.
Mưa tháng Chạp ở vùng bãi ven sông Đáy rây hạt buốt như kim châm. Gió lùa qua kẽ liếp, mang theo cái ẩm mục của phù sa lẫn mùi tanh nồng của bèo tây chết úng. Trong gian nhà tranh ba gian xiêu vẹo của xóm trại Cổ Miễu, chiếc chõng tre đặt sát bàn thờ bốc lên mùi khói hương nhàn nhạt.
Bàn thờ mới lập vội trưa mùng năm. Trên chiếc mâm gỗ mộc chỉ có một đĩa xôi nếp con, ba chén rượu trắng và một ngọn đèn hạt đỗ le lói, hắt thứ ánh sáng vàng vọt lên bức mành gai rách. Tấm linh vị bằng gỗ mít còn tươi nhựa dựng trơ trọi giữa mâm, mặt gỗ vẫn còn rớm vết mực nho chưa kịp khô kiệt:
Hiển khảo Trần môn Khắc Lượng bài vị.
Bên góc phản, Vương Quang ngồi co một chân, ngón tay trỏ khẽ tỳ lên chiếc nghiên đá cũ mòn mép. Mười chín tuổi, thân khoác manh áo chấn thủ vá vai, hắn kiếm sống bằng nghề chép sổ sách, văn khế tại huyện nha ven sông. Đêm nay hắn ngồi đây chỉ để viết bản văn tế và chép lại tên họ những người đến phúng điếu cho lễ mở cửa mả vào sáng sớm mai.
Ngọn bấc đèn dầu bỗng khẽ lách tách một tiếng.
Dưới gầm phản, con chó mực cụt đuôi mà Lượng nuôi từ ngày còn đóng bè trên ngã ba sông đột nhiên cứng đờ. Nó không sủa. Loài chó chài vốn dữ tợn, gặp kẻ lạ ban đêm thường chồm lên xé toạc màn sương, nhưng lúc này, bốn vó nó xoạc ra, bụng dán chặt xuống mặt đất nện nhão nhoét vì hơi ẩm. Từ sâu trong cuống họng con vật chỉ phát ra tiếng rên ư ử đứt quãng, từng thớ thịt dưới lớp lông ướt sũng giật nẩy lên từng hồi.
Nó dùng móng trước cào điên cuồng vào chân cột tre, vừa cào vừa lùi dần vào góc tối tăm nhất sau đống củi mục, hai mắt mở trừng trừng nhìn ra khe ván cửa trước.
Vương Quang dừng tay mài mực. Đầu ngọn bút lông thỏ lơ lửng giữa không trung.
Cộc. Cộc. Cộc.
Ba tiếng gõ cửa vang lên, chậm rãi, đều đặn đến mức kỳ dị. Tiếng gõ không mạnh, chỉ như đầu ngón tay gõ nhẹ vào thanh gỗ mục ngâm nước lâu ngày, phát ra thứ âm thanh đục và nặng.
Ở gian trong, người đàn bà đang quỳ gối gục đầu bên manh chiếu rách giật mình ngẩng lên. Vợ Lượng mới ngoài hai mươi, đầu chít dải khăn xô trắng toát, gương mặt sưng húp vì nước mắt, đôi bàn tay nứt nẻ siết chặt lấy chiếc áo tơi lá gác bên vách.
"Ai... ai ngoài ấy?" Giọng nàng run rẩy, lạc đi trong tiếng gió rít qua rặng tre đầu ngõ.
Không có tiếng đáp lại ngay. Chỉ có tiếng nước mưa từ mái rạ chảy tong tòng xuống chiếc chum sành đặt trước bậc thềm. Rồi một thanh âm khàn khàn, ngắt quãng vọng vào, mang theo hơi thở dồn dập của một người vừa lội bộ ngược dốc đê giữa trời giá rét:
"U nó ơi... Rút then cửa hộ ta với. Gió sông buốt quá... ta gõ mãi không ai thưa."
Cả gian nhà lập tức rơi vào sự tĩnh lặng tuyệt đối.
Tiếng cào móng của con vượn mực dưới gầm phản im bặt. Ngọn lửa hạt đỗ trên bàn thờ bỗng ngả sang màu xanh lét, chao đảo dữ dội dù gió ngoài sân không lọt qua nổi tấm liếp tre.
Người vợ họ Trần trố mắt nhìn ra cánh cửa khép chặt bằng then gỗ xoan. Toàn thân nàng run lên bần bật, hai hàm răng va vào nhau lập cập phát ra tiếng khô khốc. Đó là giọng của chồng nàng. Cái chất giọng khàn khàn vì khói thuốc lào, hơi ngọng âm đầu của dân ngã ba sông, cái cách gọi "U nó" mỗi bận đi đóng thuyền đêm về muộn...
Nhưng ba ngày trước, chính nàng và dân làng Cổ Miễu đã lội bùn vớt xác hắn lên từ bãi cát bồi.
Trần Khắc Lượng ngã xuống sông Đáy hôm mùng bốn tháng Chạp vì đứt dây lèo khi đang neo thuyền chở gỗ. Nước sông mùa cạn chảy xiết ngầm dưới đáy, cuốn hắn đi hơn sáu dặm mới dạt vào bụi rười rậm rạp. Khi người ta vớt được, cái xác trương phình, hai mắt nhắm nghiền, da dẻ tái nhợt phủ đầy bèo tấm và ốc bám. Chính tay nàng đã dùng nước lá bưởi lau sạch từng ngón tay thâm tím của chồng, tự tay nhét nắm gạo nếp cùng ba đồng tiền kẽm vào miệng hắn để làm lễ ngậm hàm, rồi nhờ dân làng đóng nắp quan tài bằng gỗ dán đem chôn sâu ba thước đất ngoài cồn cát.
Người đã chôn ba ngày dưới mồ, làm sao đứng ngoài cửa gọi vợ?
"Chắc... chắc là ma trêu..." Nàng lẩm bẩm, nước mắt giàn giụa, tay vớ lấy con dao rựa chặt củi để ở đầu giường, run rẩy nép sát vào vách đất. "Ma sông quỷ nước... đừng ám mẹ con tao..."
"U nó nói lảm nhảm cái gì thế?" Giọng nói bên ngoài dường như thoáng vẻ bực bội, tiếng chân xột xoạt giẫm lên lớp lá khô ngoài hiên. "Thằng Cả đâu? Sao trong nhà lại đốt nhang khét lẹt thế này? Mở cửa ra, tay ta cóng đờ cả rồi, không cởi nổi nút áo tơi đây này!"
Lạch cạch.
Then cửa ngoài bị lay mạnh.
Vương Quang hít sâu một hơi buốt lạnh vào lồng ngực. Ngón tay hắn vô thức chạm vào góc gáy rách nát của tập giấy bản cũ mang theo bên mình. Trong đầu hắn chợt lướt qua một mẩu dị văn chép tay từng đọc lén trong hiệu sách cũ thuở nhỏ:
“Kẻ chết đuối oan khiên, hồn phách vướng lại bùn sâu. Gặp lúc khí âm nghịch chuyển, tàn linh có thể kéo theo xác cũ tìm về chốn xưa…”
Nhưng đầu óc hắn lập tức gạt phắt đi. Đó chỉ là chuyện ma quái dỗ trẻ con ngủ, người đời đặt điều mua vui, sao có thể thành thật giữa thanh thiên bạch nhật? Hắn nuốt khan, bước chân nhẹ tênh tiến lại gần mép cửa, ghé mắt nhìn qua khe hở của hai cánh liếp gỗ.
Dưới trời mưa phùn mờ mịt, bóng một người đàn ông lực lưỡng đang đứng chôn chân trên bậc thềm đá. Hắn mặc chiếc áo vải nâu sồng rách một bên vai, bên ngoài khoác chiếc áo tơi lá tơi tả còn rỏ nước tong tòng. Dưới ánh sáng lờ nhờ hắt ra từ bên trong, Vương Quang nhìn thấy rõ gò má vuông vức, chòm râu quai nón lởm chởm và vết sẹo dài bằng đốt ngón tay ở thái dương bên trái.
Đó đích thực là Trần Khắc Lượng.
Không phải một cái bóng mờ ảo, cũng không phải một bộ xương khô khoác da người. Hắn đứng sờ sờ ở đó. Từ lồng ngực vạm vỡ ấy, từng luồng hơi thở phả ra giữa đêm đông lạnh giá, ngưng tụ thành từng cụm khói trắng mờ mờ rồi tan biến vào màn mưa.
"Lượng... anh Lượng thật đấy ư?" Thấy bóng chồng, sự kinh hãi của người đàn bà trong chốc lát bị đè bẹp bởi nỗi mừng mừng tủi tủi. Nàng buông rơi con dao rựa xuống đất, lảo đảo lao tới chốt cửa.
"Chị Lượng, khoan đã!" Vương Quang khẽ quát, nhưng không kịp.
Bàn tay run rẩy của người đàn bà đã giật phắt chiếc the gỗ xoan.
Cánh cửa mở toang ra một tiếng két khô khốc. Gió lạnh mang theo hơi nước sông thốc thẳng vào nhà, làm ngọn đèn dầu trên bàn thờ chao đảo muốn tắt.
Trần Khắc Lượng bước qua ngưỡng cửa.
Hắn cởi chiếc nón mê rách ném sang một bên, đưa bàn tay to bè lên quệt nước mưa trên mặt. Bàn tay đỏ ửng vì lạnh, những khớp xương gồ ghề của kẻ quanh năm cầm đục hiện lên rõ mòn mọt dưới ánh đèn. Nhìn thấy vợ đầu chít khăn tang, mặt cắt không còn giọt máu đứng sững giữa nhà, Lượng cau mày, ngơ ngác nhìn quanh:
"Nhà có tang ai thế này? Ai mất? Sao u nó lại đội khăn xô?"
Người vợ không trả lời được, miệng há hốc, hai đầu gối nhũn ra rồi ngã quỵ xuống đất, bàn tay run rẩy ôm chầm lấy bắp chân ướt sũng phù sa của chồng.
Da thịt ấm. Dưới lớp vải nâu ướt đẫm, bắp thịt của Lượng vẫn săn chắc, đàn hồi như một người sống khỏe mạnh. Thậm chí nàng còn ngửi thấy mùi mồ hôi nồng nặc quen thuộc lẫn trong mùi bùn sông toát ra từ người hắn.
"Anh... anh chưa chết?" Nàng òa lên khóc nấc, vùi mặt vào vạt áo Lượng. "Ba ngày trước... người ta vớt xác anh ở bãi bồi... chôn ngoài cồn cát rồi cơ mà!"
Lượng giật mình, lùi lại nửa bước, ánh mắt hoang mang tột độ. Hắn đưa hai bàn tay lên trước mặt, lật qua lật lại, rồi đưa mắt nhìn lên bàn thờ. Chiếc linh vị bằng gỗ mít khắc tên hắn sờ sờ ngay trước mắt, khói nhang vẫn đang lượn lờ cuộn quanh bát hương cắm mấy chân nhang nhuộm phẩm đỏ.
"Chôn ta? Ai chôn? Ta chết bao giờ?" Lượng thở dốc, giọng run rẩy nhưng đầy vẻ bực dọc của một kẻ bị trêu đùa quá trớn. "Trưa mùng bốn thuyền gỗ va vào trụ đá ngầm vỡ đôi, ta bị nước cuốn chìm nghỉm, uống no một bụng nước sông rồi ngất đi. Đến lúc mở mắt ra thì thấy mình nằm dạt ở bãi lau rậm rạp bên kia sông, rét run cầm cập. Ta lần mò trong đêm, đi men theo bờ đê suốt từ chiều đến giờ mới về tới xóm trại... Ai bảo ta chết mà đem chôn?"
Từng chi tiết về vụ đắm thuyền, về mảng gỗ dạt, về cái rét cắt da cắt thịt lúc hắn tỉnh dậy trong bãi lau... hắn kể vanh vách không sót một chữ.
Hắn bước đến chiếc phản gỗ, ngồi phịch xuống, vỗ mạnh vào đùi:
"Chết cái nỗi gì! Ta còn nợ lão rèn đầu ngõ ba tiền đồng mua đinh tán thuyền hôm hăm tám chưa trả, chết làm sao được mà chết! U nó mau nhóm bếp đun cho ta ấm nước chè xanh gừng nóng đi, ruột gan ta thắt lại vì đói và lạnh rồi đây này."
Người vợ nhìn chồng nói năng rành rọt, từng thói quen, cử chỉ, dáng ngồi đến giọng điệu quở trách vụn vặt không sai một li nào so với mười năm chung sống. Nỗi khiếp sợ trong lòng dần dần tan biến, thay vào đó là sự mừng rỡ tột cùng như kẻ chết đuối vớ được cọc. Nàng quệt nước mắt, vội vã lồm cồm bò dậy, vơ lấy đống rơm khô dưới bếp:
"Vâng... vâng, em đi đun nước ngay... Tổ tiên phù hộ, trời đất có mắt, anh chưa chết..."
Gian nhà tranh bỗng chốc như ấm lại bởi tiếng người đàn bà lục đục thổi lửa dưới bếp, tiếng rơm khô bắt lửa tí tách reo vui. Mọi thứ trở lại bình thường một cách kỳ lạ, như thể ba ngày tang tóc vừa qua chỉ là một trò đùa tai quái của số phận.
Chỉ có Vương Quang là chưa từng rời mắt khỏi Trần Khắc Lượng.
Hắn đứng lặng bên góc phản, lưng tựa vào vách đất lạnh ngắt. Đôi mắt đen láy của kẻ quanh năm mài mực đối diện với những văn khế trần tục khẽ nheo lại.
Vương Quang không tin vào những sự nhầm lẫn hoang đường như thế.
Ba ngày trước, khi người nhà họ Trần làm lễ khâm liệm, chính mắt Vương Quang đã nhìn thấy thi thể vớt dưới sông lên. Cái xác đó trương phình, da thịt xám ngoét chuyển sang mùi tử thi nồng nặc. Một người đã ngâm nước ba ngày đến mức mục rữa, không thể nào tự mở mắt bò dậy từ bãi rười rồi đi bộ sáu dặm đê về nhà với da dẻ hồng hào ấm áp như thế này được.
Dưới gầm phản, con chó mực vẫn không chịu ra. Nó cuộn tròn như một nắm giẻ, mõm gí sát vào đống tro trấu lạnh, thỉnh thoảng lại run bắn lên từng chặp.
Trần Khắc Lượng đưa mắt nhìn sang, dường như lúc này mới nhận ra sự có mặt của người lạ trong nhà:
"Cậu này là..."
"Dạ, cháu là Quang, làm việc chép sổ sách bên huyện nha." Vương Quang khẽ cúi đầu, giọng điệu bình thản, lễ phép. "Gia đình nhờ cháu sang viết bảng văn tế và chép danh sách phúng điếu cho bác."
"À... chú mày làm bên nha môn." Lượng thở dài, đưa bàn tay xoa xoa vầng trán nhăn nheo, ánh mắt thoáng vẻ mệt mỏi. "Làm phiền chú mày quá. Cái bọn xóm này hồ đồ thật, thấy xác trôi sông không nhìn kỹ mặt mũi đã vội vã đem chôn. Mai trời sáng, ta phải lên huyện nha một chuyến để trình báo, kẻo các quan trên lại gạch tên ta khỏi sổ đinh thì khốn."
"Bác nói phải." Vương Quang khẽ đáp, ánh mắt từ từ dời khỏi khuôn mặt Lượng, hạ thấp xuống mặt đất. "Hộ tịch trần gian ghi tên người sống. Nhầm lẫn một nét mực, phiền phức khôn lường."
Vừa nói, hắn vừa thong thả bước lại gần chiếc bàn gỗ đặt giữa nhà. Trên bàn, ngọn đèn dầu thứ hai vừa được người vợ châm lên để soi đường xuống bếp.
Vương Quang cầm cây đèn dầu lên.
Hắn dịch chuyển ngọn đèn sang mép bàn phía đối diện, đặt chếch một góc, hướng ánh sáng vàng rực rọi thẳng vào người Trần Khắc Lượng.
Theo lẽ thường, ánh đèn chiếu từ trước mặt sẽ hắt một cái bóng đen dài của người đàn ông vạm vỡ lên bức vách đất quét vôi phía sau lưng.
Nhưng bức vách hoàn toàn trống trơn.
Ánh lửa vàng rực rọi lên thân xác Lượng, in rõ từng vết nứt trên vách đất, in rõ cả bóng của chiếc then cài và mạng nhện giăng nơi góc nhà. Nhưng ở ngay khoảng giữa—nơi đáng lẽ phải có bóng đầu, bóng vai và tấm lưng rộng của người thợ đóng thuyền—chỉ là một mảng sáng phẳng lặng.
Hắn ngồi sờ sờ ở đó, thân xác bằng xương bằng thịt ngăn một phần tầm mắt của Vương Quang, nhưng mặt tường sau lưng hắn dường như không hề nhận biết sự tồn tại của khối thịt da ấy. Không có lấy một mẩu bóng đổ.
Tim Vương Quang khẽ thắt lại, nhưng sắc mặt hắn không hề biến đổi. Hắn chầm chậm hạ tầm mắt xuống đất nện dưới chân Lượng.
Nước từ gấu quần nâu của Lượng vẫn đang rỉ xuống. Từng giọt, từng giọt rơi cạch cạch xuống nền đất.
Kỳ lạ thay, đất nện trong nhà vốn khô ráo và rất dễ hút ẩm, nhưng những giọt nước rỉ ra từ người Lượng rơi xuống không hề ngấm vào lòng đất son. Chúng đọng lại trên mặt đất thành những vũng nước tròn xoe, quánh đặc như keo dán, có màu xám nhờ nhờ của bùn đáy sông. Một mùi tanh lợm giọng—không phải mùi tanh của cá chết, mà là mùi tanh nồng của bùn đen ngàn năm chôn vùi dưới lòng nước sâu không thấy ánh mặt trời—bắt đầu nhè nhẹ bốc lên, lấn át cả mùi khói hương trầm trên bàn thờ.
Lượng không hề nhận ra điều đó.
Hắn chỉ ngồi đó, nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay mình, vẻ mặt chất chứa một nỗi hoang mang vô định. Người đàn ông này thực sự tin rằng mình vừa thoát chết trong gang tấc. Hắn đang mong ngóng một bát nước chè xanh gừng nóng, mong ngóng được nhìn thấy đứa con trai nhỏ đang ngủ say trong buồng, mong ngóng sáng mai ra trả món nợ ba tiền đồng cho lão thợ rèn để giữ trọn chữ tín của một người phàm.
Hắn thèm sống đến từng chân tơ kẽ tóc.
Từ góc bếp, người vợ bưng lên một chiếc bát sành cáu bẩn bốc khói nghi ngút, mùi gừng tươi cay nồng tỏa ra ngào ngạt:
"Nước nóng đây anh... Anh uống nhanh cho ấm bụng."
Lượng mừng rỡ đón lấy bát sành bằng cả hai tay. Hắn đưa lên miệng, húp một ngụm lớn. Nước chè gừng nóng chảy ừng ực qua cổ họng hắn, phát ra tiếng kêu khô khốc. Trên gương mặt khắc khổ của người thợ đóng thuyền bỗng giãn ra một nụ cười thỏa mãn đến nghẹn ngào:
"Ấm... Ấm thật u nó ạ. Cả đời ta đi sông đi biển, chưa bao giờ thấy một bát nước chè gừng lại ngon đến thế này. Sống... được trở về nhà uống ngụm nước ấm, sướng thật."
Người vợ nhìn chồng, nước mắt lại chực trào ra vì thương xót. Nàng với tay định kéo cánh cửa sau thông ra bờ ao để múc thêm gáo nước tráng lại chiếc ấm đất:
"Để em ra sau nhà múc thêm gáo nước..."
"Khoan."
Bàn tay đang cầm bát sành của Trần Khắc Lượng bỗng nhiên khựng lại giữa không trung.
Nụ cười trên gương mặt hắn vụt tắt. Đồng tử mắt hắn dại đi, đục ngầu như mắt một con cá chết ươn lâu ngày dưới đáy bùn. Bát nước chè gừng trên tay hắn bắt đầu sánh ra ngoài, rỏ xuống đùi từng vệt nước nhờ nhờ xám đục.
Hắn không quay đầu lại nhìn người vợ. Hắn cũng không nhìn Vương Quang.
Đôi mắt đục ngầu của hắn dán chặt vào khe hở tối om của cánh cửa liếp phía sau nhà—nơi thông thẳng ra bãi rười và dòng sông Đáy đang cuộn chảy rì rào trong đêm mưa buốt giá.
"Anh... anh làm sao thế?" Người vợ giật mình lùi lại, linh tính mách bảo điều gì đó chẳng lành khiến sống lưng nàng lạnh toát.
Lượng ngồi bất động như một pho tượng đắp bằng bùn đất. Gió ngoài trời bỗng nhiên lặng ngắt một cách bất thường, tiếng ếch nhái râm ran ngoài bãi bồi ven sông đồng loạt im bặt, chỉ còn lại tiếng giọt gianh rơi lộp độp trên mặt đất nện.
Môi Lượng mấp máy. Giọng hắn không còn là cái giọng khàn khàn ấm áp lúc nãy nữa, mà trở nên trầm đục, rin rít như tiếng hai mảnh vỏ hến cọ xát vào nhau dưới đáy nước sâu:
"U nó... đừng mở cửa sau."
Người vợ chết trân giữa nhà, mảnh giẻ lau bếp trên tay rơi tuột xuống chân:
"Vì... vì sao hở mình?"
Trần Khắc Lượng từ từ hạ bát sành xuống mặt chõng tre. Chiếc bát chạm vào nan tre phát ra một tiếng cộp nặng nề, đáy bát rỉ ra một lớp bùn non bám chặt lấy mặt gỗ. Hắn đưa mắt nhìn đăm đăm vào bức vách đất sau lưng—nơi ngọn đèn dầu của Vương Quang đang rọi qua người hắn mà không hề để lại lấy một vệt bóng đen.
Các cơ trên mặt Lượng co giật nhẹ, giọng hắn hạ thấp xuống, run rẩy đến mức gần như thầm thì giữa gian nhà vắng:
"Ta không biết... Nhưng từ lúc ta trồi lên khỏi ngã ba sông Đáy... hình như..."
Hắn ngừng lại, hơi thở phả ra không còn là làn khói trắng ấm áp nữa, mà mang theo hơi lạnh buốt thấu xương tủy:
"...có thứ gì đó... cứ đi sát ngay sau gót chân ta."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.