Di Sản Cuối Cùng

Chương 2: Bản Đồ Elybra Phần 1

Đăng: 04/09/2026 06:55 1,866 từ 1 lượt đọc

-Theo ý ngài , đây là bản đồ của thế giới này . Ở thế giới này một năm có 365 ngày với 4 mùa xuân hạ thu đông

-Phía Tây Nam của rìa bản đồ là một lục địa bị đóng băng với diện tích khoảng 900 triệu km². Đây là lục địa đặc trưng với băng lục địa và lãnh nguyên cực chiếm 75 đến 80% diện tích toàn lục địa, đá trụi cùng đầm lầy băng giá chiếm 15 đến 20% diện tích toàn lục địa, phần còn lại thực vật gần như không đáng kể

-Do băng tuyết bao phủ quanh năm với mật độ bao phủ trung bình năm từ 75 đến 80%, vào mùa hè còn khoảng 50 đến 65% còn vào mùa đông lên đến 90 đến 98% nên nơi đây còn được gọi là Nam Lục Địa Băng Giá hay Vùng Đất Vĩnh Cửu

-Nhiệt độ trung bình năm dao động từ –12 đến –6 độ C với độ ẩm khoảng 70 đến 80%, vào mùa hè nhiệt độ có thể lên tới –2 đến 3 độ C còn vào mùa đông nhiệt độ dao động từ –25 đến –18 độ C

-Nơi đây được xem là nơi có trữ lượng khoáng sản như nhôm, đồng, sắt, dầu mỏ từ rất thấp đến thấp và tập trung chủ yếu ở khu vực phía Bắc lục địa, phần lớn các mỏ nằm dưới lớp băng dày nên rất khó khai thác

-Môi trường cực lạnh cùng lớp băng dày đặc đã tạo điều kiện hình thành lượng lớn tinh thể ma tố Băng, đồng thời vùng duyên hải nhận hạt phóng xạ và bức xạ từ các châu lục lân cận nên tinh thể Thủy và Ám khá phổ biến, còn các tinh thể ma tố khác khá hiếm, tinh thể Băng tập trung ở trung tâm lục địa còn Thủy và Ám phân bố chủ yếu ở vùng duyên hải

-Nơi đây là nơi sinh sống của chủng tộc Ma Nhân và Ma Thượng, đặc trưng sinh vật ở vùng biển sát lục địa là cá voi băng giá, tôm băng giá, hải cẩu gai,... với đặc điểm chung là dọc sống lưng mọc lên những cột băng sắc nhọn, riêng hải cẩu gai có các cột băng tập trung trên phần đầu còn ốc khổng lồ thì không mọc

-Còn vùng trung tâm lại tồn tại nhiều vùng núi hiểm trở và tại các vùng trũng lại có các sinh vật khổng lồ với bộ lông dày như gấu trắng khổng lồ hay diều hâu đỏ. Đặc điểm chung của các sinh vật ở nơi đây là có khả năng chịu lạnh cực hạn, lớp mỡ dày và lông dày đặc để giữ nhiệt

-Về thảm thực vật thì khu vực này khá nghèo nàn với rêu và địa y cực hạn bám trên đá hoặc bề mặt băng tuyết ổn định, một số loài tảo tuyết tạo thành vệt màu đỏ hoặc xanh lục nhạt trên tuyết vào mùa hè ngắn, gần vùng duyên hải có rong rêu, địa y chịu lạnh và khoai biển, còn trong vùng trung tâm tồn tại chủ yếu cây sương băng mọc gần các tinh thể ma tố Băng và cây hàn y mọc trên những vách núi cùng một số loài hoa mọc trên đầm lầy băng, đặc biệt nhất là loài hạ trùng đông thảo

-Phía Tây của rìa bản đồ là một lục địa sa mạc nóng rực với diện tích khoảng 1.900 triệu km². Đây là lục địa đặc trưng với sa mạc nóng chiếm 70 đến 75% diện tích toàn lục địa, bán sa mạc và ốc đảo chiếm 15 đến 20% diện tích toàn lục địa, phần còn lại khoảng 10% là các vùng muối và núi đá thấp

-Do sa mạc nóng chiếm ưu thế tuyệt đối nên nơi đây còn được gọi là Lục Địa Sa Mạc hay Vùng Đất Khô Hạn

-Nhiệt độ trung bình năm dao động từ 22 đến 28 độ C với độ ẩm chỉ khoảng 20 đến 35%, vào mùa hè nhiệt độ có thể lên tới 35 đến 42 độ C còn vào mùa đông nhiệt độ dao động từ 10 đến 16 độ C và có thể xuống dưới 0 độ vào ban đêm

-Nơi đây được xem là nơi có trữ lượng muối khoáng và phosphate cao nhất thế giới, vàng, bạc, uranium và kim cương ở mức trung bình đến cao, còn sắt, dầu mỏ cùng một số kim loại chuyển tiếp từ rất thấp đến thấp

-Biên độ nhiệt ngày và đêm cực lớn đã tạo điều kiện hình thành lượng lớn tinh thể ma tố Hỏa và Thổ vào ban ngày, tinh thể Băng hình thành cục bộ vào ban đêm ở vùng trũng và bóng râm, khi Hỏa và Băng gặp nhau sẽ tạo ra Sương Băng rồi chuyển thành Nước Ma tố Cao và cuối cùng kết tinh thành tinh thể Thủy ở các ốc đảo, Quang và Ám khá phổ biến còn các tinh thể còn lại khá hiếm, tinh thể Hỏa và Thổ tập trung ở trung tâm sa mạc còn Băng và Thủy phân bố ở vùng tối mùa đông cùng các ốc đảo

-Nơi đây là nơi sinh sống của tộc Livu, tộc Sancart và tộc Lewty, đặc trưng sinh vật ở vùng này là lạc đà thủy, rắn cát độc, rồng cát, bọ cạp khổng lồ, chuột túi cát,... đặc điểm chung của các sinh vật ở nơi đây là một là chứa bộ phận chứa nước ma tố cao, hai là có thói quen vùi mình trong cát vào ban ngày và săn mồi vào ban đêm, còn vùng bán sa mạc và ốc đảo tồn tại các loài bò sát có khả năng tự rút nước vào ban ngày và hấp thụ hơi nước từ môi trường khi mùa đông đến, các khu vực thảo muối do nồng độ muối cao nên hầu như không có sinh vật nào tồn tại được

-Về thảm thực vật thì khu vực sa mạc tồn tại các cây xương rồng khổng lồ, cây gai có thể cắm rễ sâu và một số loài hoa chịu nhiệt ban ngày chịu lạnh ban đêm thường mọc gần mỏ tinh thể Hỏa và Băng nên trở thành dấu hiệu nhận biết mỏ tinh thể, đặc biệt nhất là loài cây Lahun với thân dày và bộ rễ bó chặt vào tinh thể ma tố Thủy hoặc dòng nước ma tố cao nên có khả năng chịu nóng bằng cách hấp thụ hơi nước dựa vào đặc tính của tinh thể Thủy, quả của chúng là nguồn lương thực giàu dinh dưỡng, còn ở vùng bán sa mạc và ốc đảo tồn tại nhiều cây cọ cùng cỏ chịu hạn với thảm thực vật đa dạng nhất cả lục địa, riêng vùng thảo muối chỉ có một vài loài cây nhỏ với bộ rễ bám vào tinh thể ma tố và quặng muối

-Phía Nam của rìa bản đồ là một lục địa với những ngọn núi lửa vẫn còn hoạt động với diện tích khoảng 1.600 triệu km². Đây là lục địa đặc trưng với đất trống núi lửa, sa mạc núi lửa cùng với thảo nguyên tro và rừng chịu nhiệt thưa, trong đó đất trống núi lửa và sa mạc núi lửa chiếm 50 đến 55% diện tích toàn lục địa, thảo nguyên tro và rừng chịu nhiệt thưa chiếm 25 đến 30% diện tích toàn lục địa, phần còn lại khoảng 15 đến 20% là hồ axit và miệng núi lửa

-Do số lượng núi lửa còn hoạt động lớn nhất thế giới cùng môi trường khắc nghiệt nên nơi đây còn được gọi là Vùng Đất Địa Ngục hay Lục Địa Của Cái Chết

-Nhiệt độ trung bình năm dao động từ 18 đến 24 độ C với độ ẩm khoảng 35 đến 50%, vào mùa hè nhiệt độ có thể lên tới 30 đến 36 độ C còn vào mùa đông nhiệt độ dao động từ 8 đến 13 độ C

-Nơi đây được xem là nơi có trữ lượng các kim loại cao nhất thế giới như đồng, niken, crom, uranium, vàng, bạc và đá quý, tuy vậy dầu mỏ, kim cương cùng với các mỏ muối lại có trữ lượng từ rất thấp đến thấp

-Nơi đây là nơi có số lượng núi lửa còn hoạt động lớn nhất thế giới, bức xạ cùng với dung nham đã tạo nên môi trường thích hợp để tạo nên các tinh thể ma tố Hỏa và cũng do núi lửa hoạt động mạnh đã tạo ra một môi trường cách ly ánh sáng để tạo ra tinh thể ma tố Ám, cùng với đó đây là một trong những nơi có Trường Ý thức mạnh nhất thế giới đã tạo điều kiện cho sự hình thành các tinh thể ma tố Thổ, tất cả các tinh thể ma tố này tập trung chủ yếu ở các khu vực gần núi lửa. Do vậy nên nơi đây có trữ lượng tinh thể ma tố Hỏa, Thổ, Ám cao nhất thế giới, tuy nhiên tinh thể ma tố Điện vẫn khá phổ biến ở nơi đây còn các tinh thể ma tố khác thì khá hiếm có

-Nơi đây là nơi sinh sống của tộc người Lùn, tộc Sancart và tộc Livu, đặc trưng sinh vật ở vùng đất này là thằn lằn lửa, rồng núi lửa nhỏ, bọ cánh cứng dung nham, quạ tro, rắn tro nóng và chuột tro chịu nhiệt. Đặc điểm chung của các sinh vật ở nơi đây là có khả năng thích nghi với khói bụi cùng với lớp da chịu nhiệt cao hoặc sống dưới các lớp tro và có khả năng hấp thụ nhiệt. Một số loài ở khu vực đất trống núi lửa và sa mạc núi lửa lại có tập tính sống trong hang nóng, ở nơi đây chuỗi thức ăn ngắn và khắc nghiệt cùng với đặc tính môi trường khiến cho sinh vật ở đây có cơ bắp chắc khỏe cùng chân bám để leo lên đá nóng, cùng với đó là các sinh vật nhiễm ma tố như rồng núi lửa nhỏ hay thằn lằn lửa có khả năng phun ra luồng hơi nóng có thể lên tới 300 độ C hoặc tạo thành lớp đất đá để tăng khả năng chịu nhiệt và tránh thoát khỏi thú săn mồi. Còn ở các khu vực như thảo nguyên tro và rừng chịu nhiệt thưa như quạ tro, chuột chịu nóng, rắn tro nóng… những sinh vật ở khu vực này có khả năng lọc không khí, lớp da chịu nhiệt hoặc hoạt động vào ban đêm

-Về thảm thực vật thì khu vực này chứa nhiều cây chịu nhiệt và chịu đất axit với thân gỗ cứng, lá nhỏ hoặc gai, vỏ dày chống cháy, nấm dung nham, cỏ đen và một số loại cây bụi có khả năng uống hơi nước từ khí núi lửa hoặc hấp thụ khoáng trực tiếp


0