Di Sản Cuối Cùng

Chương 7: Các Vùng Biển Phần 2

Đăng: 04/09/2026 06:55 1,465 từ 2 lượt đọc

-Đại Dương Băng Giá nằm phía Bắc Châu Lục Đại Lâm và Ẩn Địa, tiếp giáp Đại Dương Bắc Cực ở phía Bắc, Đại Dương Tây Bắc ở phía Tây và hướng sang vùng biển phía Bắc của Lục Địa Sơn Thạch, đây là vùng biển lạnh cận cực với diện tích khoảng 3,0 tỷ km² chiếm khoảng 8,4% tổng diện tích đại dương, đặc trưng bởi băng trôi, sương giá và gió mạnh quanh năm

-Nước biển ở đây có mật độ khoảng 1,028 đến 1,030 g/cm³, độ mặn dao động từ 34 đến 36 phần nghìn, nhiệt độ tầng mặt rất thấp, mùa đông băng biển phủ khoảng 85 đến 95% vùng sát cực với bề dày 2,5 đến 4,5 m, mùa hè tan còn khoảng 40 đến 55% với bề dày 1,0 đến 2,5 m, mật độ bao phủ trung bình năm khoảng 65 đến 70%

-Dòng hải lưu lạnh chảy dọc rìa lục địa, dinh dưỡng kém hơn Biển Trung Tâm nên sản lượng thủy sản chỉ ở mức trung bình với cá lạnh, hải sản chịu lạnh và một số loài lớn theo đàn di cư

-Đáy biển có tiềm năng khí hydrate ở vùng sâu lạnh, khai thác khó vì băng và thời tiết khắc nghiệt

-Thảm thực vật biển rất thưa: tầng mặt chủ yếu là tảo phù du lạnh và tảo băng tạo vệt màu trên băng mỏng vào mùa hè ngắn, gần bờ Lục Địa Rừng Già phía Nam có một ít rong chịu lạnh, còn vùng sát cực hầu như không có thực vật lớn

-Sinh vật đặc trưng gồm cá lạnh, hải cẩu, chim biển chịu lạnh và một số loài cá voi di cư giữa Đại Dương Băng Giá và Đại Dương Bắc Cực

-Đại Dương Đông trải dài bên ngoài Châu Lục Hải Đảo và Bắc Lục Địa Băng Giá, tiếp giáp Đại Dương Bắc Cực ở phía Bắc, Đại Dương Nam ở phía Nam và Biển Trung Tâm ở phía Tây qua các eo biển giữa các đảo, đây là một trong những đại dương sâu và rộng nhất hành tinh với diện tích khoảng 5,9 tỷ km² chiếm khoảng 16,5% tổng diện tích đại dương, đặc trưng bởi nước sâu, lạnh hơn Biển Trung Tâm và đáy biển giàu khoáng sản

-Nước biển ở đây có mật độ khoảng 1,028 đến 1,031 g/cm³, độ mặn dao động từ 35 đến 37 phần nghìn, tầng mặt ấm hơn về phía Châu Lục Hải Đảo nhưng nhanh chóng lạnh và tối khi xuống sâu, thủy triều và hải lưu mạnh dọc rìa quần đảo

-Vùng khơi và đáy sâu (Eastern Deep) giàu kết hạch mangan, đồng, niken, cobalt, lithium và đất hiếm, tiềm năng khai thác rất cao nhưng kỹ thuật khó vì độ sâu lớn; sản lượng thủy sản trung bình đến cao với cá sâu, sinh vật đáy và một số đàn cá khơi theo dòng chảy

-Thảm thực vật biển phân bố rõ theo độ sâu: gần Châu Lục Hải Đảo có rừng rong, cỏ biển và tảo nhiệt đới dày nhờ nước ấm ẩm, vùng giữa đại dương chủ yếu tảo phù du tầng mặt, còn đáy sâu hầu như không có thực vật quang hợp

-Sinh vật đặc trưng gồm cá sâu, sinh vật đáy phát quang, đàn cá khơi lớn, mực, cùng hệ sinh thái nhiệt đới phong phú ở thềm Quần Đảo Ngọc Lục như cá rạn, sinh vật san hô và các loài di cư giữa biển nông và biển sâu

-Đại Dương Vô Tận trải dài ngay dưới Lục Địa Núi Lửa, nối Đại Dương Nam và Nam Lục Địa Băng Giá ở phía Tây với Đại Dương Phương Nam cùng Đại Dương Đông ở phía Đông, đây là vùng biển rộng, sâu và bị xem là “không bờ” vì mặt nước mênh mông ít đảo, sóng lớn quanh năm và đường chân trời gần như không bị lục địa cắt

-Nước biển ở đây lạnh hơn Biển Trung Tâm nhưng ấm hơn Đại Dương Nam ở phía Tây, mật độ và độ mặn tăng dần khi đi về phía cực Nam, độ mặn khoảng 34 đến 37 phần nghìn, tầng mặt chịu ảnh hưởng khói bụi, tro núi lửa và dòng nước nóng từ Lục Địa Núi Lửa nên có nơi xuất hiện vệt nước ấm, hơi axit và giàu khoáng

-Chính lớp trầm tích núi lửa, khoáng chất và dòng dinh dưỡng từ đáy đã biến nơi đây thành vùng có sản lượng khoai biển và nấm đại dương cao nhất thế giới: khoai biển mọc thành thảm dày trên thềm đáy nông–trung bình quanh rìa Vùng Đất Địa Ngục và các gò ngầm; nấm đại dương thành rừng nấm dưới nước trên đá basalt nguội và miệng nhiệt dịch, nhiều loài phát sáng yếu, chịu được nước hơi nóng và hơi axit

-Nơi đây là nơi sinh sống của chủng tộc Artis, tộc Hải Nhân Ngư và tộc Caris

-Thảm thực vật còn lại chủ yếu là tảo phù du tầng mặt, rong chịu nhiệt gần bờ núi lửa và tảo băng về phía Nam Lục Địa Băng Giá

-Sinh vật đặc trưng gồm cá khơi lớn, mực khổng lồ, sinh vật đáy sâu cùng các loài ăn khoai biển và nấm đại dương

-Đáy biển sâu có kết hạch đa kim, đồng, niken, cobalt và khí hydrate, khai thác khó vì sóng và độ sâu

-Đại Dương Phương Nam nằm phía Nam Châu Lục Hải Đảo, tiếp giáp Đại Dương Đông ở phía Đông Bắc, Đại Dương Vô Tận ở phía Tây và hướng ra vùng biển mở phía Nam, đây là vùng biển rộng, tương đối ấm hơn Đại Dương Nam vì nhận dòng nước nhiệt đới từ Châu Lục Hải Đảo nhưng vẫn có sóng lớn và thềm lục địa bị cắt bởi nhiều đảo nhỏ

-Nước biển có độ mặn khoảng 33 đến 36 phần nghìn, tầng mặt ấm ẩm gần quần đảo, càng ra khơi và càng xuống sâu càng mát, thủy triều mạnh, hải lưu trao đổi dinh dưỡng giữa rừng ngập mặn Jade, Đại Dương Đông và Đại Dương Vô Tận

-Vùng thềm nông giàu phù du, rong và cỏ biển; ra khơi chủ yếu tảo phù du tầng mặt; đáy sâu có trầm tích và một phần kết hạch kim loại nhưng không giàu bằng Eastern Deep hay Đại Dương Vô Tận

-Thảm thực vật biển phong phú ở ven đảo: rừng rong, cỏ biển, tảo nâu – xanh lục và rạn san hô nước ấm, càng về phía Đại Dương Vô Tận càng thưa và chuyển sang rong cứng, tảo chịu khoáng và khoai biển

-Nơi đây là nơi cư trú của chủng tộc Hải Nhân Ngư và chủng tộc Artis

-Sinh vật đặc trưng gồm cá rạn, cá khơi, mực, giáp xác, sinh vật san hô và các đàn di cư giữa Châu Lục Hải Đảo với Đại Dương Đông

-Đại Dương Đông trải dài bên ngoài Châu Lục Hải Đảo và Bắc Lục Địa Băng Giá, tiếp giáp Đại Dương Bắc Cực ở phía Bắc, Đại Dương Phương Nam ở phía Nam và Biển Trung Tâm ở phía Tây qua các eo biển giữa các đảo, đây là một trong những đại dương sâu và rộng nhất hành tinh với diện tích khoảng 5,9 tỷ km² chiếm khoảng 16,5% tổng diện tích đại dương, đặc trưng bởi nước sâu, lạnh hơn Biển Trung Tâm và đáy biển giàu khoáng sản

-Nước biển có mật độ khoảng 1,028 đến 1,031 g/cm³, độ mặn dao động từ 35 đến 37 phần nghìn, tầng mặt ấm hơn về phía Châu Lục Hải Đảo nhưng nhanh chóng lạnh và tối khi xuống sâu, thủy triều cùng hải lưu mạnh dọc rìa quần đảo

-Vùng khơi và đáy sâu (Eastern Deep) giàu kết hạch mangan, đồng, niken, cobalt, lithium và đất hiếm, tiềm năng khai thác rất cao nhưng kỹ thuật khó vì độ sâu lớn; sản lượng thủy sản trung bình đến cao với cá sâu, sinh vật đáy và đàn cá khơi theo dòng chảy

-Thảm thực vật biển phân bố theo độ sâu: gần Châu Lục Hải Đảo có rừng rong, cỏ biển và tảo nhiệt đới dày nhờ nước ấm ẩm, vùng giữa đại dương chủ yếu tảo phù du tầng mặt, đáy sâu hầu như không có thực vật quang hợp

-Sinh vật đặc trưng gồm cá sâu, sinh vật đáy phát quang, đàn cá khơi, mực, cùng hệ sinh thái nhiệt đới ở thềm lục địa của Châu Lục Hải Đảo như cá rạn và sinh vật san hô

0