Chương 13: Chuông Câm Dưới Mái Rêu
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
18 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 18/18 chương
Câu nói của người áo đen buông xuống giữa làn mưa bụi, lạnh lẽo và sắc ngọt như một lưỡi dao cạo cứa qua cổ họng.
Hắn không đợi Vương Quang hay lão Cửu kịp hoàn hồn sau tiếng búa gõ khan trên mặt đe. Vừa dứt lời, bóng áo bào đen trơn nhẵn ấy liền xoay nửa vòng, tà áo rủ thẳng đuột lướt nhẹ qua cột lều rèn mốc thếch. Không một tiếng chân dẫm lên xỉ than, không một gợn nước bắn lên từ vũng bùn lầy, thân ảnh hắn chìm nghỉm vào màn sương xám xịt giăng ngang rặng dâm bụt, tựa như một giọt mực hòa tan vào dòng nước đục.
Trong túp lều rèn, lão Cửu vẫn ngồi bệt dưới đất, hai bàn tay thô ráp đầy sẹo bỏng bấu chặt lấy đống xỉ than đen kịt đến bật máu ở đầu ngón tay. Con mắt độc nhất của lão trợn trừng nhìn vào khoảng không gian vừa mất hút bóng người áo đen, miệng lẩm bẩm những tiếng rời rạc, vô nghĩa:
"Chuông gãy giá... Chuông đồng bản hương chưa từng gãy giá bao giờ... Trừ phi... trừ phi chân móng miếu bị nước ngầm xói rỗng..."
Vương Quang không nghe lão Cửu lẩm bẩm nữa.
Cái nóng rát bỏng từ ba đồng tiền kẽm trước ngực áo bỗng chốc nguội ngắt, nhường chỗ cho một luồng hơi lạnh thấu xương từ chiếc thẻ bài đồng thau của cụ Từ phả ra. Miếng kim loại áp sát vào mảng da thịt trước xương ức, buốt buốt như áp một mảnh gương vỡ vớt dưới đáy sông mùa cạn.
Hắn thò tay vào bọc áo, nắm chặt lấy chiếc thẻ bài. Mặt thẻ đồng xỉn màu run lên từng nhịp khe khẽ, rất nhỏ, tựa như mạch đập của một con chim sẻ non sắp chết cóng. Chữ Lệnh khắc chìm bằng son đỏ mờ đi trông thấy, phủ lên một lớp rỉ đồng xám xịt như màu bùn phù sa sông Đáy.
Chuông miếu có biến. Cụ Từ đang ở miếu.
Một nỗi bất an mơ hồ nhưng sắc nhọn đâm thẳng vào cuống họng Vương Quang. Hắn chẳng kịp chào lão thợ rèn lấy một câu, xoay phắt người lao ra khỏi túp lều lá cọ.
Đôi giày vải rách ngấm no nước bùn thúc mạnh lên lớp đường đất đỏ ven chân đê. Gió bấc thổi giật từng hồi từ phía ngã ba sông hắt thẳng vào mặt, làm vạt áo chấn thủ vá vai phần phật đập vào sườn. Vương Quang cắm đầu cắm cổ chạy. Hắn không nhìn lại phía sau, cũng không dám để tâm xem nhịp bước lẹp xẹp của thứ bám theo gót chân lúc trước có còn bám đuổi hay không. Trong đầu hắn lúc này chỉ vang lên tiếng cộc... cộc... quái gở trên mặt đe sắt nguội và hình ảnh cây kim sắt hình đuôi cá trên đĩa Thủy Bàn của Lưu Đôn sáng nay.
Đầu kim sắt chỉ thẳng về hướng miếu cổ.
Miếu Thành Hoàng làng Cổ Miễu ngự trên một gò đất cao hình mai rùa, nằm chơ vơ nơi khúc đê uốn cong sát mép nước. Ngôi miếu có từ đời nào chẳng ai trong làng nhớ rõ, chỉ biết ba gian tiền tế lợp ngói mũi hài rêu phong đã xỉn đen vì mưa nắng hàng trăm năm, rễ của hai cây đa cổ thụ trườn qua tường gạch thất như những con trăn gió khổng lồ, bám chặt lấy nền móng đá xanh.
Khi Vương Quang thở không ra hơi trèo lên đến dốc đê đầu làng, cảnh tượng trước mắt khiến bước chân hắn khựng lại.
Không có tiếng chuông đồng gióng giả cảnh báo như đêm qua.
Không có lấy một bóng người làng lai vãng quanh gò mai rùa. Bình thường vào những ngày giáp Tết thế này, đàn bà con gái trong làng vẫn mang chiếu hoa, mâm bồng ra giếng miếu lau rửa, cúng tiến gạo mới. Nhưng giờ phút này, cả gò đất vắng lặng như tờ, chỉ có tiếng gió đông bắc rít qua kẽ rễ đa nghe như tiếng ai đang hờ khóc nghẹn ngào.
Vương Quang bước qua cổng tam quan bằng gạch mục. Cánh cổng gỗ lim sơn then đã tróc lở từng mảng lớn, mở toang hoác đón từng luồng gió lạnh từ mặt sông thốc thẳng vào trong sân.
Sân miếu lát gạch bát tràng rêu phong trơn trượt.
Và ở ngay giữa khoảng sân rộng trước thềm tiền tế, một cảnh tượng quái dị đập thẳng vào mắt hắn.
Chiếc giá treo chuông bằng gỗ nghiến to bằng bắp đùi người lớn—vốn được chôn sâu nửa thước dưới thềm gạch bên tả gian tiền tế—không hề bị gãy vụn.
Các thanh giằng bằng gỗ nghiến đóng mộng nêm chặt chẽ vẫn còn nguyên vẹn, không có lấy một vết cưa, vết rìu đục hay dấu tích gãy đổ vì mục nát. Cột gỗ vẫn đứng thẳng tắp, sừng sững giữa gió mưa.
Nhưng quả chuông đồng nặng hai tạ treo trên xà ngang... đã rơi xuống đất.
Nó không rơi úp xuống, cũng không va đập vào đá nẹp thềm làm nứt vỡ miệng chuông. Quả chuông đồng xám xịt lộn ngược miệng lên trời, nằm lọt thỏm ngay giữa một hố đất sụt tròn xoe vừa vặn với kích thước vành chuông, sâu chừng một gang tay.
Miệng chuông ngửa lên như một chiếc bát khổng lồ hứng trọn làn mưa bụi tháng Chạp.
Và bên trong lòng quả chuông đồng ấy... ngập ngụa một lớp bùn non đen sì, quánh đặc bốc mùi phù sa tanh nồng.
Cụ Từ đang quỳ rạp dưới thềm gạch, hai tay ôm chặt lấy vành chuông đồng dính đầy bùn ướt. Tấm áo the thâm của người giữ miếu ướt sũng, rách tả tơi ở phần bả vai, để lộ ra những mảng da thịt nhăn nheo tím tái vì lạnh buốt. Mớ tóc búi củ hành sau gáy cụ xõa xượi, dính bết vào hai bên thái dương hõm sâu.
"Cụ Từ!" Vương Quang hốt hoảng lao tới, hai đầu gối quỳ sụp xuống lớp gạch bát tràng rêu trơn, đưa tay đỡ lấy cánh tay gầy guộc của ông cụ: "Cụ làm sao thế này? Chuông... sao chuông lại rơi thế này?"
Bàn tay cụ Từ lạnh ngắt như nắm vào một thanh sắt ngâm nước đá. Ông cụ khẽ giật mình, đôi mắt đục lờ mở hé ra nhìn Vương Quang. Khi nhìn rõ khuôn mặt tái mét của chàng thanh niên, trong đáy mắt cụ lóe lên một tia sáng yếu ớt, mệt mỏi:
"Cháu... cháu Quang đấy à..." Giọng cụ thều thào, hơi thở đứt quãng như sợi chỉ mục. "Lão... lão không giữ nổi... Ranh giới... ranh giới lở rồi..."
"Cụ nói gì cơ? Ranh giới nào lở?"
Cụ Từ run rẩy đưa bàn tay dính đầy bùn non chỉ vào quai treo chuông bằng đồng đúc hình đôi rồng chầu mặt nguyệt.
Vương Quang nheo mắt nhìn thật kỹ.
Quai chuông không hề đứt. Đoạn xích sắt to bằng ngón chân cái dùng để treo chuông vào xà ngang vẫn còn nguyên móc khóa.
Thế nhưng, ngay chỗ mối nối giữa xà gỗ nghiến và quai chuông đồng... có một cái lỗ tròn sâu hoắm xuyên thủng qua thân gỗ. Lỗ tròn ấy chỉ to bằng đốt ngón tay út, mép gỗ xung quanh đen thui như bị sắt nung đỏ đốt cháy xém, rỉ ra từng giọt nước đen sì bốc mùi khét lẹt.
Đó là dấu vết của một chiếc đinh sắt từng được đóng xuyên qua xà gỗ để cố định một thứ gì đó. Nhưng chiếc đinh lúc này đã không còn ở đó nữa. Nó đã bị rút đi, hoặc đã tự trồi ra khỏi thớ gỗ, để lại một vết thương đen ngòm.
"Sáng nay..." Cụ Từ khẽ ho sặc sụa, từng búng đờm pha lẫn nước phù sa đùng đục trào ra khóe miệng. "...sau khi lính của nha Giang Hà Đốc Vận gõ còi đồng ở bãi Cồn Cát, lão ở trong miếu bỗng nghe thấy tiếng đinh sắt rít lên từ trên mái ngói. Tiếng rít xé tai như tiếng người ta mài dao cạo vào đá buốt. Lão vừa chạy ra sân, định cầm dùi gióng ba hồi chuông xin Đức Thành Hoàng hiển linh giữ đất... thì chiếc giá chuông tự nhiên bốc khói."
Cụ Từ đưa bàn tay run lẩy bẩy bấu chặt lấy cổ tay áo chấn thủ của Vương Quang:
"Không phải giá gãy, cháu ạ. Là chuông không chịu phát ra tiếng nữa. Chuông đồng ngậm bùn sông... chuông câm rồi!"
Vương Quang rùng mình nhìn vào lòng quả chuông đồng đang ngửa mặt lên trời. Lớp bùn non đen ngòm bên trong sủi tăm li ti, từng hạt bọt khí vỡ ra phát ra tiếng lép bép khe khẽ.
Quả chuông của miếu Thành Hoàng vốn là pháp khí chấn giữ phong thổ ba dặm quanh làng Cổ Miễu. Khi chuông gióng lên, tiếng đồng vang vọng khắp ngã ba sông, ma quỷ cõi dưới không dám lộng hành, thủy quái dưới lòng lạch sâu không dám ngoi lên bờ cát. Nhưng giờ đây, chuông bị giật sập, miệng chuông ngửa lên hứng bùn sông Đáy, pháp khí chấn sơn giữ đất bỗng chốc biến thành một cái cối đá hứng trọn ô uế của dòng nước.
"Chiếc đinh..." Vương Quang siết chặt quai túi vải bên hông, giọng run run: "Có phải có kẻ đã đóng đinh sắt lên xà treo chuông không cụ?"
Cụ Từ nhắm nghiền hai mắt lại, lắc đầu một cách cay đắng:
"Lão không nhìn thấy kẻ đóng đinh. Lão chỉ thấy một vệt nước màu đỏ quạch như máu rỉ từ xà gỗ xuống đầu chuông. Nước ấy vừa chạm vào quai rồng, thần khí của Đức Thành Hoàng trên chuông lập tức bị ép lùi. Chuông rơi xuống đất, bùn từ dưới lòng đất tự đùn lên nuốt trọn lòng chuông..."
Cụ Từ mở mắt ra, nhìn xoáy vào ngực áo Vương Quang:
"Thẻ bài... Thẻ bài bản hương lão giao cho cháu... cháu mang ra đây xem."
Vương Quang vội vàng thò tay vào túi áo ngực, rút chiếc thẻ bài bằng đồng thau xỉn màu ra.
Vừa đưa ra khỏi lớp vải áo chấn thủ, bề mặt chiếc thẻ bài đồng bỗng nhiên biến đổi trước mắt hai người.
Vệt rỉ đồng màu xanh xám lúc trước—thứ vệt ố ngoằn ngoèo mà Vương Quang nhìn thấy ngoài Cồn Cát Mả Khách—lúc này không còn mơ hồ nữa. Lớp rỉ đồng đã ăn sâu vào thớ kim loại, hiện rõ mồn một thành hình một chiếc đinh dài nửa gang tay, bốn cạnh vát, thân khắc bảy rãnh sóng cuộn.
Và chiếc đinh rỉ đồng ấy... đang cắm ngập từ mép trên của thẻ bài đâm thẳng xuống chữ Lệnh khắc bằng son đỏ.
Nét son đỏ của chữ Lệnh bị vệt rỉ đồng xé làm đôi, tưa ra như một vết rách trên da thịt người sống.
"Đinh Khế..." Cụ Từ nhìn thấy vệt rỉ đồng, đồng tử mắt co rút lại dữ dội, lồng ngực lép kẹp rung lên bần bật: "Nó... nó cố định khế ước vào cả thần bài bản hương rồi!"
"Đinh Khế là gì hả cụ?" Vương Quang gặng hỏi, mồ hôi trán túa ra hòa lẫn với nước mưa lạnh buốt. "Ở lò rèn... lão Cửu bảo ba đồng tiền kẽm của bác Lượng là tiền đặt khế. Bác Lượng từng mang sắt dưới đáy vực lên lò rèn đòi đúc đinh bảy rãnh sóng... Chiếc đinh ở bậu cửa nhà bác ấy, chiếc đinh cắm trên trán Mộc Thai ngoài mả... có phải cùng một thứ với vết rỉ này không?"
Cụ Từ không trả lời ngay. Ông cụ thở dốc từng ngụm nặng nhọc, đưa ánh mắt đục ngầu nhìn qua khoảng sân gạch bát tràng vắng ngắt, nhìn thẳng vào gian hậu cung tối om om sau bức màn điều rách nát.
Nơi ấy, trên bệ đá hoa sen ngự trị ngai vị của vị thần hoàng giữ đất làng Cổ Miễu, một làn khói hương mỏng dính màu xám tro đang chầm chậm bốc lên. Nhưng khói hương không bay thẳng lên nóc miếu như thường lệ.
Từng luồng khói xám nặng trịch, là là sát mặt đất, trườn qua bậu cửa đá xanh gian tiền tế, bò men theo các kẽ nứt của sân gạch rồi tụ lại xung quanh quả chuông đồng ngậm bùn.
"Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá..." Cụ Từ cất giọng thì thào, âm thanh như phát ra từ kẽ răng run rẩy: "Đó là lệ của người trần. Nhưng người trần đâu có biết... trăm năm trước, khi triều đình sắc phong cho Đức Thành Hoàng bản hương cai quản ba dặm đất Cổ Miễu này... đã có một bản khế ước được lập ra giữa thần giữ đất và dòng nước ngoài kia."
Cụ Từ run rẩy nắm lấy bàn tay Vương Quang, sức bấu của những ngón tay gầy guộc mạnh đến mức làm móng tay cắm sâu vào da thịt hắn:
"Đức Thành Hoàng... ngài không phải là người hoàn toàn trong sạch trong món nợ này đâu, cháu ơi..."
Vương Quang sững sờ.
Lời nói của cụ Từ như một tiếng sét đánh ngang tai giữa buổi trưa mùa đông u ám.
Từ nhỏ đến lớn, dân làng Cổ Miễu ai cũng tin rằng vị thần ngự trong miếu cổ là đấng che chở cho xóm bãi, ngăn sóng dữ, cản dịch bệnh, bảo vệ cho trăm họ được yên ổn làm ăn. Vậy mà lúc này, chính người giữ miếu suốt bốn mươi năm lại thốt ra một câu nói làm lung lay toàn bộ niềm tin ấy.
"Cụ... cụ nói thế là ý làm sao?"
Cụ Từ chưa kịp đáp lời thì một tiếng động lạ bỗng vang lên từ phía gian hậu cung tăm tối.
Két... Két...
Tiếng gỗ cọ vào nhau khô khốc, rợn người.
Bức rèm điều che chắn trước khám thờ thần vị khẽ lay động, dù trong gian tiền tế lúc này hoàn toàn kín gió. Từ phía sau bức rèm đỏ thẫm cũ nát ấy, một bóng đen cao lớn, bất động từ từ in bóng lên lớp vải mỏng nhờ ánh sáng le lói của đôi ngọn nến sáp ong sắp tàn.
Bóng đen ấy không ngồi trên ngai.
Nó đang đứng thẳng dậy, đầu cúi thấp xuống, và ở ngay giữa trán của chiếc bóng in trên rèm điều... có một vật nhô ra nhọn hoắt, dài chừng nửa gang tay.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.