Chương 20: Đối Chất, Lý Thế Dân Hoàn Dương
Đại Mộng-Tây Du Ký
Mục lục
20 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 20/20 chương
Hồn phách Thái Tông mờ mịt rời khỏi lầu Ngũ Phượng, trông thấy đội quân ngự lâm đang hộ giá, chuẩn bị đưa xa giá ra ngoài săn bắn.
Thái Tông vui vẻ đi theo. Nhưng đi được một lúc, người ngựa phía trước bỗng chẳng còn thấy đâu, bốn bề chỉ còn đồng hoang cỏ dại, duy có một mình ngài lạc bước giữa chốn hoang vu.
Đương lúc kinh hãi, loay hoay tìm đường, chợt nghe phía bên kia có người lớn tiếng gọi:
"Đại Đường hoàng đế! Ngài đi đâu thế? Ngài đi đâu thế?"
Thái Tông nghe tiếng, ngẩng đầu nhìn lên, chỉ thấy người ấy đầu đội mũ thâm, dải mũ phất phới, thắt lưng đeo đai tê giác nạm vàng, tay cầm hốt ngọc đầu tường thụy, thân khoác bào nhung ánh lên sắc dạ quang.
Chân mang đôi giày hoa, đạp mây cưỡi gió, tay cầm một quyển sổ, chuyên chép việc chết, ghi việc sống.
Tóc mai hai bên buông lòa xòa, chòm râu quanh mép mọc dọc ngang. Khi còn sống, người ấy từng làm tể tướng trong triều, nay xuống âm phủ, phụng sự Diêm Vương.
Thái Tông vừa đến gần, người kia liền quỳ xuống bên đường, cung kính tâu:
"Đệ hạ, xin thứ lỗi cho hạ thần không kịp nghênh đón."
"Nhà ngươi là ai? Vì sao lại đến đây nghênh đón trẫm?" Thái Tông hỏi.
Người ấy đáp:
"Nửa tháng trước, tại điện Sâm La, hạ thần trông thấy Kính Hà Long Vương dâng đơn kiện bệ hạ, nói rằng bệ hạ đã hứa cứu mạng cho y, nhưng cuối cùng lại để y bị giết. Đệ nhất điện Tần Quảng Vương lập tức sai quỷ vương đến dương gian đòi bệ hạ, định đưa xuống tam tào đối án. Hạ thần biết được việc này nên đặc biệt đến đây nghênh đón. Không ngờ hôm nay lại đến chậm, mong bệ hạ rộng lòng tha thứ."
Thái Tông hỏi:"Nhà ngươi tên họ là gì? Khi còn sống giữ chức quan nào?"
Người ấy vội tâu:
"Hạ thần lúc sinh thời từng phụng sự tiên hoàng, giữ chức Tư Châu lệnh, sau thăng làm Thị lang bộ Lễ. Hạ thần họ Thôi, tên Giác. Nay ở âm ty, giữ chức Phong Đô chưởng án phán quan."
Thái Tông nghe xong vô cùng mừng rỡ, liền bước tới nắm lấy tay Thôi Giác, nói:
"Để tiên sinh phải nhọc công đi xa nghênh đón, trẫm thật lấy làm áy náy! Quan giá tiền của trẫm là Ngụy Trưng có một phong thư gửi cho tiên sinh, may mắn thay hôm nay lại được gặp mặt."
Thôi Giác vội tạ ơn, hỏi:,"Thư đâu, xin bệ hạ trao cho hạ thần."
Thái Tông liền lấy thư trong tay áo đưa ra. Thôi Giác cung kính nhận lấy, mở thư đọc. Trong thư viết:
"Thưa khế huynh, đại đô án Thôi lão tiên sinh!
Nghĩ đến tình giao du thuở trước, đệ vẫn cảm thấy huynh như còn ở bên cạnh. Thấm thoắt đã mấy năm không được nghe lời chỉ giáo, chỉ có những ngày giỗ chạp tuẫn tiết, đệ thành tâm sửa lễ tế dâng, chẳng biết huynh có chứng giám hay chăng?"
"Lại nhờ tình nghĩa huynh đệ sâu nặng, huynh thường hiện về thăm hỏi trong giấc chiêm bao, đệ mới hay huynh trưởng đã được thăng chức nơi âm phủ. Khốn nỗi âm dương cách biệt, mỗi người một cõi, chẳng thể gặp mặt hàn huyên."
"Nay Thái Tôn Văn Hoàng Đế đột nhiên băng hà, theo dự liệu ắt phải xuống tam tào đối án, khi ấy tất có dịp gặp đại huynh. Cúi mong huynh nghĩ đến nghĩa cũ, ra tay giúp đỡ đôi phần, để bệ hạ được trở về dương thế, tiếp tục ngự trên ngai vàng. Nếu được như vậy, ấy chính là đại huynh hết lòng thương yêu tiểu đệ. Sau này đệ nhất định sẽ có hậu tạ."
"Thư chẳng thể nói hết lời. Nhục ái đệ Ngụy Trưng kính bái."
Thôi phán quan đọc xong thư, vẻ mặt vô cùng vui mừng, liền nói:
"Việc Ngụy nhân tào nằm mộng chém Long Vương, hạ thần đã từng nghe qua, trong lòng hết sức khâm phục. Hơn nữa, hạ thần còn nhớ ân ông ấy từng giúp đỡ con cháu hạ thần. Nay lại nhận được thư gửi tới, xin bệ hạ cứ yên tâm. Hạ thần nhất định sẽ đưa bệ hạ trở về dương thế, lại được phục hồi ngôi báu."
Thái Tông nghe vậy, vô cùng cảm kích, liên tục tạ ơn.
Đúng lúc hai người đang trò chuyện, chợt thấy phía bên kia có một đôi đồng tử áo xanh, tay cầm tràng phan bảo cái, lớn tiếng truyền gọi:
"Diêm Vương có lệnh, cung thỉnh bệ hạ!"
Thái Tông liền cùng Thôi Giác và hai đồng tử tiến bước. Đi được một đoạn, trước mắt hiện ra một tòa thành lớn, trên cổng treo bức hoành sơn son thếp vàng, đề bảy chữ:
"U Minh địa phủ quỷ môn quan."
Đồng tử khẽ lay cành phan, dẫn Thái Tông tiến vào trong thành, men theo đường phố mà đi.
Chợt thấy hai bên đường có tiên chủ Lý Uyên, cùng anh là Kiến Thành và em là Nguyên Cát, đồng loạt tiến tới, lớn tiếng gọi:
"Thế Dân đến đây rồi! Thế Dân đến đây rồi!"
Kiến Thành và Nguyên Cát lập tức xông tới, túm lấy Thái Tông, nhất quyết đòi mạng.
Thái Tông nhất thời tránh không kịp, may nhờ Thôi phán quan gọi một tên quỷ sai mặt xanh, răng lợn đến xua đuổi Kiến Thành và Nguyên Cát.
Nhờ vậy, Thái Tông mới thoát khỏi tay hai người.
Đi thêm mấy dặm, trước mắt lại hiện ra một tòa lầu ngói biếc, nguy nga tráng lệ, khí thế phi phàm.
Thái Tông đang đứng ngoài quan sát, chợt nghe tiếng ngọc bội va nhau leng keng, hương thơm kỳ dị thoảng khắp bốn phía.
Bên ngoài có hai đôi đèn nến soi đường, phía sau là mười vị Diêm Vương từ trong điện bước xuống thềm nghênh đón.
Vừa ra khỏi điện Sâm La, mười vị Diêm Vương đều cúi mình hành lễ với Thái Tông.
Thái Tông thấy vậy, vội khiêm nhường, không dám đi trước. Mười vị Diêm Vương liền nói:
"Bệ hạ là quân vương nơi dương thế, chúng tôi là chúa tể cõi âm ty. Lễ nghi vốn nên như vậy, bệ hạ không cần khiêm nhượng."
Thái Tông đáp:
"Trẫm nay chỉ là kẻ có tội, thân ở dưới cột cờ, nào dám luận bàn chuyện âm dương, người quỷ?"
Mười vị Diêm Vương liên tục nhường nhịn, nhưng Thái Tông từ chối mãi không được, đành đi trước vào điện Sâm La.
Sau khi cùng mười vị Diêm Vương hành lễ, mọi người phân chia ngôi chủ khách rồi an tọa.
Một lát sau, Tần Quảng Vương chắp tay hỏi:
"Kính Hà Long Vương có đơn kiện bệ hạ, nói rằng bệ hạ đã hứa cứu mạng cho hắn, vậy mà cuối cùng lại để hắn bị giết. Chẳng hay việc ấy thực hư thế nào?"
Thái Tông đáp:
"Trẫm từng nằm mộng thấy Long Vương đến cầu xin cứu mạng, mong được bình an vô sự. Nào ngờ y phạm phải thiên điều, bị quan nhân tào của trẫm tuyên án trảm quyết. Trẫm đã triệu Ngụy Trưng vào trong điện, giữ y lại đánh cờ, không ngờ Ngụy Trưng lại chém đầu Long Vương ngay trong giấc mộng. Đó chính là thần cơ của vị quan nhân tào ấy, cũng là bởi Long Vương phạm tội đáng chết, nào phải lỗi của trẫm!"
Mười vị Diêm Vương nghe xong, đồng loạt đáp lễ rồi nói:
"Trước khi Long Vương ra đời, trong sổ sinh tử của Nam Tào đã ghi rõ, y sẽ phải chết dưới tay quan nhân tào. Chúng tôi vốn đã biết trước việc này. Chẳng qua y đến đây kêu oan, nhất quyết đòi mời bệ hạ xuống âm phủ, đưa ra tam tào đối án. Nay chúng tôi đã cho y chuyển nhập luân hồi, đầu thai sang kiếp khác. Hôm nay lại phiền bệ hạ đích thân giáng lâm, thật là thất lễ, xin bệ hạ thứ tội."
Nói đoạn, mười vị Diêm Vương liền sai phán quan giữ sổ sinh tử mang sổ đến, tra xét xem Thái Tông hoàng đế còn được hưởng thọ bao nhiêu năm nơi dương thế.
Thôi phán quan trở về quan phòng, lấy quyển sổ ghi chép tuổi thọ và phúc lộc của các vị đế vương khắp thiên hạ, cẩn thận tra xét một lượt.
Khi tìm đến tên Thái Tông hoàng đế nhà Đại Đường, thuộc Đông Thắng Thần Châu, ông thấy bên dưới có ghi niên hiệu Trinh Quán thứ mười ba.
Thôi phán quan giật mình kinh hãi, vội cầm bút viết thêm hai nét ngắn vào chữ "nhất", rồi mang sổ trở lại trình lên.
Mười vị Diêm Vương lần giở từ đầu đến cuối, chợt thấy bên dưới tên Thái Tông có ghi rõ ba mươi ba năm.
Cả mười người đều kinh ngạc, liền hỏi:"Bệ hạ đã lên ngôi được bao lâu rồi?"
Thái Tông đáp:"Trẫm lên ngôi đến nay đã được mười ba năm."
Diêm Vương nói:
"Bệ hạ cứ an tâm, chớ nên lo nghĩ. Người vẫn còn hai mươi năm hưởng thọ nơi dương thế. Nay việc đối án đã được phân minh, chúng tôi xin đưa bệ hạ trở về dương gian."
Thái Tông cúi mình cảm tạ. Mười vị Diêm Vương liền sai hai vị quan là Thôi phán quan và Chu Thái úy hộ tống Thái Tông hoàn hồn.
Thái Tông bước ra khỏi điện Diêm La, chợt quay đầu hỏi mười vị Diêm Vương:
"Chẳng hay những người già trẻ trong cung của trẫm, thọ yểu ra sao?"
Mười vị Diêm Vương đáp:"Tất cả đều bình an, chỉ có ngự muội e rằng chẳng còn được hưởng thọ lâu dài."
Thái Tông kính cẩn cảm tạ, rồi nói:"Trẫm trở về dương thế, chẳng có lễ vật gì đáng giá để kính biếu, chỉ xin dâng tặng mấy quả bí mà thôi!"
Mười vị Diêm Vương nghe vậy, vui vẻ đáp:"Ở đây chúng tôi vốn đã có bí đao, dưa hấu, chỉ còn thiếu bí ngô mà thôi."
Thái Tông nói:"Đợi trẫm trở về dương gian, nhất định sẽ sai người gửi biếu ngay."
Hai bên bèn vái chào từ biệt.
Chu Thái úy cầm một cành phan dẫn hồn, đi trước mở đường. Thôi phán quan theo sau, cẩn thận hộ tống Thái Tôn ra khỏi âm ty.
Thái Tôn ngước mắt nhìn quanh, thấy con đường trước mặt hoàn toàn xa lạ, liền hỏi Thôi phán quan:"Con đường này đúng hay sai vậy?"
Phán quan đáp:
"Âm ty vốn là như thế, chỉ có đường đi mà chẳng có lối về. Nay chúng tôi đưa bệ hạ qua con đường chuyển luân hồi để trở lại dương gian. Một là để bệ hạ du ngoạn địa phủ, hai là để bệ hạ chuyển thế đầu thai, siêu sinh sang kiếp khác."
Thái Tông nghe vậy cũng chẳng biết nói gì hơn, đành theo hai người dẫn đường, tiếp tục cất bước về phía trước.
Đi được vài dặm, chợt thấy trước mắt hiện ra một ngọn núi cao, mây mù phủ kín mặt đất, sương tối giăng đầy chân trời.
Thái Tông hỏi:"Thôi tiên sinh, ngọn núi kia tên gọi là gì?"
Phán quan đáp:"Đó chính là núi Bội Âm nơi u minh."
Thái Tôn nghe xong, trong lòng kinh hãi, liền hỏi:"Trẫm làm sao có thể trèo qua ngọn núi ấy?"
Phán quan trấn an:"Bệ hạ cứ yên tâm, đã có chúng tôi dẫn đường."
Thái Tôn lòng đầy lo sợ, run rẩy theo hai người leo lên núi. Khi đến đỉnh, ngẩng đầu nhìn quanh, chỉ thấy cảnh tượng trước mắt vô cùng hiểm trở.
Núi non trùng điệp, hình thế lồi lõm, đường đi quanh co khúc khuỷu, hiểm trở tựa đỉnh Thục Sơn, cao vời như núi Lư.
Đây chẳng phải danh sơn nơi dương thế, mà chính là vùng đất hiểm ác chốn âm ty.
Gai góc mọc ken dày, vương đầy khí tức quỷ dị, rêu phong phủ kín khe đá, ẩn giấu yêu ma.
Tiếng chim kêu thú rống vọng bên tai, bóng quỷ hình ma thấp thoáng trước mắt.
Thần binh phì ra từng luồng âm phong từ lỗ mũi, quỷ sứ há miệng phun làn khí tối.
Nhìn khắp bốn phía, từ thấp đến cao chẳng có lấy một cảnh sắc thanh bình, phóng mắt xa trông, trước sau chỉ thấy những bóng cô hồn vất vưởng.
Nơi đây cũng có núi cao, sườn dốc, đỉnh núi, suối nguồn và khe vực, nhưng núi cao thì chẳng có cỏ mọc, sườn núi không người qua lại, suối chẳng thấy nước chảy, khe sâu không bóng cá bơi.
Hai bên sườn núi đầy rẫy quỷ quái, dưới dòng nước toàn thân ma, trong hang động ẩn chứa ác quỷ, dưới khe sâu giấu kín những vong hồn gian tà.
Trước sau đều thấy mặt ngựa, đầu trâu cùng quỷ sai dữ tợn, nơi nửa khép nửa mở, cô hồn dã quỷ và những kẻ đói khát nơi âm ty chỉ biết âm thầm than khóc.
Thái úy bắt hồn, hết lần này đến lần khác truyền phát tín phiếu; phán quan đòi mạng, bận rộn ngày đêm soạn thảo công văn.
Đám thừa sai kéo đến đông như kiến như ong, lũ quỷ tốt truy bắt vong hồn ùn ùn kéo tới, tựa mây bay gió cuốn.
Nhờ có phán quan dẫn đường, Thái Tông thuận lợi vượt qua núi Âm Sơn.
Sau đó, đoàn người tiếp tục đi qua nhiều nha môn, nơi nào cũng vang lên tiếng khóc than inh tai, thê lương quái dị, khiến người nghe không khỏi kinh hãi.
Thái Tông hỏi:"Đây là nơi nào?"
"Đây chính là mười tám tầng địa ngục, nằm phía sau núi Bội Âm." Phán quan đáp.
Thái Tông lại hỏi:"Mười tám tầng địa ngục ấy gồm những tầng nào?"
Phán quan nói:
"Bệ hạ hãy nghe hạ thần kể rõ: Ngục Điếu Cân, ngục U Cuống, ngục Hóa Khanh, nơi đây vắng vẻ, thê lương, giam giữ những kẻ khi còn sống gây nhiều ác nghiệp, sau khi chết phải xuống âm phủ chịu tội."
"Ngục Phong Đô, ngục Bạt Thiệt, ngục Bát Bì, tiếng khóc than vang vọng thê thảm. Những kẻ bất trung bất hiếu, trái đạo trời, ngoài miệng niệm Phật nhưng trong lòng hiểm độc, đều phải sa vào chốn này."
"Ngục Ma Nhai, ngục Đối Đào, ngục Xa Bàng, nơi đây chịu cảnh khổ sở, rách da nát thịt, rạch miệng bẻ răng. Những kẻ thay lòng đổi dạ, làm việc bất công, chỉ giỏi múa mép khua môi, ngấm ngầm hãm hại người khác, đều phải chịu hình phạt nơi đây."
"Ngục Hàn Băng, ngục Thoát Xác, ngục Trừu Trường, kẻ chịu tội nơi này mặt mày lem luốc, đầu tóc rối bời, nét mặt nhăn nhó, đôi mắt hõm sâu. Đó đều là những kẻ gian cân thiếu đấu, lừa lọc người đời, cuối cùng tự chuốc lấy tai ương.
Ngục Du Oa, ngục Hắc Ám, ngục Đao Sơn, nơi đây tiếng kêu than, tiếng khóc lóc vang lên không dứt. Những kẻ cậy mạnh hiếp yếu, lừa gạt người lương thiện, đều phải run rẩy chịu khổ, chẳng thể thoát thân."
"Ngục Huyết Trì, ngục A Tỳ, ngục Xứng Can, nơi đây chịu hình phạt lột da róc xương, bẻ cẳng rút gân. Những kẻ giết người cướp của, sát hại sinh linh, phải chịu cảnh đày đọa lâu dài, muôn kiếp trầm luân, khó mong ngày giải thoát."
Phán quan vừa dứt lời, Thái Tông đã trông thấy khắp nơi đều là những tội hồn cổ mang gông cùm, tay chân xiềng xích.
Bên cạnh có lũ quỷ tóc đỏ, quỷ mặt đen, kẻ vác trường đao, người cầm đoản kiếm, lại có quỷ đầu trâu, quỷ mặt ngựa, tay lăm lăm búa sắt, dùi đồng, không ngừng hành hình tội hồn.
Tiếng kêu la thảm thiết vang khắp địa ngục, khiến người nghe không khỏi rùng mình.
Thái Tông nghe phán quan nói vậy, trong lòng càng thêm hoảng sợ.
Đi thêm một đoạn, chợt thấy một toán quỷ binh, mỗi tên đều cầm tràng phan, quỳ rạp bên đường, đồng thanh bẩm báo:"Kiều Lương sứ giả tiếp đón!"
Phán quan truyền cho đám quỷ binh lui xuống, rồi tiếp tục dẫn Thái Tông đi qua cầu vàng.
Thái Tông nhìn sang phía bên kia, thấy còn có một cây cầu bạc.
Trên cầu, những người lúc sinh thời vốn trung hiếu, hiền lương, công bình chính trực đang lần lượt bước qua, bên cạnh cũng có quỷ sai cầm tràng phan nghênh đón.
Nhìn sang một hướng khác, lại thấy một cây cầu âm u lạnh lẽo.
Gió rét thấu xương, dòng nước bên dưới cuồn cuộn máu đỏ, sóng nổi dữ dội, tiếng khóc gào vang vọng không ngớt.
Thái Tông lấy làm kinh hãi, liền hỏi:"Cây cầu ấy tên gọi là gì?"
Phán quan đáp:
"Tâu bệ hạ, cây cầu ấy gọi là Nại Hà Kiều. Người trở về dương gian cần phải ghi nhớ cảnh tượng nơi đây. Dưới cầu chính là dòng Nại Hà, hiểm trở vô cùng, cảnh tượng chẳng khác nào địa ngục trần gian: Nước chảy cuồn cuộn, tựa tuấn mã phi nhanh, như rồng dữ cuốn mình, đường đi hiểm trở, chật hẹp vô cùng."
"Khác nào dải lụa mỏng vắt ngang dòng nước, tựa lò than rực cháy giữa trời cao. Âm khí bức người, khiến xương thịt lạnh buốt; mùi tanh nồng xộc thẳng vào mũi, khiến lòng dạ nôn nao."
"Sóng dữ từng lớp dâng trào, muốn vượt qua lại chẳng có thuyền bè. Người đi đầu rối chân không, trước sau đều là nghiệt quỷ rình rập. Cầu dài mấy dặm, bề rộng chỉ chừng ba gang, cao trăm thước, bên dưới sâu thẳm tựa nghìn trùng."
"Trên cầu không có tay vịn, dưới cầu lại đầy quỷ dữ rình mò; xiềng xích quấn quanh thân, dòng Nại Hà trải dài trước mắt, lối đi hiểm trở chẳng khác đường cùng."
"Cành cây khô trơ trụi, treo lủng lẳng đủ thứ vải vóc tím, đỏ, xanh, vàng. Trên đỉnh núi chon von, những kẻ lúc sinh thời bất hiếu, chửi cha mắng mẹ đều bị giam giữ. Rắn đồng, chó sắt tranh nhau cắn xé, giành giật thân tội nhân. Một khi đã sa xuống dòng Nại Hà, liền chẳng còn đường thoát thân."
Đương khi hai người đang trò chuyện, chợt thấy Kiều Lương sứ giả trở về.
Thái Tông thoáng run sợ, vội im bặt, chỉ biết âm thầm than thở trong lòng, lặng lẽ theo Thôi phán quan và Chu Thái úy mau chóng vượt qua sông ác Nại Hà, tiến vào cõi khổ huyết bồn.
Đi thêm một đoạn, cả đoàn đến Uổng Tử Thành. Từ xa đã nghe tiếng ồn ào huyên náo, quỷ hồn không ngừng la hét:
"Lý Thế Dân tới đây! Lý Thế Dân tới đây!"
Thái Tông nghe thấy, trong lòng không khỏi kinh hãi.
Ngay sau đó, một đám quỷ hồn thân hình tàn khuyết, kẻ mất tay, người mất chân.
Kẻ không đầu, người chẳng cổ, lòng phèo, ruột gan quấn trên cổ, kẻ thì lê thê dưới đất, ùn ùn kéo ra cản đường. Chúng đồng loạt gào thét:
"Đền mạng cho ta! Đền mạng cho ta!"
Thái Tông kinh hoảng né tránh, vội vàng kêu cứu:
"Thôi tiên sinh, mau cứu trẫm! Thôi tiên sinh, mau cứu trẫm!"
Thôi phán quan liền tâu:
"Bệ hạ, đám này đều là vong hồn của các vương tử, đầu mục thuộc sáu mươi tư chốn khói bụi, bảy mươi hai nơi giặc cỏ. Bọn họ đều mang oan nghiệp, chết chẳng cam lòng, lại không nơi nương tựa, không người cúng tế. Nếu chưa được siêu sinh, dưới âm phủ cũng chẳng có tiền bạc tiêu dùng, trở thành một đám cô hồn đói rét. Bệ hạ muốn thoát khỏi nơi này, chi bằng ban cho chúng ít tiền, tiểu phán mới có thể giúp người vượt qua."
Thái Tông nghe vậy, bất đắc dĩ đáp:"Trẫm tay không xuống đây, lấy đâu ra tiền bạc mà ban phát?"
Thôi phán quan nói:
"Trên dương gian có một người sở hữu rất nhiều vàng bạc gửi tại âm phủ. Bệ hạ chỉ cần viết một tờ văn tự vay nợ, tiểu phán xin đứng ra bảo lãnh, vay lấy một kho vàng bạc rồi phân phát cho đám cô hồn đói rét kia. Có như vậy, chúng ta mới thuận lợi đi qua."
Thái Tông hỏi:"Người ấy là ai?"
Thôi phán quan đáp:
"Người ấy họ Tưởng, tên Lương, quê ở tỉnh Hà Nam, phủ Khai Phong. Y có mười ba kho vàng bạc gửi dưới âm ty. Bệ hạ cứ vay tạm để dùng, đợi khi trở về dương gian rồi sẽ hoàn trả."
(Mọi người đọc có thấy chi tiết quan hệ ở dưới Âm Phủ không, có thể thao tác chỉnh sửa rất nhiều, quan trọng là phải có đút lót và quan hệ.)
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.