Những Người Còn Ở Lại

Chương 12: Nhật Nam

Đăng: 12/09/2026 09:45 1,972 từ 1 lượt đọc

Tập hồ sơ khép lại bằng một tiếng bộp nặng trịch. Mớ bụi giấy mủn bay là tà trong quầng sáng xiên qua cửa chớp, rụng lả tả xuống mặt bàn gỗ lim.

Minh Anh khoanh tay trước ngực, mắt vẫn găm vào mẩu giấy note dán mép bệnh án. Gió chiều lùa qua khe cửa mang theo hơi nóng rát, nhưng không khí trong gian phòng Công đoàn lại đặc quánh.

"Nguyễn Nhật Nam..." Nó lẩm bẩm cái tên, giọng chùng xuống. "Anh có nhớ anh Nam không?"

Tôi lắc đầu.

Ký ức năm mười hai tuổi của tôi chỉ là những buổi trưa trốn nhà đi bắn chim ngoài bãi cỏ, là con mương sau nhà nước dâng tràn bậu cửa sau mấy ngày mưa dầm dề khiến mẹ phải kê chân tủ lạnh lên gạch xỉ. Mọi thứ trôi qua êm ru trong mắt một đứa trẻ. Bố bắt đầu đi sớm về khuya, những bữa cơm tối vắng tanh, và tôi thì chẳng bao giờ buồn hỏi lý do.

"Nhà anh Nam ở tít cuối ngõ đất sát mép kênh cũ," Minh Anh với chiếc túi xách khoác lên vai. "Hồi cấp hai tôi hay đi tắt qua đấy sang nhà bà ngoại. Đi, tôi chở qua."

Trả lại chiếc chìa khóa cho bác bảo vệ già, hai đứa dắt xe ra cổng.

Nắng chiều ngả sang màu vàng quạch. Con đường rải nhựa asphalt phẳng lì lùi lại sau lưng khi xe Minh Anh bẻ lái ngoắt vào con ngõ đất.

Lối đi chỉ vừa hai thân xe tránh nhau, mặt đất nện lồi lõm sống trâu, đọng những vũng nước mưa tù đọng ngả màu váng đỏ. Càng tụt sâu xuống mép bãi bồi, không khí càng ẩm sực mùi bùn ngấu và rơm rạ mục. Hai bên bờ rào, cỏ dại ngập đến thắt lưng xen lẫn những rặng chuối rách tơi tả sau mấy cơn gió quẩn.

Minh Anh rà phanh trước một căn nhà cấp bốn lợp ngói vảy đã đen sì vì rêu.

Căn nhà nằm lọt thỏm dưới một hõm đất trũng, quanh sân trồng vài luống rau tàu bay còi cọc và hai gốc ổi khẳng khiu. Hàng rào tre khô cắm tạm nghiêng ngả, cánh cổng gỗ mọt khép hờ, không có ổ khóa.

Từ gian nhà chính, tiếng đục gỗ gõ cộc... cộc... đều đặn dội ra. Mùi gỗ thông mới cưa quyện với mùi keo dán sắt nồng nặc bốc thốc qua hiên.

Minh Anh chống chân xe máy, với tay gõ vào cọc rào tre:

"Anh Nam ơi, có nhà không?"

Tiếng kim loại miết vào gỗ ngưng bặt.

Một nhịp lặng kéo dài. Rồi từ trong bóng tối của gian nhà gạch, tiếng bước chân kéo lê loẹt xoẹt bắt đầu dội lại, đi kèm tiếng nạng gỗ nện xuống nền gạch hoa từng nhịp ngắt quãng: cộc... cộc...

Cánh cửa gỗ mở hé.

Người đàn ông bước ra bậc thềm. Anh ngoài ba mươi tuổi, mặc chiếc áo phông xám cáu bẩn mùn cưa, quần vải bộ đội rộng lùng bùng. Ống quần bên phải buông thõng, bàn chân vẹo hẳn sang một bên, treo lơ lửng trên mặt gạch. Toàn bộ thân trên của anh gồng cứng, tựa vào chiếc nạng gỗ bọc đệm cao su tì sát nách phải. Gương mặt Nam gầy rộc, hóp sâu ở hai gò má, nhưng cặp mắt đen lại phẳng lặng đến lạ lùng.

Thấy Minh Anh, khóe miệng anh khẽ nhếch lên:

"Minh Anh đấy à? Lâu lắm mới thấy mò xuống xóm bãi."

"Em chào anh," Minh Anh lách chân qua mép rào, nghiêng người để lộ tôi đứng phía sau. "Em đưa người quen qua thăm anh một lát."

Ánh mắt Nam dời sang tôi. Đôi đồng tử hơi co lại dưới quầng sáng vàng vọt của bóng chiều. Anh không hỏi, chỉ nhìn thẳng vào những đường nét trên trán và sống mũi tôi.

Cái nhìn soi kỹ đến mức khiến tôi lạnh dọc sống lưng.

"Khang..." Giọng anh khàn đặc, có chút chần chừ. "...Khang con thầy Thành phải không?"

Cổ họng tôi nghẹn đắng, hàm răng tự nhiên cắn chặt lại:

"Dạ. Em chào anh Nam."

"Vào nhà đi em, ngoài này gió bãi độc lắm," Nam gạt chiếc then cửa sang bên, chống nạng xoay người đi trước.

Mỗi nhịp bước là một lần bả vai anh phải giật nảy lên để quăng thân người về phía trước. Chiếc chân bại liệt quét lẹt xẹt một đường mờ trên lớp bụi gạch.

Tôi bước qua bậu cửa gỗ mọt, hai bàn tay thọc sâu vào túi quần, lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi lạnh.

Căn nhà trống huếch nhưng ngăn nắp. Đồ đạc trong gian nhà trên chẳng có gì đáng giá ngoài chiếc bàn thợ dài ngoằng kê sát song cửa sổ nhìn ra bờ chuối. Trên mặt gỗ thông ép rải rác kìm bấm, dao trổ, mỏ hàn chì và hàng chục mô hình nhà rường cổ thu nhỏ tinh xảo ghép bằng tăm tre đã đánh bóng.

"Anh làm gia công cho mấy xưởng lưu niệm trên thành phố," Nam kéo hai chiếc ghế đẩu gỗ lại gần bàn nước, giải thích khi thấy tôi nhìn đống mô hình dang dở. "Ngồi đi hai đứa. Nước chè nhà tự hái, hơi chát tí."

Anh gác nạng vào chân tường, bám mép bàn lựa thế ngồi xuống. Cái khớp háng bên phải dường như cứng đờ, mỗi cử động co duỗi đều khiến khóe mắt anh giật nhẹ một cái.

Ba chiếc chén sứ Hải Dương men xanh viền rạn được rót đầy. Khói chè bốc lên ngai ngái, hơi ấm phả nhè nhẹ vào mặt.

"Hôm đưa tang thầy Thành, anh không sang được," Nam nâng chén nước, mắt nhìn ra rặng chuối đang xào xạc ngoài vườn. "Trở trời, cái chân giở chứng nhức buốt từ trong tủy. Đành nhờ người cầm hộ nén nhang sang thắp cho thầy. Thầy đi nhanh quá..."

"Bố em bị đột quỵ lúc nửa đêm," tôi đáp, ngón tay miết chặt lên vành chén nóng rẫy. "Đến viện thì người đã lạnh rồi."

Nam im lặng. Ngón tay trỏ chai sần gõ nhè nhẹ lên mặt bàn gỗ tạp:

"Thầy Thành tốt bụng lắm. Hồi anh nằm bẹp ở viện tỉnh, cái chân nát bấy, nhà rách đến mức mẹ tính bán nốt mảnh vườn cắm dùi để gom tiền mổ. Cứ chiều tan tiết dạy là thầy lại lóc cóc đạp xe mười mấy cây số lên khoa chấn thương. Thầy mang cho mấy cuốn sách cũ, rồi thầy lặn lội đi tìm mối xin mớ tăm tre phế phẩm này về tận mép giường bệnh bày cho anh ghép từng cái hàng rào, cái cổng làng. Thầy bảo: 'Chân hỏng thì tay còn. Đừng để cái đầu mình nó què theo cái chân'. Không có thầy vực dậy dạo ấy, chắc giờ anh vẫn là cục thịt nằm thối rữa ở cái góc nhà này."

Cổ họng tôi nghẹn ứ lại, đắng ngắt.

Mùa hè năm mười hai tuổi bỗng dội về, rõ mồn một như một nhát dao chém ngang ngực. Những buổi chiều muộn ngồi trơ khấc trước mâm cơm lồng bàn, tiếng mẹ thở dài thườn thượt sau mỗi lần cắm lại nồi cơm điện đã nguội tanh. Tôi từng ôm cái cặp sách rách góc, ngồi co ro ngoài bậc thềm nhìn ra đường làng tối mịt, bụng sôi cồn cào và hậm hực rủa thầm người bố bỏ bê gia đình vì những chuyện bao đồng ngoài thiên hạ.

Hóa ra những buổi chiều ông về muộn với vạt áo sơ mi ướt đẫm mồ hôi và vệt dầu xích xe đạp bám đen ống quần... là để kéo một thằng nhóc mười bảy tuổi ra khỏi bờ vực tự tử.

Tôi đặt mạnh chén nước xuống bàn. Nước chè sánh ra một vệt vàng ệch trên mặt gỗ.

"Anh Nam... Chiều nay em lục tủ hồ sơ Công đoàn trên trường cũ, thấy bệnh án năm ấy của anh."

Động tác xoay bao thuốc lá trên tay Nam dừng bặt. Anh ngước lên nhìn tôi, gương mặt gầy guộc phẳng lặng, không chút bất ngờ.

"Bố em có dán một mẩu giấy note," tôi gằn từng chữ, quai hàm bạnh ra. "Bố ghi là lỗi tại ông ấy không kiểm tra hết các nhà trước khi mở cổng xả. Có phải vì bố em vội mở cống thoát nước mà anh bị xe tông tàn phế không?"

Minh Anh ngồi bên cạnh khẽ giật mình, mắt nhìn dán vào sườn mặt tôi.

Gian nhà cấp bốn bỗng chìm nghỉm trong tĩnh mịch. Gió chiều thổi thốc qua khe liếp rách, cuốn theo mùi bùn ứ tanh nồng từ bờ kênh bốc lên.

Nam không trả lời ngay. Anh rút một điếu Thăng Long, quẹt que diêm mồi lửa. Đốm đỏ bập bùng soi rõ những nếp nhăn già nua trước tuổi quanh khóe mắt. Anh rít một hơi sâu, khói thuốc phả ra che lấp khoảng trống giữa hai đứa.

"Không phải tại bố em đâu, Khang."

"Nếu không phải thì tại sao ông ấy phải tự đày đọa mình suốt mười lăm năm?" Tôi chồm người tới mép bàn, giọng nghẹn lại trong cơn bức bối. "Bố em ghi chép từng đợt anh đi khám, gửi tiền qua ông Minh, tìm mối bán đồ thủ công cho anh... Ông ấy sống như một kẻ đang còng lưng trả nợ máu!"

Tàn thuốc rụng xuống mép đĩa sứ. Nam nhìn vệt xám tro tàn lụi dưới chân đĩa, giọng đều đều như đang kể về một kiếp sống khác:

"Đêm ấy mưa như trút nước. Đập đất tạm của dự án Tân Minh phía trên bị bục, bùn đỏ với phế thải tràn ộc vào xóm trũng như vỡ bờ. Loa xã hú liên hồi giục sơ tán. Bố em với mấy bác dân phòng lội nước ngang thắt lưng đi đập cửa từng nhà. Lúc cả xóm chạy dạt được lên mặt đường nhựa, anh mới nhớ ra lọ thuốc trợ tim của bà ngoại vẫn vứt trên nóc tủ gác-măng-giê. Bà đang thở dốc, mặt tím tái. Anh giằng tay mẹ, cắm đầu lội ngược vào dòng nước."

Nam đưa bàn tay thô ráp xoa nhẹ lên khớp gối vẹo vọ dưới lớp vải quần bạc màu:

"Lúc anh vớ được lọ thuốc chạy ra đến ngã ba công trường thì nước đã dâng tới ngực. Để cứu trạm xá với dãy tập thể giáo viên phía sau đang ngập lún, tổ dân phố bắt buộc phải mở cánh cống phụ cho nước tràn qua bãi đất trống. Nước xiết quá, anh bị cuốn ngã dúi dụi, chân kẹt cứng vào đống thép gai chìm dưới bùn. Đúng lúc ấy con xe tải chở đá hộc trên đê trượt bánh vì sạt lở, lao thẳng xuống taluy..."

Nam ngậm chặt điếu thuốc, mắt nhìn thẳng vào tôi qua làn khói mỏng:

"Bố em nhận trách nhiệm vì ông ấy là người trực tiếp cầm xà-beng cạy khóa cống xả, và ông ấy nghĩ giá như mình rà soát kỹ thêm một lượt thì đã giữ được anh lại. Nhưng cái đêm mưa gió bùn lầy ấy, ai mà biết được có thằng nhóc mười bảy tuổi dám liều mạng quay lại lấy thuốc? Dự án làm ẩu, trời đổ lũ lớn, đường sá tan hoang... Đổ hết lên đầu một người mở cống sao đặng?"

Anh dừng lại một nhịp dài, tàn thuốc cháy rực lên rồi lụi dần:

"Bố em từng nói với anh rồi. Chuyện hôm đó, không phải lỗi của một người."


0