Nhân Gian Có Màn

Chương 12: Đe Lạnh Thổi Tàn Tro

Đăng: 09/09/2026 09:12 2,375 từ 6 lượt đọc

Âm thanh kim khí nện trên mặt thép không lớn, nhưng từng nhịp cộc... cộc... khô khốc như mũi dùi đục thẳng vào màng nhĩ.

Trong túp lều rèn bốn bề trống hoác, gió bấc thổi qua những kẽ lá cọ mục nát phát ra tiếng rít u u ghê rợn. Ngọn lửa than đá vừa mới hừng hực cách đây nửa tuần nhang nay đã biến thành một đống tro xám ngoét, lạnh ngắt như tro vùi đáy mộ. Khói than biến sạch, nhường chỗ cho thứ mùi bùn rười tanh tưởi, ngai ngái bốc lên nồng nặc từ từng kẽ nứt của nền đất rải xỉ.

Vương Quang đứng chôn chân bên cạnh bệ lò. Đôi giày vải ướt sũng của hắn như bị một lớp nhựa dính vô hình ghim chặt xuống đất. Hắn cúi đầu nhìn trân trối vào khoảng không gian chừng nửa bước chân trước mũi giày mình: cây búa tạ mười cân cán gỗ nghiến của lão Cửu vẫn nằm im lìm trên đống vảy sắt vụn. Cán búa lạnh ngắt, đầu búa vấy muội than đen kịt, không hề nhúc nhích lấy một phân.

Thế nhưng, tiếng nện búa vẫn vang lên rành rọt.

Cộc... Cộc... Cộc...

Âm thanh phát ra từ chính khối đe sắt nặng ba trăm cân đặt giữa gian lều.

Trên mặt đe phẳng lì mòn vẹt vì hàng vạn nhát búa qua ba đời thợ rèn, không có lấy một bóng người, cũng chẳng có bóng ma hay cánh tay vô hình nào lơ lửng. Nhưng cứ sau mỗi tiếng cộc trầm đục giáng xuống, lớp vảy sắt nguội bám trên mép đe lại nảy tưng lên từng đợt li ti, tựa hồ có một sức nặng ngàn cân đang dập thẳng từ trên không trung xuống mặt thép.

Lão Cửu đứng chết sững bên cạnh thùng nước tôi sắt.

Bộ ngực trần vạm vỡ phủ đầy sẹo bỏng của lão thợ rèn run rẩy từng chặp. Từng giọt mồ hôi nhễ nhại vừa túa ra vì sức nóng của than củi bỗng chốc đông cứng lại, lạnh ngắt như những hạt sương muối bám chặt trên làn da ngăm đen màu sắt nguội. Con mắt độc nhất của lão mở trừng trừng, tròng mắt đỏ ngầu vằn lên những tia máu, dán chặt vào mặt đe lạnh.

"Keng đe... không búa..." Lão Cửu thều thào qua kẽ răng run lẩy bẩy, hai bàn tay sần sùi như vỏ cây thông co quắp lại thành hình móng vuốt. "Tiếng đe rỗng... Có kẻ... có kẻ đang mượn đe của tao để dập khế!"

"Bác Cửu..." Cổ họng Vương Quang nghẹn đắng, hắn lùi lại nửa bước theo bản năng, bàn tay thò trong túi áo ngực vẫn nắm chặt lấy ba đồng tiền kẽm mẻ góc. Mặt đồng cọ vào mép thẻ bài Thành Hoàng, truyền đến một cảm giác vừa buốt giá vừa nhói buốt như kim châm. "Kẻ nào... đang gõ?"

"Tao không biết!" Lão Cửu gầm lên một tiếng rạn vỡ trong cuống họng, thanh âm méo xệch đi vì nỗi kinh hoàng tột độ. "Phường rèn sắt có lệ truyền đời: Đe đã hạ, lửa đã tàn, nếu nghe tiếng búa gõ khan giữa ban ngày... ấy là có tàn linh không chịu nhập thổ, mang theo oán thù về mượn hơi thép để đúc lại món nợ trần gian! Nhưng tao chưa từng rèn đinh cho nó... Tao chưa hề nhận ba đồng tiền kia mà!"

Lão vừa dứt lời, tiếng gõ trên mặt đe sắt bỗng nhiên biến đổi.

Nhịp búa không còn chậm rãi, đều đặn như lúc ban đầu nữa. Tốc độ nện xuống bắt đầu dồn dập, gắt gao như tiếng trống trận thúc quân lúc tàn canh:

Cộc! Cộc! Cộc! Cộc!

Mỗi nhát búa giáng xuống hư không, lớp xỉ than dưới chân Vương Quang lại rung rinh nhè nhẹ.

Từ chính giữa mặt đe sắt lạnh ngắt, một vệt nước đen ngòm bắt đầu rỉ ra. Vệt nước không chảy tràn lan, mà quánh đặc lại như keo dán, sủi tăm li ti rồi từ từ bốc lên một làn khói xám tro mỏng manh.

Khói bốc lên đến đâu, mùi bùn sông Đáy ngập ngụa xộc thẳng vào mũi đến đó. Trong làn khói mờ ảo lượn lờ trên mặt đe, một hình thù quái dị chầm chậm hiện rõ ra dưới ánh sáng nhờ nhờ của buổi sớm mai:

Đó là bóng hình một chiếc đinh sắt dài nửa gang tay.

Bốn cạnh vát sắc lẹm.

Thân đinh uốn lượn bảy rãnh rỉ sét sâu hoắm như bảy con sóng cuộn.

Và ngay trên đầu mũ đinh, một lỗ tròn nhỏ xíu bằng đầu que tăm đang từ từ thành hình, mép lỗ đen sì như bị lửa ma trơi thiêu đốt.

Bóng chiếc đinh hiện lên đến đâu, ba đồng tiền kẽm trong túi áo ngực Vương Quang bỗng nóng rực lên đến đấy. Hơi nóng không phải là hơi ấm chở che của thẻ bài Thành Hoàng, mà là cái nóng rát bỏng, tanh nồng của thứ kim loại bị ngâm hàng trăm năm dưới đáy bùn sâu vừa gặp phải tàn than đỏ. Da thịt trước ngực hắn bỏng rát, đau đến mức hắn phải cắn chặt răng, trán túa ra một lớp mồ hôi hột buốt lạnh.

"Vứt nó đi!" Lão Cửu bỗng quay phắt lại, hét lên the thé, tròng mắt độc nhất long sòng sọc nhìn vào ngực áo Vương Quang. "Thằng chép mướn! Vứt ba đồng tiền ấy ra khỏi người mau! Tiền ấy không phải tiền mua đinh... Ba đồng này là tiền đặt khế! Thằng Lượng mang sắt ngậm nước về đây đặt cọc, tao không nhận, nhưng sáng nay mày đã cầm lấy ba đồng tiền ấy... Mày đã nhận lời mang tiền đến lò rèn này!"

Đầu óc Vương Quang như bị ai cầm chày nện mạnh một nhát.

Ba đồng tiền này chưa bao giờ là tiền trả nợ.

Đêm qua, Trần Khắc Lượng tan thành bùn đất trước bậu cửa sau nhà họ Trần. Nhưng trước khi tan rã, người thợ đóng thuyền vẫn nhớ món nợ ba tiền đồng chưa dứt với lò rèn đầu ngõ.

Một kẻ đã chết không thể tự tay ký kết với người sống. Nhưng khi ba đồng tiền kẽm ấy được đưa qua tay người vợ, rồi chính tay Vương Quang—một kẻ phàm trần bằng xương bằng thịt, quanh năm làm nghề chép mướn chuyên lập văn tự khế ước—cầm lấy và mang tới đặt trước mặt lão thợ rèn... bản giao kèo đúc đinh dang dở từ ngày hai mươi tám tháng Chạp đã vô tình bị nối lại.

Không phải Lượng quay về đòi nợ.

Mà là món nợ chưa thành này... đang mượn tay Vương Quang để ép lò rèn phải hoàn tất chiếc đinh sắt.

"Bác Cửu, cháu không biết..." Vương Quang run rẩy thò tay vào túi áo định móc ba đồng tiền vứt xuống đất.

"Đừng chạm tay trần vào!"

Lão Cửu gầm lên, bàn tay thô ráp đầy sẹo bỏng vung phắt ra tóm lấy chiếc kìm sắt dài hai thước trên bệ lò. Lão bổ nhào tới, định dùng đầu kìm sắt hất văng bọc áo của Vương Quang ra.

Nhưng lão chưa kịp bước tới bước thứ hai thì tiếng búa trên mặt đe đột ngột im bặt.

Một sự tĩnh lặng chết chóc bao trùm lấy túp lều rèn.

Gió bấc ngừng thổi. Lá cọ trên mái lều thôi đung đưa. Ngay cả tiếng sóng sông Đáy ì ầm ngoài bãi bồi dường như cũng bị một bức màn vô hình ngăn cách lại ngoài bờ đê.

Trên mặt khối đe sắt nặng ba trăm cân, vệt nước đen ngòm sủi bọt đã biến mất. Chiếc bóng hình chiếc đinh bảy rãnh sóng cũng tan biến vào làn sương sớm xám xịt.

Thay vào đó, trên mặt đe nhẵn thín đóng một lớp sương muối mỏng dính, xuất hiện ba chữ khắc chìm sâu hoắm vào thớ thép nguội.

Nét chữ ngoằn ngoèo, méo mó như được cào xé bởi những chiếc móng tay gãy vụn, bên trong rãnh chữ đọng đầy phù sa đen nhánh bốc mùi tanh nồng:

Trần... Khắc... Lượng.

Ba chữ ấy hiện lên rành rành giữa thanh thiên bạch nhật, như một bản cáo thị của cõi chết đóng triện thẳng vào lò rèn trần gian.

Lão Cửu khựng lại giữa chừng, chiếc kìm sắt trên tay rơi đánh keng một tiếng chói tai xuống đống xỉ than. Hai đầu gối của người thợ rèn vạm vỡ mềm nhũn ra, lão lảo đảo ngã ngồi bệt xuống đất, con mắt độc nhất trợn trừng nhìn vào ba chữ trên mặt đe, môi mấp máy run rẩy không thành tiếng:

"Tên... Tên khắc lên đe... Nó... nó để lại một mạng ở cái lò rèn này rồi..."

Vương Quang nén cơn đau rát trước ngực, bước dè dặt lại gần chiếc đe sắt. Hắn là kẻ làm nghề chép sổ sách ở huyện nha, chữ nghĩa đối với hắn là cơm ăn áo mặc hằng ngày. Hắn từng thấy tên người ta được ghi trên sổ đinh, trên văn tự bán ruộng, trên trát đòi nợ, thậm chí sáng nay vừa thấy tên Lượng bị gạch trên sổ hộ tịch của Đỗ thư lại.

Nhưng hắn chưa từng thấy tên một người sống—hay một người vừa chết—bị khắc sâu vào thép nguội như thế này.

Nét khắc sâu gần nửa đốt ngón tay. Thép của đe rèn là loại sắt già tôi luyện qua hàng ngàn độ lửa, búa tạ nện trăm năm chỉ để lại vết lõm nông, vậy mà ba chữ này lại như bị một ngón tay cào thủng một cách dễ dàng.

"Bác Cửu... ba chữ này rốt cuộc là sao?" Vương Quang thì thào hỏi, lồng ngực đập thình thịch từng hồi nặng nhọc.

Lão Cửu ngồi bệt dưới đất, hai tay ôm lấy đầu, mớ tóc hoa râm bù xù dính bết bụi than rũ rượi. Giọng lão nghẹn lại, khàn đặc như tiếng đá cọ vào cát vụn:

"Nó khắc tên lên đe... tức là khế đã thành. Khế này không phải người với người lập, mà là người với lò rèn lập. Thằng Lượng chết đuối ở ngã ba sông, xác vớt lên không thấy, mộ đào lên rỗng tuếch... Mẩu sắt ngậm nước hôm hăm tám nó mang tới đây, không biết từ đâu ra, nhưng người trong nghề rèn sông Đáy chỉ cần nhìn là biết: sắt ấy không rèn cho người sống. Rèn nó là rước họa."

Lão ngẩng phắt đầu lên nhìn Vương Quang, con mắt độc nhất vằn lên một nỗi sợ hãi hoang mang:

"Nhưng hôm ấy tao đã đuổi nó đi. Tao không rèn. Vậy thì... chiếc đinh cắm ở bậu cửa nhà nó đêm qua, với chiếc đinh ngoài mả... là ai rèn cho nó? Đinh ấy làm ra không phải một cái... Nó muốn đúc bao nhiêu cái cả thảy?"

Câu hỏi của lão Cửu rơi thõng vào khoảng không gian lạnh ngắt, khiến gáy Vương Quang lạnh buốt.

Đúng thế.

Nếu lão Cửu chưa từng nhận rèn, vậy chiếc đinh cắm ngập bậu cửa đá nhà họ Trần từ đâu ra? Chiếc đinh rỉ nước đỏ cắm giữa trán khúc Mộc Thai ngoài cồn cát từ đâu ra?

Hai chiếc đinh ấy giống hệt nhau từ kích thước đến bảy rãnh sóng uốn lượn. Nếu chúng được rèn từ cùng một thỏi sắt ngậm nước... vậy kẻ nào đã đứng trước bễ than để tôi đỏ chúng? Và nếu một chiếc cắm ở bậu cửa, một chiếc cắm ngoài mộ hoang... thì chiếc đinh thứ ba, thứ tư đang nằm ở đâu trong cái làng Cổ Miễu này?

Hắn nhớ lại chiếc Thủy Bàn của viên Biền sứ Lưu Đôn sáng nay: chiếc kim sắt hình đuôi cá xoay tít mù rồi cắm phập về phía ngôi miếu cổ đầu làng.

Miếu Thành Hoàng...

Chẳng lẽ nơi ấy cũng có một chiếc đinh?

Keng...

Một tiếng động kim khí rất khẽ bỗng vang lên từ bên ngoài ngưỡng cửa rải xỉ than.

Vương Quang và lão Cửu giật mình cùng quay phắt đầu nhìn ra cửa lều.

Giữa màn mưa phùn lất phất của buổi trưa mùa đông, một bóng người đang lặng lẽ đứng tựa vào cột tre ngả màu mốc thếch.

Kẻ đó khoác trên mình bộ áo bào đen trơn nhẵn không thấm nước, vạt áo rủ thẳng đuột không hề lay động trước gió bấc. Bên hông hắn, chiếc gương đồng hình bát giác và thanh đoản đao bọc vỏ da cá đuối đen tuyền vẫn treo lủng lẳng.

Người áo đen trên cây gạo ngoài Cồn Cát Mả Khách.

Hắn đã rời bỏ bãi tha ma từ lúc đám lính thủy của nha Đốc Vận kéo tới, vậy mà lúc này, hắn lại xuất hiện ở ngưỡng cửa lò rèn này như một bóng ma không vết tích.

Đôi mắt sâu thăm thẳm không chút gợn sóng của người áo đen lướt qua ba chữ khắc chìm trên mặt đe sắt, rồi dừng lại trên khuôn mặt tái mét của Vương Quang. Hắn không bước vào trong lều, chỉ đứng ngoài làn mưa bụi, thanh âm trầm đục khô khốc như tiếng đá cọ vào nhau chậm rãi cất lên:

"Đứng đấy mà hỏi thì được cái gì?"

Lão Cửu giật nảy mình, con mắt độc nhất trợn trừng nhìn người áo đen, giọng run lẩy bẩy:

"Mày... mày là ai?"

Người áo đen không liếc nhìn lão Cửu lấy nửa mắt. Hắn từ từ nâng bàn tay phải lên, ngón tay thon dài trắng bệch như màu sáp nến khẽ chỉ về phía con đường mòn dẫn ngược ra bờ đê Cổ Miễu.

Ánh mắt hắn ghim chặt vào chiếc áo chấn thủ vá vai của Vương Quang, nơi cộm lên hình dáng chiếc thẻ bài đồng thau của cụ Từ, rồi buông ra một câu lạnh ngắt:

"Chuông miếu Thành Hoàng... vừa gãy giá treo rồi."

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3