Chương 6: Các Vùng Biển Phần 1
Di Sản Cuối Cùng
Mục lục
12 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 12/12 chương
-Đại Dương Nam trải dài bao quanh Nam Lục Địa Băng Giá, tiếp giáp phần phía Nam của Lục Địa Núi Lửa và nối sang Đại Dương Đông ở phía Đông Nam cùng vùng biển phía Nam của Biển Trung Tâm, đây là một trong những đại dương lạnh và khắc nghiệt nhất hành tinh với diện tích khoảng 5,2 tỷ km² chiếm khoảng 14,6% tổng diện tích đại dương, đặc trưng bởi nước sâu, băng trôi quanh năm và ánh sáng yếu phần lớn thời gian trong năm
-Nước biển ở đây có mật độ khoảng 1,029 đến 1,032 g/cm³ cao hơn các đại dương nhiệt đới vì nhiệt độ thấp và độ mặn dao động 35 đến 38‰, nhiệt độ tầng mặt quanh năm rất lạnh, mùa đông băng biển phủ 90 đến 98% vùng sát Nam Lục Địa Băng Giá còn mùa hè tan một phần xuống còn khoảng 50 đến 65%, dòng hải lưu lạnh từ cực Nam chảy mạnh mang dinh dưỡng từ đáy lên một số khu vực tạo vệt phù du theo mùa nhưng nhìn chung năng suất sinh học vẫn thấp
-Đáy biển, đặc biệt khu vực Southern Abyss, giàu kết hạch mangan, đồng, niken, cobalt, lithium, đất hiếm và khí hydrate ở vùng nước sâu lạnh, song khai thác cực kỳ khó vì băng trôi, nhiệt độ thấp và áp suất lớn
-Thảm thực vật cực kỳ nghèo nàn: tầng mặt chỉ có tảo phù du lạnh và tảo băng tạo vệt xanh lục nhạt hoặc đỏ gạch trên băng mỏng vào mùa hè ngắn, gần duyên hải Vùng Đất Vĩnh Cửu có rong rêu chịu lạnh, địa y biển và khoai biển mọc thưa ở vùng nước nông đã tan băng, còn đáy sâu hầu như không có thực vật quang hợp
-Sinh vật đặc trưng là các loài chịu lạnh như cá voi băng, hải cẩu gai, tôm băng, cá sâu và sinh vật đáy tối, nhiều loài gần bờ Nam Lục Địa Băng Giá có cột băng sắc nhọn mọc trên lưng
-Đại Dương Tây trải dài giữa Lục Địa Sa Mạc ở phía Tây, Châu Lục Đại Lâm và Lục Địa Trung Tâm ở phía Đông, đồng thời tiếp giáp Quần Đảo Sương Mù ở phía Tây Bắc và hướng xuống Đại Dương Nam ở phía Nam, đây là một trong những đại dương rộng lớn nhất hành tinh với diện tích khoảng 6,8 tỷ km² chiếm khoảng 19% tổng diện tích đại dương, đặc trưng bởi mặt nước rộng, thủy triều rất mạnh và các dòng hải lưu lớn
-Nước biển ở đây có mật độ khoảng 1,026–1,028 g/cm³, độ mặn 33 đến 35‰ hơi thấp hơn các đại dương lạnh vì lượng mưa lớn từ Châu Lục Đại Lâm và Ẩn Địa đổ ra biển, nhiệt độ nước ấm hơn Đại Dương Nam nhưng lạnh hơn Biển Trung Tâm, dao động rõ theo mùa và theo vĩ độ từ vùng cận nhiệt đới gần Lục Địa Sa Mạc đến vùng ôn đới gần Châu Lục Đại Lâm
-Thủy triều mạnh kết hợp dòng hải lưu đã khuấy đảo tầng mặt, mang dinh dưỡng lên cao nên sản lượng thủy sản khá cao với cá lớn, mực, tôm và nhiều loài giáp xác, trong khi đáy biển giàu sa khoáng vàng cùng kim loại quý, muối biển và magnesium dễ khai thác ở vùng ven Lục Địa Sa Mạc
-Thảm thực vật biển phân bố theo vành đai gần bờ Châu Lục Đại Lâm và Miền Đất Hứa có rừng rong biển, cỏ biển và tảo lớn mọc dày nhờ nước ngọt từ sông và mưa nhiều; vùng giữa đại dương chủ yếu là tảo phù du tầng mặt, còn ven sa mạc Lục Địa Sa Mạc thực vật biển thưa thớt, chỉ còn tảo chịu mặn và một số loài rong cứng bám đá
-Sinh vật đặc trưng gồm các đàn cá khơi lớn, mực khổng lồ theo dòng hải lưu, tôm và giáp xác vùng thềm lục địa, cùng một số loài cá voi di cư giữa Đại Dương Tây và Biển Trung Tâm
-Đại Dương Trung Tâm (còn gọi là Biển Trung Tâm) nằm giữa các lục địa chính: phía Bắc giáp Châu Lục Đại Lâm và Lục Địa Sơn Thạch, phía Đông giáp Quần Đảo Ngọc Lục, phía Tây giáp Lục Địa Trung Tâm và một phần Đại Dương Tây, phía Nam tiếp cận Vùng Đất Địa Ngục, đây là vùng biển tương đối nông, ấm và giàu dinh dưỡng nhất hành tinh với diện tích khoảng 4,1 tỷ km² chiếm khoảng 11,5% tổng diện tích đại dương
-Nước biển ở đây có mật độ khoảng 1,024 đến 1,027 g/cm³, độ mặn dao động từ 32 đến 34 phần nghìn (thấp hơn các đại dương sâu vì mưa nhiều và dòng nước ngọt từ sông hồ các lục địa đổ vào), nhiệt độ ấm quanh năm nhờ vị trí trung tâm và dòng hải lưu trao đổi với các vùng biển xung quanh
-Thủy triều mạnh kết hợp đáy nông đã khuấy đảo dinh dưỡng lên tầng mặt, tạo điều kiện cho tảo phù du, rong biển và cỏ biển phát triển mạnh, từ đó nuôi dưỡng chuỗi thức ăn phong phú với cá nổi, cá đáy, giáp xác và nhiều loài nhuyễn thể
-Đáy biển giàu phosphate, sa khoáng vàng cùng kim loại quý ở mức trung bình đến cao, đồng thời là vùng có sản lượng thủy sản tiềm năng rất cao nhờ nước ấm, ánh sáng đầy đủ và dinh dưỡng dồi dào
-Thảm thực vật biển dày đặc hơn hẳn Đại Dương Nam: vùng thềm lục địa và vịnh nông có rừng rong lớn, thảm cỏ biển và tảo nâu, xanh lục, còn ngoài khơi chủ yếu là tầng tảo phù du dày
-Sinh vật đặc trưng gồm các đàn cá lớn, mực, tôm, cua và nhiều loài cá voi di cư, cùng hệ sinh thái ven bờ rất đa dạng
-Đại Dương Tây Bắc trải dài bao quanh Quần Đảo Sương Mù, tiếp giáp Đại Dương Tây ở phía Nam, Đại Dương Băng Giá và vùng biển phía Tây của Lục Địa Rừng ở phía Đông, đây là vùng biển ôn đới ẩm, nhiều sương mù và thủy triều mạnh với mặt nước tương đối rộng nhưng nhiều vịnh nông
-Nước biển ở đây có mật độ khoảng 1,023 đến 1,026 g/cm³, độ mặn dao động từ 30 đến 33 phần nghìn (thấp hơn mặt bằng chung vì mưa lớn và nhiều sông từ Ẩn Địa cùng Châu Lục Đại Lâm đổ ra biển), nhiệt độ mát lạnh quanh năm, tầng mặt thường bị lớp sương mù dày che phủ nên ánh sáng yếu hơn các đại dương nhiệt đới
-Vịnh lớn phía trong Ẩn Địa nông, giàu phù du và phosphate, sản lượng thủy sản rất cao với nhuyễn thể, cá nhỏ, rong biển và giáp xác; vùng khơi ngoài có cá lớn hơn theo dòng hải lưu nối sang Đại Dương Tây
-Thảm thực vật biển phát triển tốt ở vùng nông: rừng rong, thảm cỏ biển và tảo chịu ẩm mọc dày trong vịnh sương mù, còn ngoài khơi chủ yếu là tảo phù du tầng mặt
-Sinh vật đặc trưng gồm các loài thích nghi sương mù và nước mát, nhiều loài phát quang yếu hoặc ẩn mình trong lớp sương trên mặt nước
-Đại Dương Bắc Cực nằm phía Bắc Lục Địa Sơn Thạch và Bắc Lục Địa Băng Giá, tiếp giáp Đại Dương Băng Giá ở phía Tây Nam và Đại Dương Đông ở phía Đông, đây là đại dương cực Bắc lạnh nhất hành tinh, quanh năm bị băng biển và băng trôi bao phủ, ánh sáng yếu, gió cực mạnh và gần như không có tuyến hàng hải ổn định
-Nước biển ở đây có mật độ cao, độ mặn dao động khoảng 34 đến 36 phần nghìn, nhiệt độ tầng mặt quanh năm dưới điểm đóng băng của nước ngọt, mùa đông băng phủ 85 đến 95% mặt nước với bề dày 2,5 đến 4,5 m, mùa hè tan một phần còn 40 đến 55% với bề dày 1,0 đến 2,5 m, mật độ bao phủ trung bình năm khoảng 65 đến 70%
-Dinh dưỡng thấp, phù du chỉ bùng phát ngắn trong mùa hè cực, sản lượng thủy sản thấp đến trung bình với các loài chịu lạnh cực hạn
-Đáy biển sâu, lạnh, có tiềm năng khí hydrate và một ít kết hạch kim loại nhưng khai thác gần như không khả thi vì băng dày và thời tiết cực đoan
-Thảm thực vật biển cực kỳ nghèo nàn: chủ yếu tảo băng và tảo phù du lạnh tạo vệt màu trên băng mỏng vào vài tuần hè, gần duyên hải Bắc Lục Địa Băng Giá có rêu, địa y biển và một ít rong chịu lạnh, còn vùng trung tâm cực hầu như không có thực vật lớn
-Sinh vật đặc trưng gồm gấu trắng Vùng Đất Sương Giá ra khơi theo băng, sói băng ven bờ, hải mã gai, chim cánh cụt khổng lồ, cáo tuyết, cá lạnh và rồng băng nhỏ, hầu hết có lớp mỡ dày, lông dày hoặc cột băng trên
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.