Chương 11: Các Chủng Tộc Phần 4
Di Sản Cuối Cùng
Mục lục
12 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 12/12 chương
-Tộc Đồng Nguyên sống trên Miền Đất Hứa, bám đồng cỏ ôn đới, savanna ôn hòa, đồng lúa hoang, rừng thưa lá rộng và hàng lang sông hồ chứ không kéo lều theo mùa như bộ lạc Du Mục, không hang núi như Sơn Nhân, không rừng kín như Mộc Linh
-Hình dáng gần người, da nắng, vai chắc vì cày và kéo, chân quen đất mềm màu mỡ , có khả năng cảm nhận và thấu hiểu về bản thân cao từ khi sinh ra
-Trường Ý thức ổn định cùng ánh sáng đầy đủ nên gần tinh thể Quang và Thổ phân bố đều, dễ khai thác, Thủy khá phổ biến ven sông hồ, Phong trung bình, Hỏa Ám Băng hiếm
-Sinh kế là lúa hoang, cỏ cao, cây ăn quả, cây có củ, chăn gần làng và thương mại đường bộ, mùa mưa cỏ bùng, mùa khô cỏ vàng nâu nhưng đất vẫn nuôi được người, sống thành làng trại, bờ rào, kho thóc trên đồng bằng, coi đất cày và bờ sông là của mình
-Có mặt cùng Hosius sống lâu, Lisius sọ lớn, Mộng Nguyệt, Ovilus và các đoàn Du Mục đến đổi hàng
-Người khác nhận ra họ qua đồng, khói bếp cố định và đồ đồng
-Mạnh vì lương thực, số dân, đường cái và sức bền trên đất màu nhưng yếu sa mạc muối, miệng núi lửa, băng cực, rừng sương
-Tộc Mộng Nguyệt không có thực thể nhưng lại có Trường Ý Thức , sống trong các biển tiềm thức và lấy ký ức làm thức ăn
-Chúng bơi trong lớp nhớ của sinh vật có Trường Ý thức, cắn những mảnh hồi ức rồi tan trở lại biển, không bám một lục địa xác thịt nhưng “bờ” biển tiềm thức dày nhất nơi Trường rối hoặc mơ nhiều, Những nơi có càng nhiều chủng tộc lại là nơi định cư lý tưởng cho chủng tộc này
-Một vài cá thể ở biển quá lâu đôi khi trôi vào chính cái tôi của người có tâm lý yếu, bám lấy chỗ trống trong ý thức và hình thành nên một nhân cách, người ấy vẫn một thân nhưng thêm một giọng, một nhớ, một muốn không phải của mình
-Mộng Nguyệt không thể cô lập Trường Ý Thức, chúng ăn nhớ và thỉnh thoảng trở thành “tôi” thứ hai của chính chủ thể
-Người khác nhận ra khi ký ức mất khúc, khi mơ bị gặm, hoặc khi một nhân cách lạ lên tiếng từ người vốn yếu lòng
-Mạnh vì không bị đao, lửa, đói xác thịt và đi được mọi nơi có tiềm thức nhưng yếu trước tâm lý vững, ý chí khép kín, và khi hết ký ức để ăn thì đói trong biển
-Tộc Hải Nhân Ngư là dân nước, nửa người nửa ngư, thân dưới là đuôi cá, tay cầm lao, sống ở Châu Lục Hải Đảo, Đại Dương Phương Nam và Đại Dương Vô Tận
-Thân trên gần người, hai tay chắc để đâm lao, thân dưới vảy và đuôi quẫy, da nhớt chịu mặn, mang thở dưới nước, bẩm sinh thân thuộc với tinh thể ma tố Thủy nên cảm được mạch nước, dòng hải lưu và mỏ Thủy ven đảo, rừng ngập mặn cùng ốc đảo biển tốt hơn hầu hết tộc cạn
-Trường Ý thức ổn định trong nước ấm ẩm càng làm Thủy tố bám chặt, Quang hỗ trợ nơi ánh sáng mặt, Phong Lôi nhờ gió biển, càng ra Đại Dương Vô Tận càng bám khoai biển, nấm đại dương và nước hơi khoáng từ lục địa núi lửa
-Sinh kế là lao cá rạn, cá khơi, rong, khoai biển và đường bơi giữa đảo, sống thành đàn dưới vịnh, rạn và hành lang hải lưu
-Có mặt cùng Ngọc Lam trên bờ, Artis và Caris ngoài khơi, Hosius cùng Lisius khi giao thương
-Người khác nhận ra họ qua đuôi cá, lao, mang và chỗ nước như lắng khi họ bơi qua
-Mạnh vì bơi xa, lặn, lao dưới nước và Thủy tố nhưng yếu trên đất khô lâu, băng cực, sa mạc
-Tộc Calam sống trên Bắc Lục Địa Băng Giá hay Vùng Đất Sương Giá, bám lãnh nguyên rêu, rừng taiga thưa, đầm lầy băng và duyên hải lạnh. Hình dáng gần người nhưng tai gấu, tay chân phủ lông dày, thân máu nóng chịu gió −18 đến −12 độ C mùa đông, nhiễm ma tố Băng nên da lạnh, hơi thở có sương, gần tinh thể Băng ở trung tâm lục địa và đầm lầy băng, Phong khá phổ biến vì gió lãnh nguyên, Thủy trung bình, Hỏa Quang Ám hiếm
-Tín ngưỡng thờ Băng Thần, sống thành đàn hoặc bộ lạc theo mùa săn
-Người khác nhận ra họ qua tai gấu, bàn chân lông và khí lạnh quanh người
-Mạnh vì chịu lạnh cực, nhiễm Băng và săn trên tuyết nhưng yếu nắng gắt, sa mạc, núi lửa, rừng nóng ẩm
-Tộc Caris giống như nước có Trường Ý thức, không xương không vảy không lao, chảy thành hình rồi loãng ra, sống ở Châu Lục Hải Đảo, Đại Dương Phương Nam và Đại Dương Vô Tận, bám sông, rạn, vịnh và cả vệt nước hơi khoáng gần lục địa núi lửa
-Trường Ý thức nằm trong khối nước nên chúng nghĩ theo dòng, nhớ theo xoáy, gần tinh thể Thủy hơn mọi tộc cạn, Quang khi mặt nước sáng, Ám khi chìm tầng tối
-“Ăn” bằng hòa vào dòng giàu dinh dưỡng, khoai biển tan, nấm đại dương và mạch Thủy, sống thành vũng–đàn, gặp nhau thì nhập, tách thì thành nhiều cái tôi nhỏ
-Người khác nhận ra khi nước đứng ngược sóng, khi lao của Hải Nhân Ngư đi qua một cột nước tự né, hoặc khi ý nghĩ ướt len vào đầu
-Mạnh vì chảy qua khe, không bị đâm chết như xác thịt, hợp nhất và tan nhưng yếu khi bị đun, đóng băng, hút cạn, rải muối đặc hay cô lập Trường khiến khối nước lơ lửng nhưng trên cạn khô chúng chỉ sống được lúc ẩm
-Tộc Artis là chủng tộc người có xúc tu, sống chủ yếu ở Đại Dương Vô Tận và Đại Dương Phương Nam, cũng xuất hiện quanh Châu Lục Hải Đảo.
-Thân người, tay chân, thêm xúc tu mọc từ lưng, vai hoặc sườn để bám đá ngầm, gò nấm đại dương, lưới khoai biển và mồi dưới nước hơi khoáng gần lục địa núi lửa, không đuôi cá như Hải Nhân Ngư, không phải nước có Trường như Caris, thở được cả khí lẫn lúc ngụp nhờ xúc tu và phổi
-Trường Ý thức ổn định mức người, gần Thủy nơi biển, chịu được vệt nước hơi axit và hơi nóng của Vô Tận hơn Ngọc Lam thuần đảo
-Sinh kế là thu hoạch khoai biển, nấm đại dương, săn khơi và bám gò ngầm, sống thành đàn xóm trên đá basalt nguội và thềm nông
-Có mặt cùng Hải Nhân Ngư cầm lao và Caris dạng nước
-Người khác nhận ra họ qua xúc tu ướt, mùi muối–khoáng và cách bám ngược sóng
-Mạnh vì bám, vươn, kéo mồi và sống được khơi “không bờ” nhưng yếu đất khô lâu, băng cực, sa mạc, rừng kín
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.