Chương 19: Ba Tiếng Gõ Trong Mưa
Huyền Thoại Lục Thập Hoa Giáp
Mục lục
21 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 21/21 chương
Nước vừa tràn qua bậc kho thì tiếng gõ lại vọng xuống.
Cộc.
Cộc.
Cộc.
Ba tiếng rời nhau, chậm và nặng, như có kẻ giấu mình trong vách núi, nhẫn nại gọi qua màn mưa.
Tánh vẫn đứng bên bếp quầy bánh. Chiếc áo còn ẩm dính vào vai nó. Ngọn lửa trước mặt bị gió lùa nghiêng sát mặt đất, vậy mà ánh mắt nó còn nghiêng nhanh hơn, hướng về phía sườn đá tối om sau dãy mái chợ.
“Đó.” Nó chỉ. “Lại nữa.”
Du vừa lội từ kho sang, ghé tai nghe. Chỉ có mưa quất lên mái lá, tiếng nước réo dưới chân cột và tiếng người ngoài sân gọi nhau chuyển gạo lên chỗ cao.
“Ta không nghe thấy gì.”
“Vì Can cứ nghe mưa.” Tánh đáp ngay. “Phải nghe chỗ mưa bị đứt.”
Du cau mày. Tánh tưởng mình lại bị mắng, môi mím chặt. Nhưng người lính chỉ quay sang Vịnh.
“Cư Vịnh có nghe không?”
Vịnh áp bàn tay lên cột quầy. Gỗ rung lăn tăn dưới những đợt gió. Một lúc lâu, Vịnh lắc đầu.
Hùng từ nhà coi chợ chạy sang, bản trình viết dở còn kẹp trong áo. Thức theo sau, ống quần sũng nước đến gối. Sau chuyện đêm qua, vẻ lạnh trên mặt ông ta vẫn chưa tan.
“Nước suối đang dâng. Cả chợ phải dời trước khi nước chặn lối lên gò. Công Tự còn định vì một tiếng động mơ hồ mà giữ người ở đây sao?”
Hùng nhìn Tánh. Vết xước trên má nó còn mới. Hai chữ “quái lực” ngoài phiên chợ hẳn vẫn còn rát hơn vết ấy. Nó không van ai tin mình, chỉ đứng thẳng, hai nắm tay siết bên hông. Nhưng nó cũng không bỏ đi.
“Tiếng ấy từ đâu?” Hùng hỏi.
Tánh bước ra mép mái, nheo mắt qua màn nước trắng xóa.
“Sau mỏm đá có cây thân mềm. Cái cây bị gió ép xuống lối nhỏ. Qua đó, trên vách có một khe tối.”
“Mày đã lên đấy?” Thanh hỏi.
“Lúc bỏ đi... Địa có qua.” Tánh cúi mặt rồi lại ngẩng lên. “Khi ấy khe chỉ rỉ nước. Bây giờ trong đó có tiếng gõ.”
Thức bật ra một tiếng thở ngắn.
“Đá va nhau trong nước cũng kêu. Gỗ mục mắc trong khe cũng kêu. Núi không gọi người.”
“Tôi đâu nói núi gọi.” Tánh quay phắt lại. “Tôi nói có ba tiếng.”
“Ba tiếng thì khác gì?”
“Khác.”
“Khác ở đâu?”
Tánh há miệng, nhưng không tìm được lời. Nó gõ ngón tay xuống cột quầy: ba nhịp đều. Rồi gõ lại, lần này nhịp đầu nhẹ, nhịp sau nặng hơn, nhịp cuối ngân dài.
“Như thế này. Nước không biết chờ.”
Câu nói khiến cả mái quầy im đi.
Thanh nhặt một hạt gạo rơi trên chiếu, thả vào bát nước. Hạt gạo xoay tròn, chạm thành bát hai lần liền nhau, không hề có nhịp nghỉ. Nàng nhìn Hùng.
“Nếu khe ấy thông với một khoang rỗng, nước dâng có thể đẩy một vật treo va vào vách. Nhịp chậm hay nhanh sẽ đổi theo dòng.”
“Vẫn chỉ là đá với gỗ,” Thức nói.
“Nếu đúng là một vật treo, thì nó không tự mọc ra trong khoang kín.” Thanh đáp. “Phải có người từng đặt.”
Ngoài sân, tiếng kêu thất thanh nổi lên. Một cọc buộc bè gạo vừa bật khỏi đất. Du cùng hai người gánh lao ra ghì dây. Nước nâu đã trườn tới giữa sân, cuốn rơm, lá và những chiếc rổ không kịp cất quay lồng lộn dưới chân. Bà Rơm cõng Sậy chạy qua; con bé nhắm chặt mắt, không dám nhìn thứ nước đêm đang đuổi theo gót người.
Hùng nói nhanh:
“Xin cai đường đưa dân, người bị thương và gạo lên gò phía tây. Hai người gánh ở lại giúp. Thiết Bách đi cùng Can Hựu. Thanh, Cư Vịnh, Tánh theo ta xem khe đá.”
Thức nhìn thẳng vào Hùng.
“Công Tự lại muốn bỏ việc cứu kho để đuổi theo một tiếng gõ?”
“Không.” Hùng nhấc cuộn dây miết sáp đang hong bên bếp, cuộn dây chủ vườn cho mượn mà chưa ai kịp trả. “Người đi trước, gạo đi sau. Không ai được ở lại giữ vật mà chết. Nhưng nếu trong vách là dấu vết dính tới việc bọn ta đi tìm, trận mưa này có thể vùi nó mãi mãi.”
“Và nếu bốn người chết trong hang?”
“Ta không ép ai vào.”
Chàng nói câu ấy với Thức, nhưng mắt nhìn Thanh. Cái gối của nàng đêm qua đã cắm xuống bùn dưới gốc cây neo dây bên khe Cạn.
Thanh buộc gọn tóc. “Dấu khắc thì bậu không đọc được một mình.”
Vịnh đã khoác túi nêm và dao lên vai. Tánh chộp một ngọn đuốc nhưng Bách, vừa sang báo cáng Hựu đã buộc xong, giữ cổ tay nó lại.
“Đuốc gặp mưa tắt. Cầm bình dầu kín này. Đừng làm rơi; mày mà làm rơi thì trong hang chỉ còn mắt dơi soi đường.”
Tánh ôm bình dầu vào ngực. Nó liếc Bách, khóe miệng nhúc nhích.
“Dơi không soi đường.”
“Biết cãi là còn tỉnh. Đi đi.”
Hùng quay sang Thức.
“Khi chuông đồng ở chợ nổi ba hồi, dù bọn ta chưa về, cứ rút hết.”
“Công Tự lấy gì mà lệnh cho bề tôi? Bản thẻ đêm qua còn chưa khô mực.”
“Không lấy chức mà lệnh.” Hùng nối cuộn dây miết sáp với hai cuộn dây gánh của đoàn, đưa đầu dây cho Du vòng qua cột lớn của kho để hãm, chừa đầu kia dẫn lên vách. “Lấy mạng của người trong chợ mà nhờ cai đường.”
Thức nhìn đầu dây trong tay Du, rồi nhìn dòng nước đang dâng. Ông ta không đáp, chỉ quát người mở cửa sau và bắt đầu đẩy đoàn dân lên dốc.
• • •
Lối lên vách đá không còn là lối nữa.
Nước từ sườn núi đổ xuống thành những tấm rèm xám. Đất dưới chân nhão ra, mỗi bước giẫm xuống đều nghe tiếng bùn hút dép. Gió bẻ ngọn cây rạp về một phía. Chỉ riêng bụi cây thân dài bên mỏm đá là không chịu gãy. Nó oằn sát đất, lá quất chan chát vào nhau, rồi mỗi khi gió ngừng lấy hơi, cả bụi lại từ từ vươn lên.
Tánh bám lấy một cành, lách qua trước.
“Chỗ này.”
Du không vào hang nhưng vẫn theo họ đến chân vách để rải dây. Người lính nhìn cành cây mảnh trong tay Tánh, lo lắng nói:
“Mềm quá.”
Vịnh thử bẻ một nhánh. Nhánh cong thành vòng cung, lớp vỏ chỉ rạn nhẹ.
“Mềm nên mới còn sống sau từng ấy gió.” Vịnh nói. “Cành cứng quanh đây đã gãy hết rồi.”
Du chọn thân lớn nhất làm chỗ neo phụ, nhưng Vịnh ngăn lại, gom sáu thân nhỏ, xoắn chúng quanh đoạn dây chính rồi ghì vào một hốc đá.
“Một thân chịu thì bật rễ. Sáu thân cùng cúi thì giữ được.”
Hùng thử sức dây. Nó nhún theo tay chàng, không căng chết như dây buộc cọc, cũng không trượt.
“Nếu trong hang giật ba lần, kéo. Một lần dài, thả thêm dây.”
Du gật đầu. “Nếu chuông nổi?”
“Kéo tất cả ra, dù bọn ta có tìm thấy gì. Can giật liên tiếp để báo bọn ta rút.”
Du lần theo dây quay về phía chợ.
Tánh đang quỳ trước khe đá. Nơi hôm trước chỉ đủ cho một đứa trẻ lách ngang nay đã bị nước khoét rộng. Từng mảng bùn đỏ tuôn từ miệng khe. Sâu bên trong, bóng tối co giãn theo ánh chớp.
Cộc.
Cộc.
Cộc.
Lần này ai cũng nghe.
Vịnh ngẩng lên. “Không phải tiếng đá lăn.”
Tánh không nói “đã bảo mà”. Nó chỉ thở ra, rất dài, như người vừa đặt được một gánh xuống.
Một mảng đất từ trên vách rơi đánh ầm ngay sau lưng họ. Tánh giật bắn người nhưng không lùi. Nó nhìn Hùng, chờ quyết định.
Hùng buộc đầu dây quanh bụng Tánh rồi soát nút hai lần.
“Mày đi giữa. Không được vượt Cư Vịnh.”
“Địa nghe rõ hơn khi đi trước.”
“Nghe rõ không có nghĩa là biết chỗ nào sập.”
“Can biết à?”
“Không.” Hùng nhận. “Vì vậy mới cần Cư Vịnh.”
Vịnh bật cười khẽ dù mưa đang lạnh buốt mặt. “Ít ra trong đoàn cũng có người nhớ việc của ta.” Rồi quay sang Tánh, hết cười: “Sau lưng ta. Đêm qua ta nói rồi.”
“Dạ.”
Thanh đứng cuối, giữ túi bản ghi trong lớp áo dầu.
“Vào rồi ra. Không ai được vì tò mò mà bỏ dấu tay của người đi trước.”
Tánh làu bàu: “Ai tò mò?”
“Mày.” Cả Hùng, Vịnh và Thanh cùng đáp.
Nó đỏ mặt. Một tiếng cười ngắn bật ra giữa mưa, nhỏ thôi, nhưng đủ làm nỗi sợ trong bốn người lỏng đi một chút.
Họ chui vào khe.
• • •
Bên trong không tối hẳn.
Những tia chớp ngoài cửa hang rọi qua dòng nước, quét từng vệt bạc lên vách. Vịnh châm bấc dầu trong một bát đất nhỏ. Ngọn lửa thấp và xanh, chỉ soi được vài bước. Hang hẹp ở miệng nhưng mở rộng dần, trần cao quá đầu. Dọc hai bên có những rãnh vuông đều nhau, khác hẳn vết nước ăn.
Thanh vuốt lớp bùn trên một rãnh.
“Từng có xà gỗ đặt ngang.”
“Một kho chứa?” Hùng hỏi.
“Hoặc đường dẫn nước.”
“Không giống máng ruộng.” Vịnh cúi xuống. “Đáy dốc vào trong, không dốc ra ngoài.”
Tánh giơ tay ra hiệu im.
Cả bốn đứng yên. Nước nhỏ từ trần hang xuống tóc, xuống vai. Phía sâu thẳm vang lên tiếng cọ ken két, rồi ba tiếng gõ.
Cộc.
Cộc.
Cộc.
“Bên phải.” Tánh nói nhỏ.
Họ men theo vách. Đường đá bỗng bị chặn bởi một đống gỗ mục và đất lở. Một thanh gỗ dài còn nguyên một đầu, đầu kia ngập trong nước. Mỗi đợt nước từ khe ngầm tràn tới, thanh gỗ nổi lên, va vào ba phiến đá nhô cao theo thứ tự. Phiến thứ ba lớn nhất nên tiếng ngân dài.
Thức đã nói đúng một nửa. Không có người sống nào gõ trong vách.
Nhưng Thanh cũng đúng.
Trên thân gỗ có ba vòng dây đồng đã xanh màu, đặt cách nhau vừa đúng chỗ ba phiến đá. Đây không phải cành cây trôi dạt mắc vào hang. Một bàn tay từng đẽo nó, buộc nó, khiến nước dâng thì nó lên tiếng.
Tánh sờ vòng đồng đầu tiên.
“Người xưa để nó kêu khi nước vào?”
“Có thể là báo lũ.” Thanh đáp. “Hoặc báo một cửa nào đó sắp bị nước ép vỡ.”
Vịnh rọi đèn về phía đống lở. “Có khi về sau không ai còn hiểu tiếng ấy, nên cửa mới bị đất lấp.”
Ba nhịp. Hùng nghĩ tới cây trượng của một người câm ở trạm đá, cũng gõ ba nhịp xuống đất cho những người không còn nhớ nghĩa. Chàng không nói ra. Chưa có gì để nối hai thứ ấy, ngoài một con số.
Chàng chống tay lên khối đá lớn nhất. Qua lớp bùn, chàng thấy dưới tay một cạnh phẳng khác thường.
“Dưới đây có vật được ghép.”
Cả bốn cùng moi đất. Họ không dùng sức bẩy thẳng. Vịnh cắm những nêm gỗ ngắn vào kẽ, Tánh ép từng nêm sâu thêm bằng lòng bàn tay. Khối đá không bật ra mà nghiêng từng chút, nhường một khe vừa đủ cho nước thoát sang bên. Như những cành mềm ngoài cửa hang, mọi thứ ở đây sống sót bằng cách chịu cong trước sức lớn hơn mình.
Sau lớp đất là một mặt đá đen, rộng hơn tấm phản, ghép từ nhiều phiến mỏng. Những nét khắc hiện ra dưới ánh dầu: đường sông uốn quanh các gò đất; những vòng tròn nối nhau; các hình người đứng thành nhóm quanh một dấu giống hạt nảy mầm. Phía trên là hàng chữ Khoa Đẩu, nhưng nhiều nét đã bị nước ăn mất.
Thanh quên cả thở. Nàng quên luôn cái gối.
“Không phải dấu chia ruộng.”
Hùng đưa tay tới rồi dừng lại, không chạm vào mặt đá.
“Có giống những dấu sau lưng trống không?”
“Cùng lối đặt nét, nhưng không cùng điều được nói.” Thanh cúi sát hơn. “Ở đây có dấu ‘nước’. Dấu này có thể là ‘người’ hoặc ‘nơi tụ’. Còn đây...”
Nàng lấy thẻ tre, chép thật nhanh. Nước từ trần hang nhỏ xuống cạnh bàn tay, nhòe vệt than vừa kẻ.
Tánh không nhìn hàng chữ. Nó nhìn những vòng tròn trên bản khắc.
“Cái này giống chợ.”
“Vì có nhiều người?” Vịnh hỏi.
“Không. Vì các lối đều dẫn vào giữa, rồi lại đi ra.” Nó chỉ vào một đường bị vỡ. “Nhưng chỗ này bị chặn.”
Vịnh đưa đèn lại gần. Đường Tánh chỉ không phải bị chặn; một mảnh đá đã vỡ mất, để lộ lớp đất vàng phía sau.
Từ bên ngoài, dây quanh bụng Tánh bị giật liên tiếp.
Chuông đồng ở chợ nổi lên.
Một hồi.
Rồi hồi thứ hai.
Âm thanh mỏng và xa, bị mưa xé vụn nhưng không thể nhầm.
“Phải ra ngay.” Hùng nói.
Thanh vẫn nhìn bản khắc. Tay nàng không ngừng chép. “Thêm một lát. Qua chưa chép được nửa...”
Một tiếng rền chạy dọc trần hang. Bụi đá rơi xuống tóc họ. Ngọn đèn dầu co lại.
Vịnh quát: “Không còn lát nào!”
Ngay lúc ấy, dòng nước phía sâu hang ập tới. Thanh gỗ buộc vòng đồng bật lên dữ dội, không còn ba tiếng rời nhau mà nện liên hồi vào đá. Một phiến của bản khắc rung, trượt khỏi chỗ ghép.
Tánh nhào tới đỡ.
Phiến đá nặng ghì nó quỳ xuống. Hùng túm vai nó kéo lại, nhưng Tánh vẫn ôm chặt mép phiến.
“Buông!”
“Nó rời rồi! Mang được!”
“Mang mày trước!”
“Địa không buông!”
Nước đã ngập đến mắt cá rồi bắp chân. Hùng thấy trong mắt Tánh không chỉ có tính bướng. Đêm qua nó bỏ đi vì tin mình chỉ là thứ sức lực làm người khác sợ. Giờ đây, lần đầu tiên nó tìm thấy một vật mà sức mình có thể giữ lại cho mọi người. Giằng nó khỏi phiến đá lúc này cũng là bảo nó lùi thêm một lần nữa.
Hùng không giằng. Chàng luồn vai dưới phiến đá.
“Cư Vịnh, tháo dây khỏi Tánh, buộc phiến đá vào; chừa một đoạn dây phía sau nút. Thanh, bọc mặt chữ.”
“Công Tự...” Vịnh mở miệng.
“Ta không để Tánh giữ một mình.”
Vịnh tháo dây khỏi bụng Tánh, quấn chéo quanh phiến đá, siết nút rồi chừa đầu dây dài về phía họ. Thanh xé lớp áo dầu ngoài cùng, phủ lên mặt khắc. Họ vừa buộc xong thì cửa hang phía sau nổ một tiếng khô khốc. Đất và đá trút xuống, lấp mất nửa lối về.
Chuông ngoài chợ nổi hồi thứ ba.
• • •
Ở sân kho, Thức đứng trong nước tới thắt lưng.
Đoàn dân cuối cùng đã lên khỏi dốc. Hựu được đặt trên một tấm phên, bốn người khiêng. Bách quay lại hai lần, lần thứ ba bị Thức quát đến khản giọng mới chịu đi. Người coi lương đã ôm hòm thẻ lên gò từ lượt đầu, không rời tay; giờ ông ta đứng trên dốc, nhìn xuống chiếc bè chất nốt phần đồ còn lại của đoàn.
Du và hai người gánh giữ đoạn dây vòng qua cột kho. Đầu kia căng về phía vách núi, rung bần bật.
“Ba hồi rồi,” một người gánh nói. “Phải kéo.”
Du ghì chân vào cột. “Kéo!”
Họ vừa kéo được một sải thì cột kho nghiêng đi. Dòng nước xiết va vào chân cột, bọt tung trắng xóa. Phía trong, những sọt gạo còn lại xô vào nhau. Con ngựa của chợ hí vang, giật đứt dây buộc rồi lao lên dốc.
Gốc cây chắc gần nhất nằm trên bờ cao, lệch hẳn khỏi đường dây; dây không đủ dài để vòng sang đó. Cột mà đổ, cả bốn người trong hang mất luôn đầu dây.
Thức nhìn kho, nhìn dây. Đêm qua ông ta đã đóng dấu lên một bản thẻ ghi rằng những người ấy làm chậm công vụ vì việc riêng. Bản ấy đang nằm trong ngực áo ông ta.
Ông ta nghiến răng.
“Cắt dây buộc bè hàng!”
Người gánh sửng sốt. “Nhưng đồ của đoàn...”
“Cắt! Lấy dây ấy nối thêm vào dây cứu người!”
Ba bó vải, mấy bó thẻ trắng chưa kịp xếp vào hòm, muối, dầu, lương khô cùng những vật đổi hàng đang nằm trên bè. Cắt dây lúc này là thả chúng vào dòng lũ.
Trên dốc, người coi lương kêu lên một tiếng. Rồi chính ông ta, người đã đi ba ngày đường để giữ cho từng cái thẻ khỏi ẩm, lội ngược xuống, giằng lấy đầu dây bè từ tay người gánh mà giữ cho thẳng.
“Cắt đi,” ông ta nói, giọng vỡ. “Thẻ trắng thì còn chẻ lại được.”
Du rút dao.
Một nhát.
Dây đứt.
Chiếc bè xoay ngang, va vào cột kho rồi bị nước cuốn đi. Những bó hàng trôi chòng chành trong bóng tối, thoáng một cái đã mất sau mái chợ. Không ai đuổi theo.
Họ nối sợi dây vừa lấy được vào đầu dây đang hãm, kéo nó vòng sang gốc cây trên bờ cao phía chân vách. Du quấn đoạn dây nối qua vai, cùng hai người gánh kéo. Thức lội tới, nắm lấy đoạn cuối. Không ai bảo ông ta. Dây ướt trượt qua bàn tay, cứa da bật máu.
“Có vật nặng!” một người hét.
“Còn nặng là còn người!” Du gầm lên. “Kéo!”
• • •
Trong hang, Hùng thấy dây căng. Chàng soát lại nút dây Vịnh đã buộc vào phiến đá và đoạn đầu dây chừa phía sau, rồi bốn người nối nhau bò qua phần cửa vừa sập.
Vịnh đi trước, dùng nêm dò chỗ rỗng. Không cố đẩy những tảng lớn, Vịnh tìm các khe nhỏ, moi đất ở phía nước đang ép, khiến dòng chảy tự khoét một lối vừa đủ. Mỗi lần khe sắp sụp, Tánh luồn vào chống bằng những đoạn gỗ lấy từ bộ gỗ gõ nhịp.
“Gỗ ấy mục rồi,” Thanh nói.
“Mục ở ngoài, lõi còn dai.” Tánh đáp, thở dốc. “Đá đè thì nó cong. Cong mới chưa gãy.”
Một tiếng ầm vang lên sau lưng. Cả mặt bản khắc còn lại đổ úp xuống nước. Thanh ngoái lại. Những hàng chữ chưa kịp chép chìm dần dưới bùn vàng.
Nàng đứng sững. Chỉ một nhịp, nhưng trong nhịp ấy cả người nàng đã nghiêng về phía sau.
“Đi!” Vịnh kéo nàng. “Nhớ được gì thì mang bằng đầu. Đừng đem mạng đổi lấy thứ đã chìm.”
Thanh cắn môi đến bật máu, rồi quay đi.
Họ tới được khe cửa. Nhưng phiến đá rời mắc lại sau một khối đất sụt. Dây ngoài kia vẫn kéo, mép đá cày xuống nền hang mà không nhúc nhích thêm.
Tánh quỳ trong nước, luồn hai tay dưới mép phiến.
“Địa nhấc. Can đẩy.”
“Hông mày đang bầm.”
“Hông bầm chưa gãy.”
Hùng nhìn nó. “Nghe Can đếm. Không được dùng hết sức ngay.”
“Sao lại không?”
“Cành mềm không chống gió một lần. Nó nhường rồi mới bật.”
Tánh hiểu. Nó hít sâu, chỉ nâng vừa đủ để Vịnh nhét nêm. Phiến đá nhích lên. Nó thả xuống. Lần thứ hai, Thanh kê thêm một đoạn gỗ. Lần thứ ba, Hùng và Tánh cùng đẩy, phiến đá trượt qua ụ đất, lao ra phía cửa theo sức kéo của dây.
Ngay sau đó, đoạn chống trên đầu gãy răng rắc.
Hùng xô Tánh qua khe. Vịnh kéo Thanh. Một khối bùn đá đổ xuống lưng chàng, ép chàng nằm sấp. Nước tràn qua miệng, qua mũi.
“Can!”
Tánh quay lại. Hùng chưa kịp ngăn, nó đã chui ngược vào, hai bàn tay bấu lấy cánh tay chàng. Hai bàn tay ấy hôm qua từng siết một cổ tay đến trắng mặt người. Giờ chúng nắm vừa đủ chặt để không tuột, vừa đủ nhẹ để không bẻ gãy thứ đang nắm.
Vịnh cũng cúi xuống kéo. Thanh chống cái chân lành vào vách, quấn đoạn đầu dây chừa lại quanh eo Hùng, Tánh và Vịnh rồi ghì chặt.
“Ngoài kia!” nàng hét. “Kéo đi!”
Dây bật căng.
Bốn người bị lôi qua khe đá trong một đợt nước dữ. Da tay, đầu gối, bả vai va vào đá đến tê dại. Rồi đột ngột gió lạnh quất vào mặt họ.
Họ đã ra ngoài.
Du cùng hai người gánh và Thức ngã chồng lên nhau dưới bùn. Phiến đá bọc áo dầu nằm nghiêng bên bụi cây mềm, nặng nề mà nguyên vẹn. Sau lưng họ, cửa hang sụp xuống hẳn. Ba tiếng gõ dứt.
Chỉ còn tiếng mưa.
Tánh nằm ngửa, thở như bị ai bóp ngực. Hùng lăn sang bên, ho sặc nước. Thanh ôm túi bản ghi ướt sũng. Vịnh chống hai tay xuống đất, cười không thành tiếng.
Du bò tới, túm cổ áo Tánh rồi kéo nó ngồi dậy.
“Mày còn nguyên không?”
Tánh sờ đầu, sờ vai, sờ hai chân.
“Chắc còn.”
“Chắc là thế nào?”
“Nếu thiếu chỗ nào thì trời tối quá, Địa chưa thấy.”
Du vừa chửi vừa bật cười. Người lính ôm ghì nó một cái, rồi lập tức đẩy ra như sợ người khác nhìn thấy.
Hùng ngồi dậy, nhìn xuống chân dốc.
Khu chợ đã thành một vũng nước đục mênh mông. Mái kho nghiêng nửa bên. Chiếc bè hàng của đoàn không còn. Lương, dầu, thuốc dự trữ, vải đổi đường, thẻ tre trắng, gần như mọi thứ sửa soạn cho quãng đường phía trước, đều đã theo nước.
Thức đứng dậy khỏi bùn, hai lòng bàn tay rớm máu. Ông ta nhìn phiến đá, lại nhìn bốn người vừa thoát chết.
“Các người cứu được thứ mình tìm,” ông ta nói. “Nhưng cái giá không nhỏ.”
Hùng nhìn dân chợ trên gò đang chia nhau những nắm gạo cuối cùng còn khô. Chàng không tránh lời ấy.
“Phần đồ mất đi là của đoàn. Ta sẽ ghi đủ và tự chịu.”
Thức im hồi lâu.
“Bè hàng là bề tôi ra lệnh cắt.”
“Nếu không cắt, dây không đủ.”
“Bề tôi biết.” Thức nhìn Tánh. “Ấu ấy cũng biết nghe thật.”
Ông ta không nói thêm gì về bản thẻ trong ngực áo. Nhưng ông ta đã gọi nó bằng “ấu ấy”, không còn là “ấu khỏe dị thường”.
Tánh quay mặt đi, giả vờ phủi bùn ở đầu gối. Nhưng hai tai nó đỏ lên.
• • •
Khi trời sáng rõ hơn, mưa mới nhẹ hạt.
Họ đặt phiến đá trong gian nhà cao nhất còn khô của chợ. Áo dầu được mở ra từng lớp. Mặt khắc chỉ còn một phần đường sông, hai vòng tròn không trọn và bảy dấu Khoa Đẩu rời rạc. Không ai có đủ bằng cớ để nối chúng thành một câu.
Thanh hong những thẻ chép bên than nóng. Những nét nàng kịp ghi trong hang loang ra như bóng cây dưới nước.
“Chúng ta cứu được một mảnh,” nàng nói, giọng khàn đặc, “nhưng mất gần hết những gì quanh nó.”
“Một mảnh còn hơn một lời kể không có vật làm bằng.” Hùng đáp.
Thanh đưa một thẻ lên gần lửa. Nét than nhòe đi trước mắt nàng. “Bậu nói thế vì phần còn lại không nằm trong tay bậu.”
Hùng đưa tay định nhận chiếc thẻ, rồi dừng lại vì bàn tay lấm bùn. “Nếu nằm trong tay qua, có lẽ qua đã bóp nó nát từ lúc chạy khỏi hang.”
Thanh nhìn bàn tay ấy. Giọng nàng dịu xuống. “Vai còn đau không?”
“Khi bậu hỏi thì đau hơn.”
“Vậy là còn biết nói dối.”
Bách đang mở túi thuốc ở phía sau, hừ một tiếng. “Hai người nói xong thì cho ta xem cái vai trước khi nó thối. Rồi tới cái gối. Rồi tới thằng nhỏ. Một đêm mà các người làm hỏng người nhanh hơn ta kịp chữa.”
Thanh nhìn lại tấm thẻ, nói nhỏ: “Một mảnh cũng dễ khiến người ta tưởng phần mình muốn thấy là phần đã mất.”
Hùng hiểu nàng đang nhắc cả chàng. Hôm qua ở sân cân, chàng cũng đã thấy đủ thẻ, đủ chứng, và muốn nó đủ. Chàng không cãi.
Tánh ngồi sát phiến đá. Nó không khoe mình đã nghe thấy trước mọi người. Hai bàn tay trầy xước đặt trên đầu gối, cái thẻ trắng lấm bùn vẫn ở cổ tay. Sau một hồi, nó hỏi:
“Nếu mai kia có người nói Địa nghe nhầm thì sao?”
Thanh đặt thẻ tre xuống.
“Kỷ sẽ ghi rằng mày nghe ba tiếng. Bọn ta tìm thấy bộ gỗ và vòng đồng. Đó là điều đã thấy.”
“Còn người xưa muốn báo gì?”
“Chưa biết.”
“Còn những vòng này là gì?”
“Chưa biết.”
Tánh nhăn mặt. “Kỷ lúc nào cũng bảo chưa biết.”
“Biết mình chưa biết là cách giữ cho một mảnh thật không biến thành một câu chuyện giả.”
Vịnh đứng tựa cửa, nhìn ra ngoài, khẽ nói:
“Cũng như cành kia. Muốn sống qua gió thì phải biết lúc nào không nên đứng thẳng.”
Xa trên mỏm đá, bụi cây thân mềm rũ nước. Sau cả đêm bị gió ép sát bùn, những ngọn cành lại chậm rãi ngẩng lên đón ánh sáng xám đầu ngày.
Ngoài cửa, người trong chợ đã đứng thành một vòng im lặng. Sậy đứng giữa Mẩy và bà Rơm, ôm con cá sỏi, nhón chân tìm Tánh. Không ai dám bước tới gần mặt đá còn ướt.
Một bà già làm nghề đan phên nhìn hai vòng khắc rồi nói chúng giống hai bến nước trước trận lũ. Người chèo bè bên cạnh lập tức cãi: đó là hai kho giữ lương của một làng đã mất. Một thợ đào giếng lại quả quyết đường gấp khúc không phải sông mà là mạch nước ngầm, còn hai vòng là hai hố lắng.
Ba người cùng nhìn một phiến đá. Ba trí nhớ mở ra ba lối khác nhau.
Tánh hỏi: “Ai nhớ đúng?”
Thanh không có thẻ trắng nào để đặt trước mặt họ; mấy bó thẻ trắng đã theo bè cả. Nàng lật ba thẻ nhòe của chính mình, lấy mặt sau còn sạch.
“Trưa nay, từng người kể riêng. Không ai nghe lời người trước.”
Hùng nhìn đoạn đường khắc bị vỡ giữa hai vòng tròn. Chàng rất muốn nối nó bằng nét than của mình. Nhưng bàn tay vừa đưa lên đã dừng lại.
Ngoài hiên, nước mái rơi xuống từng giọt. Không còn tiếng gõ trong núi. Chỉ còn những mảnh nhớ không chịu khớp vào nhau.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.