Chương 15: Người Giữ Luật Câm
Huyền Thoại Lục Thập Hoa Giáp
Mục lục
21 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 21/21 chương
Người đàn ông áo xám gõ cán trượng xuống đất lần thứ ba.
Cổng trạm mở.
Không ai hỏi ông vừa ra lệnh gì. Hai người trực cổng lập tức chạy tới đón cáng Hựu, một người khác đỡ lấy Du, một người nữa gọi vọng vào trong bảo đun nước. Họ hiểu từng cái nghiêng đầu, từng lần bàn tay ông khép mở. Chỉ đoàn của Hùng đứng giữa sân, nhìn chuỗi động tác ấy như nhìn một hàng chữ đã mất quá nửa.
Ông chỉ Hựu, úp hai bàn tay lên ngực rồi tách ra. Bách đoán trước.
“Hỏi vết thương có vào phổi không à?”
Người áo xám gật.
“Chưa thấy hơi lọt qua vết. Nhưng mất nhiều máu.”
Ông quay sang một người đàn bà giữ then kho, chạm hai ngón tay vào cổ mình, rồi chỉ căn nhà đất ở góc sân. Người đàn bà hiểu ngay, dẫn Bách đi.
Tánh cúi vai định theo cáng.
Hùng giữ nó lại.
“Mày ở đây.”
Tánh nhìn Hựu được khiêng đi, hai bàn tay quấn vải bấu vào vạt áo. “Can giao Địa khiêng cáng Can Hựu mà.”
“Tới trạm rồi.”
“Nhưng...”
“Để Thiết Bách làm việc.”
Nó đứng lại, vẻ mặt như bị bỏ ngoài cổng dù đang ở giữa sân. Vai nó còn hằn vệt đòn cáng. Suốt nửa ngày nó đã có một chỗ để đặt cái vai ấy; giờ chỗ ấy bị lấy đi, và nó không biết để tay chân vào đâu.
Người áo xám nhìn nó. Ánh mắt ông dừng ở cái thẻ trắng trên cổ tay, rồi chuyển sang vết bùn khô trên vai áo. Ông đưa tay lên ngang ngực, bàn tay mở, hạ chậm xuống.
Tánh hỏi nhỏ: “Thiết ấy bảo gì?”
Vịnh đáp: “Chắc bảo mày đừng chạy.”
Người áo xám lắc đầu.
“Vậy bảo tôi cúi xuống?”
Ông lại lắc.
“Thiết nói được không?”
Cả sân im đi một nhịp.
Tánh vừa hỏi xong đã nhận ra. Vết sẹo trên cổ người đàn ông kéo lệch da mỗi khi ông nuốt. Tai nó nóng bừng. Nhưng ông không giận. Ông chỉ dùng đầu trượng viết lên nền đất hai nét Khoa Đẩu ngắn.
Thanh đọc: “Cấn.”
Người đàn ông chạm tay lên ngực mình.
“Tên Thiết là Cấn,” nàng nói.
Ông gật.
Tánh gãi tai. “Tôi là Tánh.”
Cấn chỉ cái thẻ trắng, rồi chỉ nó.
“Mượn thôi,” Tánh nói. “Chưa phải của tôi.”
Khóe mắt Cấn hơi nhíu lại. Có lẽ đó là cách ông cười.
• • •
Trạm đá không lớn, nhưng tường dày hơn bất cứ trạm đường nào đoàn từng qua.
Đá xếp thành hai lớp, giữa nhồi đất nện. Cổng chỉ vừa một xe lọt, có rãnh để hạ cây chắn ngang. Phía trong là kho lương, nhà thuốc, một dãy chuồng và một sân hình vuông. Một giếng cạn nằm đúng giữa sân, miệng giếng được đậy bằng phiến đá tròn.
Vịnh đi một vòng tường rồi trở về.
“Chỗ này không chỉ để nghỉ chân.”
Một người trực trạm nghe thấy, đáp: “Trước kia là chỗ tránh giặc, tránh thú. Khi lũ xuống, người ba xóm cũng chạy lên đây.”
“Ai coi trạm?” Hùng hỏi.
Người ấy chỉ Cấn, rồi chần chừ. “Việc người và việc lệ do Thiết Cấn giữ. Kho và đường do cai trạm Lộ giữ.”
“Cai trạm đâu?”
“Sang xóm Bờ Đá gọi người. Sáng nay lại có chuyện.”
Hùng hỏi thêm: “Có người coi lương nào từ bãi Sậy lên đây chờ đoàn chưa?”
“Chưa thấy. Đường lớn từ bãi Sậy vòng xa, đi nhanh cũng ba ngày.”
Vịnh nhẩm bằng ngón tay. Lời gửi theo thuyền Nêm mới đi được hai đêm. Còn chờ được.
Như để trả lời cho chữ “có chuyện”, ngoài cổng vang lên tiếng cãi. Hai nhóm người cùng kéo tới. Một nhóm từ phía dốc, quần áo dính bùn đỏ; nhóm kia từ con đường thấp, mang theo cuốc và giỏ đá. Giữa họ là một cậu bé ôm cánh tay bị rách, máu đã khô tới khuỷu.
Người đi đầu nhóm dưới là một người đàn ông béo, chân đi guốc gỗ dù đường còn ướt. Ông ta vừa vào sân đã nói lớn:
“Thiết Cấn, người Dốc Sim lại phá tường lấy đá. Lần này có người bị thương, không thể bỏ qua.”
Một người đàn bà phía nhóm trên đáp ngay: “Tường đổ chặn mạch nước. Bọn tôi chỉ dỡ chỗ đã sập.”
“Đá trạm là đá trạm.”
“Nước dưới chân dốc là nước của cả ba xóm.”
“Ai bảo?”
“Ai khát thì biết.”
Hai bên ồn lên. Cấn gõ trượng một tiếng.
Âm thanh không lớn, nhưng sân trạm lập tức lặng xuống.
Người đàn ông béo lúc ấy mới thấy Hùng và Thanh, thấy cả miếng thẻ công vụ bên hông chàng. Ông sửa vạt áo, cúi người hành lễ.
“Bề tôi là Lộ, cai trạm. Không biết Công Tự, Công Thị tới, để phải nhìn việc rối.” Ông ngừng một nhịp, rồi nói nhỏ hơn, như báo một điều chẳng vui gì: “Lệnh của Lạc tướng cũng vừa tới sáng nay. Trạm lo được chỗ trú và thuốc. Gạo thì không cấp thêm.”
“Chúng tôi biết,” Hùng đáp. “Đoàn có người bị thương nên xin trú. Việc trong trạm, cai trạm cứ xét theo lệ.”
Lộ liếc Cấn. “Thiết Cấn không còn tiếng, nhiều động tác chỉ mình bề tôi hiểu. Việc này vốn rõ: người Dốc Sim lấy đá tường, làm một ấu Bờ Đá bị thương. Phải bồi đá, bồi gạo, rồi cấm lên tường.”
Người đàn bà Dốc Sim bước ra. “Thằng ấy bị thương vì ném đá vào bọn tôi trước.”
Cậu bé hét: “Họ kéo chân làm Ấu ngã!”
“Mày đứng trên mép tường ném xuống.”
“Tường của trạm, không phải của các người!”
Một người trực trạm đưa cậu bé ra mép sân, rửa vết rách rồi băng cánh tay cho cậu. Cậu vẫn nhìn chằm chằm người đàn bà kia qua vai người băng bó.
Cấn gõ trượng lần nữa. Ông chỉ ba chỗ trong sân: phiến đá cạnh cổng, miệng giếng và một chiếc trống gỗ treo dưới mái hiên. Sau đó ông dùng bàn tay vạch một đường ngang trước ngực, chạm đầu trượng xuống đất, rồi xoay cổ tay.
Lộ nói ngay: “Thiết Cấn bảo người phá ranh phải đứng ngoài ranh. Đúng lệ cũ.”
Người Dốc Sim phản đối. Cấn quay sang Lộ, lắc đầu mạnh.
“Không phải?” Thanh hỏi.
Cấn đưa hai ngón tay lên, chạm vào tai, rồi chỉ cả hai nhóm.
Lộ cười gượng. “Thiết ấy muốn nghe đủ hai bên trước khi phán.”
Cấn vẫn lắc đầu. Cổ ông bật ra một tiếng khàn, không thành chữ. Vài người trong sân cúi mặt, như đã nghe tiếng ấy nhiều lần và lần nào cũng không biết nhìn đi đâu.
Tánh thì thầm với Vịnh: “Thiết ấy nói gì cũng bị người béo kia đổi mất.”
Lộ nghe thấy. Mặt ông ta đỏ lên. “Ấu này là ai?”
“Người dẫn đoàn qua núi,” Hùng đáp.
Tánh ngẩng đầu, không ngờ chàng vẫn gọi mình như thế.
Hùng nói tiếp: “Thằng ấy đang chịu xét vì đã giấu cái nguy trên đường. Cai trạm đừng dùng thằng ấy để đổi việc trước mặt.”
Lộ im ngay.
Thanh bước tới giữa sân, cái gối sưng làm nàng đi lệch một nhịp. “Thiết Cấn có viết được không?”
Người trực trạm đáp thay: “Viết được tên, số và vài chữ ngắn. Cổ tay Thiết từng bị thương, viết lâu sẽ run. Lệ cũ Thiết chỉ nhớ bằng động tác.”
“Không ai khác từng học?”
“Có. Người thì chết, người đi khỏi. Cai trạm trước hiểu nhiều nhất.”
Lộ lên tiếng: “Quân của ta giữ trạm trước Thiết Cấn. Ta theo từ nhỏ, biết những việc cần biết.”
Ông ta đã thôi xưng bề tôi mà không nhận ra.
Cấn nhìn ông ta, ánh mắt không lộ gì.
Thanh quay sang Cấn. “Vậy xin Thiết làm lại đúng thứ tự. Không ai nói thay cho tới khi Thiết dừng.”
Cấn nhìn nàng. Một điều gì đó trong vai ông lỏng ra, như người đã gồng một tấm cửa quá lâu vừa thấy có bàn tay khác đỡ vào. Ông gật.
• • •
Ông bắt đầu ở phiến đá cạnh cổng.
Cấn đặt cán trượng ngang mặt đá, mời người đàn bà Dốc Sim đứng một bên và cậu bé Bờ Đá đứng bên kia. Ông chạm tay vào ngực người đàn bà, chỉ phiến đá, rồi úp lòng bàn tay xuống.
Người đàn bà nhìn Lộ.
“Thiết ấy bảo Công Thị nhận tội đã lấy đá,” Lộ nói.
Cấn đập cán trượng xuống đất.
“Không đúng,” Thanh nói. “Nếu là nhận tội, vì sao Thiết Cấn giận?”
Lộ đáp: “Có lẽ người đứng sai chỗ.”
Cấn tự chỉ ngực, chỉ phiến đá, rồi úp tay lần nữa. Sau đó ông đợi.
Người đàn bà thử nói: “Tôi, Sâm, người Dốc Sim, đã dỡ mười hai hòn đá ở đoạn tường đông.”
Cấn gật.
Thanh chép lời ấy. “Động tác đầu là đặt lời của người vào một chỗ.”
Lộ nói: “Là nhận việc mình làm.”
“Chưa chắc là nhận tội,” Hùng đáp.
Cấn chuyển sang cậu bé. Cậu tên Dại, khoảng mười một tuổi. Khi ông chạm tay vào ngực rồi chỉ phiến đá, Dại nói mình đứng trên tường giữ đá, bị người Dốc Sim kéo chân nên ngã.
Sâm quát: “Không ai chạm chân mày!”
Cấn giơ tay. Bà nén lời lại.
Ông dùng đầu trượng vạch một đường từ phiến đá tới giếng. Đi được nửa đường, ông dừng, quay lưng về phía hai người, hai bàn tay đặt sau lưng. Một tay nắm lại, tay kia mở ra. Rồi ông đổi bên.
Lộ nói: “Một bên đúng, một bên sai. Thiết Cấn đang cân.”
Cấn không lắc đầu, cũng không gật. Ông tiếp tục tới miệng giếng, quỳ xuống, chạm ba ngón tay lên phiến đá đậy giếng. Sau đó ông nhìn quanh sân như chờ ai đó.
Không ai bước ra.
Ông lặp lại động tác.
Một bà già Bờ Đá nói: “Thiết ấy gọi người thấy việc.”
Lộ đáp: “Không có ai thấy từ đầu. Chỉ hai bên cãi nhau.”
Người Dốc Sim xôn xao. Một người đàn ông trẻ giơ tay rồi bị Sâm kéo xuống.
Thanh thấy. “Công Tự biết gì?”
Người ấy ngập ngừng. “Tôi chỉ thấy thằng Dại nhặt đá. Không thấy ném.”
Dại kêu lên: “Người nói dối!”
Lộ quát: “Không thấy từ đầu thì không được đứng vào.”
Cấn chống trượng đứng dậy, bước tới người đàn ông trẻ. Ông chạm hai ngón tay vào mắt mình, rồi vào tai, cuối cùng đặt bàn tay lên vai người ấy.
Người ấy nói nhỏ: “Tôi nghe thằng Dại dọa đập đầu người lấy đá. Khi quay lại, tôi thấy thằng ấy cầm đá. Sau đó tường trượt.”
Cấn dẫn người ấy tới giếng.
“Bước thứ hai là gọi người thấy, người nghe,” Thanh nói.
“Ai mà chẳng bịa được đã nghe gì,” Lộ đáp. “Bởi vậy lệ cũ mới giao cai trạm chọn người đáng tin.”
Cấn quay phắt lại. Đầu trượng của ông chỉ thẳng vào ngực Lộ.
Cai trạm thoáng tái mặt.
“Thiết ấy nói ta là người giữ việc nên phải đứng ra,” Lộ chữa.
Cấn kéo đầu trượng thành một vòng trên đất, khoanh cả Lộ vào trong. Rồi ông chỉ người Dốc Sim, người Bờ Đá, những người trực trạm và cả đoàn của Hùng. Cuối cùng ông đập đầu trượng lên vòng đất.
Thanh nhìn dấu vòng. “Không phải chọn một người đáng tin. Mọi người có mặt đều bị giữ trong cùng một ranh. Ai biết mà giấu cũng thuộc việc.”
Sân trạm im phăng phắc.
Người đàn ông trẻ nhìn xuống chân. Bà già Bờ Đá tránh mắt Dại. Hai người trực trạm trao nhau một cái nhìn rất nhanh.
Ở mép sân, Tánh cũng nhìn xuống chân mình. Ai biết mà giấu cũng thuộc việc. Câu ấy không nói với nó, nhưng nó nghe như có người gọi tên.
Lộ cười gượng. “Công Thị chưa biết hết động tác. Vòng ấy cũng có thể là giữ người ngoài việc không được xen vào.”
“Có thể,” Thanh nói. “Vì vậy chưa ai được tự nhận phần mình hiểu là tất cả.”
Tánh nghe câu ấy liền nhớ cột đá dưới bến.
Một nửa lệ có thể đúng mà vẫn làm người khác bị oan.
• • •
Tới bước ở chiếc trống, mọi việc càng rối hơn.
Chiếc trống không lớn, mặt da đã sẫm màu khói. Nó được treo ngang dưới mái, hai đầu dây đỡ móc vào xà gỗ. Một mặt trống hướng ra sân, mặt kia gần sát tường.
Cấn đặt trượng dưới trống. Ông chạm vào tai, rồi vào miệng mình. Vết sẹo trên cổ kéo căng. Sau đó ông đánh lên mặt trống ba nhịp: một tiếng mạnh, một tiếng nhẹ, một tiếng mạnh.
Lộ nói: “Ba tiếng là phán xong. Mạnh, nhẹ, mạnh nghĩa là bên phá tường chịu hai phần, bên giữ tường chịu một.”
Sâm phản đối ngay. “Ai đặt ra cách tính ấy?”
“Lệ trạm.”
Cấn quay sang Lộ, dựng trượng đứng, hai bàn tay ép vào nhau.
“Thiết ấy nhận là đúng,” Lộ nói.
Cấn đột ngột giật cây trượng khỏi tay mình, ném xuống đất.
Mọi người sửng sốt.
Cây trượng nảy trên đá một tiếng khô. Cấn đứng nhìn nó, ngực phập phồng. Bảy mùa nay, mỗi động tác của ông đều đi qua miệng một người khác trước khi tới tai dân, và ra khỏi miệng ấy thì đã thành thứ khác. Ông cúi nhặt trượng lên, mặt đỏ vì tức và vì xấu hổ với chính cơn tức ấy.
Rồi ông lặp động tác hai bàn tay ép vào nhau, nhưng lần này chậm hơn: một bàn tay đứng yên, bàn kia áp tới, dừng trước khi chạm, lùi ra, rồi mới khép lại.
Vịnh nói: “Có một bước ở giữa.”
Cấn gật mạnh.
“Bước nào?” Hùng hỏi.
Ông chỉ phiến đá, giếng, trống. Rồi dùng trượng nối ba chỗ thành một đường. Nhưng đường ông vạch không đi thẳng. Từ phiến đá tới giếng, nó vòng qua sát cổng. Từ giếng tới trống, nó lại vòng qua mép tường phía đông.
Lộ nói: “Chỉ là đường đi của lễ. Cổng đông đã bị bịt từ lâu nên không làm đủ được.”
Cấn chỉ vào ông ta, sau đó lấy hai tay che mắt mình.
Tánh bật cười. “Thiết ấy bảo cai trạm giả mù.”
Lộ quắc mắt. “Mày hiểu được sao?”
“Không. Nhưng nhìn giống lắm.”
Vài người Dốc Sim bật cười theo. Hùng liếc Tánh. Nó ngậm miệng, nhưng mắt vẫn sáng.
Thanh đi lại đường Cấn vừa vạch. Phiến đá là nơi hai bên đặt lời. Giếng là nơi người thấy, người nghe bước vào cùng ranh. Trống có thể là nơi lời phán được nói ra cho mọi người, hoặc được giao cho người nhớ. Nhưng giữa ba chỗ còn một động tác mà không ai hiểu.
Nàng hỏi người trực trạm: “Cổng đông bị bịt khi nào?”
“Sau lần lở núi bảy mùa trước. Tường đông sập, cai trạm cho xây kín vì lối ấy không còn dùng.”
“Ai làm cai trạm khi đó?”
Người trực trạm nhìn Lộ.
Lộ đáp: “Ta. Bịt cổng để giữ trạm. Đêm ấy đất đổ lấp hai nhà, thú xuống tận sân. Nếu để hở, thú và kẻ trộm đều vào được.” Giọng ông ta không còn bóng bẩy. “Ta đã chôn người trong trạm này. Ai chưa chôn thì đừng dạy ta giữ tường.”
Không ai đáp. Điều ông ta nói là thật, và ai trong sân cũng biết là thật.
Cấn chống trượng, đi nhanh về phía tường đông. Mọi người theo sau.
Đoạn tường đang bị tranh nằm đúng nơi ấy. Đá chân tường lún xuống vì nước từ sườn dồn lại. Một khe nước nhỏ bị chặn sau lớp đá, tràn bùn vào phía Dốc Sim. Mười hai hòn Sâm đã dỡ tạo thành một lỗ thấp. Nước đang chảy qua đó, đục đỏ.
Cấn chỉ lỗ tường, rồi chỉ con đường lễ ông vừa vạch.
Thanh hiểu ra trước nhưng chưa nói. Nàng cúi xem nền đất. Dưới lớp bùn có hai phiến đá phẳng đặt song song, mép đá mòn lõm như từng bị nhiều bàn chân giẫm qua.
“Cổng đông từng là một phần của việc xét,” nàng nói.
Lộ đáp: “Chỉ là lối phụ.”
“Nếu chỉ là lối phụ, vì sao đường lễ phải vòng qua đây?”
“Người xưa thích đi vòng.”
Tánh nghe vậy liền nhặt một cành cây làm trượng.
“Tôi làm lại xem.”
Vịnh nắm vai nó. “Đừng phá thêm gì.”
“Tôi chỉ đi.”
Nó bắt chước Cấn: đặt cành ngang phiến đá cạnh cổng, chạm ngực, úp tay. Rồi bước tới giếng, làm động tác gọi người thấy. Đám trẻ trong sân nhìn thích thú, bắt đầu làm theo. Tánh vênh mặt, cố nhớ nhịp đánh trống.
“Mạnh, nhẹ, mạnh,” nó nói.
Cấn lắc đầu.
“Không phải à?”
Ông chỉ cổng đông.
Tánh kéo cành cây sau lưng, vừa đi vừa quay lại nhìn Cấn nên vấp vào rãnh thoát nước. Nó loạng choạng, bước xuyên qua lỗ tường, một chân ở trong, một chân ở ngoài. Đám trẻ cười ầm.
Xấu hổ, Tánh quay người định bước vào. Cấn đập trượng xuống đất liên tiếp.
Tất cả im bặt.
Ông chỉ Tánh, chỉ bàn chân ngoài tường, rồi áp hai tay vào nhau. Lần này, không còn khoảng dừng.
Thanh chạy tới, quên cả cái gối. “Đứng nguyên!”
Tánh cứng người trong tư thế nửa trong nửa ngoài.
Nàng nhìn hai phiến đá dưới chân nó. Một phiến nằm trong tường, một phiến nằm ngoài. Giữa chúng có một rãnh hẹp, vừa đủ đặt cán trượng.
“Không phải đi vòng cho đủ lễ,” nàng nói. “Phải đưa lời qua khỏi tường.”
Hùng bước tới. “Để làm gì?”
Cấn dùng trượng chỉ Sâm, rồi chỉ phần đất Dốc Sim ngoài tường. Ông kéo Tánh hẳn ra ngoài, quay nó nhìn vào sân. Tiếp đó ông gọi Dại đứng bên trong, đối mặt Tánh qua lỗ tường.
Thanh nói chậm: “Người trong ranh phải nghe người đứng ngoài ranh. Rồi đổi chỗ.”
Cấn gật. Ông gật ba lần, và ở lần thứ ba, mắt ông ướt.
Vịnh nhìn Lộ. “Cổng bị bịt, bước ấy biến mất.”
“Không cần bước ấy vẫn xét được,” Lộ nói. “Người hai bên đều vào sân.”
Sâm cười khô. “Vào sân của cai trạm, qua cổng của cai trạm, đứng trước người của cai trạm.”
Lộ quay sang Hùng. “Công Tự, đây chỉ là cách hiểu của họ. Thành phải có trong và ngoài. Nếu ai ở ngoài cũng có quyền nói như người trong, còn dựng tường làm gì?”
Hùng đặt bàn tay quấn lá lên lớp đá lạnh. Mới hôm qua, chàng đã phán một đứa trẻ giữa vách núi khi tay còn rát và chưa nghe hết một ai.
“Tường giữ người khỏi thú dữ và giặc,” chàng nói. “Không phải để người bên trong khỏi nghe người bên ngoài.”
Cấn nhìn chàng, chống đầu trượng xuống một phiến đá. Rồi ông chỉ ba chỗ lần lượt: phiến đá đặt lời, giếng gọi người biết, cổng đổi chỗ. Cuối cùng mới chỉ chiếc trống.
Ba bước trước tiếng trống.
Lộ đã bỏ một bước và biến ba nhịp trống thành một phép chia có lợi cho người giữ trạm.
• • •
Cuộc xét được làm lại từ đầu.
Sâm đứng ở phiến đá, nhận mình đã dỡ mười hai hòn tường mà không báo trạm. Dại nhận mình đứng trên tường ngăn họ nhưng vẫn không nhận đã ném đá.
Ở giếng, người đàn ông Dốc Sim kể điều đã thấy và nghe. Sau đó, một người trực trạm trẻ bước ra. Người ấy thú thật rằng trước khi tường trượt, Dại đã lấy ba hòn đá nhỏ từ giỏ, nhưng vì quay đi gọi Lộ nên không thấy Dại ném hay chưa.
Một bà già Bờ Đá lại nói nước ở chân tường đã dâng ba ngày. Bà từng bảo người trực mở rãnh nhưng bị từ chối vì chưa có lệnh cai trạm.
Tới cổng đông, Cấn cho Sâm đứng trong, Dại đứng ngoài. Sâm phải nói lại lời của Dại như mình hiểu. Bà nói cậu sợ người Dốc Sim lấy hết đá, tường hở sẽ khiến thú vào trạm. Dại nghe xong, vẻ giận giảm đi một chút.
Rồi hai người đổi chỗ.
Dại phải nói lại lời Sâm. Cậu lúng túng rất lâu mới nói được rằng nước bị tường chặn đã tràn vào bếp, làm hỏng gạo và khiến người Dốc Sim sợ cả sườn đất đổ xuống nhà.
“Ấu đâu biết bếp họ ngập,” cậu nói, và lần đầu trong ngày, giọng cậu là giọng một đứa trẻ mười một tuổi.
Sâm đáp: “Mày chưa từng bước qua tường.” Nhưng bà nói câu ấy không còn như quát.
Cấn đưa trượng ngăn câu tiếp theo. Ông gọi Lộ ra đổi chỗ với người đàn bà.
Cai trạm không chịu.
“Ta là người coi tường. Ta không thuộc bên tranh.”
Cấn chỉ rãnh nước bị bịt, rồi chỉ ông ta.
Hùng nói: “Cai trạm ra lệnh xây kín cổng. Việc hôm nay có phần của cai trạm.”
Lộ nhìn quanh. Những người trực trạm không ai bước ra bênh. Ông ta đứng thêm một nhịp, hai bàn tay mở ra rồi nắm lại bên vạt áo. Rồi ông ta đi qua lỗ tường, cúi đầu cho khỏi chạm đá.
Đứng ngoài, nhìn lớp đá cao ngang ngực, Lộ không còn thấy sân trạm như nơi mình coi giữ. Ông chỉ thấy những khuôn mặt bên trong nhìn xuống, và cánh cổng chính ở xa khỏi tầm tay. Bùn đỏ ngập tới mắt cá, lạnh, thấm qua đôi guốc gỗ ông vẫn tự hào là không bao giờ bẩn.
Sâm bảo ông nói lại điều người Dốc Sim sợ.
Lộ im rất lâu.
“Sợ nước dâng.”
“Còn gì?”
“Sợ đất lở.”
“Còn gì?”
Ông ta nghiến răng. Rồi cái nghiến ấy lỏng ra. “Sợ người trong trạm không nghe.”
Ông ta nói câu ấy bằng giọng của người từng đứng trong sân đêm đất đổ mà gọi không ai tới.
Cấn gõ một tiếng lên đá.
Sau khi mọi người trở lại sân, ông mới tới trống. Ông đánh ba nhịp: một tiếng gọi người, một tiếng giữ lệ, một tiếng giao cho người nhớ. Không ai biết chắc tên của ba nhịp ấy, nhưng sau mỗi tiếng, ông đều chỉ vào một nhóm khác nhau: những người trong việc, những người giữ ranh và những người phải truyền lại.
Thanh không đặt tên thay ông. Nàng chỉ chép đúng động tác và người được chỉ.
Cấn lần lượt chỉ vào người giữ trạm, người nói thay Bờ Đá rồi người nói thay Dốc Sim. Ông diễn lại từng phần, chậm đến mức ai cũng có thể ngăn nếu thấy sai. Chỉ khi lời được nhắc lại từ cả hai phía và không còn ai phản đối, ông mới gõ trượng xuống phiến đá.
Lời xét của trạm được dựng từ những gì đã rõ: Dốc Sim không được tự ý lấy đá nữa; trạm phải mở rãnh thoát nước ngay trong ngày và dựng lại cổng đông đủ cho người đi bộ qua khi xét việc; Dại không bị buộc tội ném đá vì không ai thấy cậu ném, nhưng phải cùng người trực trạm mang thuốc sang Dốc Sim, nhìn phần bếp bị ngập. Số đá đã dỡ không đưa trở lại chỗ chặn nước mà dùng để xây hai cạnh rãnh.
Những người giữ trạm cũng nhất trí không để Lộ một mình nói thay động tác của Cấn nữa. Từ nay, mỗi lần Cấn làm động tác, phải có hai người ở hai xóm cùng nói điều họ hiểu; chỗ nào không cùng ý thì để trống, không ai được lấp bằng lời có lợi cho mình. Hùng và Thanh chỉ đứng ngoài vòng người, một người nghe, một người chép lại lời xét ấy.
Không phải mọi người đều vui. Dại vẫn cho rằng mình bị làm nhục. Sâm vẫn muốn trạm bồi số gạo đã hỏng. Lộ đứng cạnh tường, mặt xám như đá ướt.
Nhưng trước khi mặt trời xuống, người Bờ Đá và Dốc Sim đã cùng đào rãnh. Lộ cũng cầm cuốc, không ai bảo. Nước đỏ chảy ra ngoài, đất sau tường bắt đầu hạ xuống. Mười hai hòn đá được xếp thành hai hàng giữ mép rãnh, không còn là phần tường bị mất mà thành một ranh mới để giữ cả trong lẫn ngoài.
Tánh đứng nhìn họ làm.
Vịnh tới cạnh nó. “Mày bắt chước sai mà lại tìm ra bước đúng.”
“Tôi cố ý đấy.”
“Ừ.”
“Cư Vịnh không tin à?”
“Ta tin mày cố ý vấp.”
Tánh bật cười, rồi nhớ ra điều hệ trọng. “Can Hựu thế nào?”
“Tỉnh. Đòi ăn.”
Nó chạy được hai bước thì dừng, quay lại nhìn Vịnh.
“Tôi vào được không?”
“Mày hỏi ta làm gì?”
“Can bảo nghe Cư Vịnh.”
Vịnh nhìn nó một lúc. “Vào. Đi chậm.”
Tánh đi thật chậm được ba bước, rồi chạy mất.
• • •
Hựu ngồi dựa vách, tay ôm bát cháo loãng. Trên chiếu bên cạnh, Du ngủ há miệng, cơn sốt đã lui hẳn.
Tánh bước vào nhà thuốc, đứng cách cáng hai bước.
“Can Hựu còn giận không?”
Hựu húp một ngụm. “Còn.”
“Can ăn được rồi.”
“Giận đâu cần nhịn ăn.”
“Cư Vịnh bảo Địa đi tiếp được.”
“Cư Vịnh nói thế?”
“Cư Vịnh bảo vào. Đi chậm.”
Hựu bật cười rồi nhăn mặt vì đau. “Thiết Bách vừa kể chuyện ngoài sân. Mày giỏi đổi lời thật. Ở lại trạm này mà nói thay người ta thì hợp.”
Tánh đỏ mặt đến tận tai.
Bách đang giã thuốc ở góc nhà nói: “Vịnh chỉ cho thằng này vào đây.”
Tánh lườm ông. “Thiết Bách nghe hết à?”
“Tai ta chưa bị thương.”
Hùng và Thanh bước vào sau đó, có Vịnh theo sau. Cấn dừng ở ngưỡng cửa, tựa vào cây trượng. Tánh lập tức thôi cãi.
Hùng hỏi Bách trước. Hựu chưa thể đi bộ, nhưng có thể nằm cáng tới xóm gần nhất sau hai ngày nghỉ. Vết thương không sốt. Hai ngày ấy cũng vừa đủ cho người coi lương từ bãi Sậy lên tới, và cho người trạm lần theo dấu Vịnh khắc trên thân cây, quay lại hốc cây lấy mấy chiếc gùi.
“Còn Tánh?” Hùng hỏi.
Bách nhìn nó. “Sức khỏe tốt. Bệnh nhiều lời chưa khỏi.”
“Tôi hỏi thằng Tánh có được theo đoàn không.”
“Việc ấy Công Tự hỏi Vịnh và Hựu.”
Hùng không hỏi ngay. Chàng nhìn ra sân, nơi phiến đá cạnh cổng còn in vệt cán trượng.
“Hôm qua trên vách núi, ta đã gõ trống trước,” chàng nói. “Chưa đặt lời. Chưa gọi người thấy. Chưa đổi chỗ.” Chàng quay lại. “Hôm nay làm cho đủ.”
Cấn, ở ngưỡng cửa, ngẩng lên.
“Tánh. Đặt lời của mày.”
Tánh nuốt khan. Nó đã nói một lần với Hựu, nhưng nói lại trước ngần ấy người khó hơn nhiều. “Địa giấu chuyện lối trên có bẫy. Địa bỏ hàng. Địa muốn mọi người thấy đường của Địa nhanh.”
“Người thấy.”
Vịnh nói: “Thằng ấy giấu. Rồi thằng ấy tìm ra dây phụ, và nói rõ phần mình không biết. Lúc hạ gỗ, thằng ấy giữ theo nhịp, không giật.”
Bách nói: “Thằng này khiêng nửa ngày không làm xóc cáng. Mỏi thì báo. Bảo buông đá thì buông.”
Hùng nhìn sang Thanh.
“Tôi không xin cho thằng ấy,” nàng nói từ chỗ cột. “Tôi chỉ ghi hai dòng cạnh nhau: điều thằng ấy đã giấu, và điều thằng ấy vừa tự nói ra trước ngần này người.”
“Đổi chỗ,” Hùng nói. “Tánh, nói lại điều Can Hựu sợ.”
Tánh nhìn người lính. Nó nghĩ rất lâu.
“Can Hựu sợ... nằm đó mà không ai tới kịp.” Giọng nó nhỏ dần. “Sợ các ấu ở nhà chờ. Sợ đứa làm mình bị thương lại là đứa khiêng mình, mà đứa ấy buông.”
Hựu không nói gì. Bàn tay cầm bát của anh ta đặt xuống đùi.
“Can Hựu,” Hùng nói. “Nói lại điều thằng Tánh sợ.”
Người lính nhìn đứa trẻ, lâu như lúc sáng trong hõm đá.
“Sợ bị đuổi về.” Anh ta thở một hơi ngắn vì đau sườn. “Sợ cả đời chỉ được nhớ là đứa làm người khác chảy máu.”
Mắt Tánh đỏ lên. Nó không quệt.
Hùng im một nhịp. Rồi chàng nói điều không ai bảo chàng nói: “Còn ta, ta sợ mình đã đuổi một đứa trẻ để khỏi phải nhìn phần lỗi của chính mình.”
Thanh, đứng tựa cột, khẽ nhắm mắt.
Ngoài ngưỡng cửa, Cấn gõ cán trượng xuống nền. Một tiếng. Hai tiếng. Ba tiếng.
Vịnh đứng thẳng lên. “Cho thằng ấy đi. Nhưng hết Cương Châu mới xét lại. Không được dẫn đường một mình, không được tự rời hàng. Biết mà giấu, quay về ngay.”
Hùng nhìn Hựu.
Người lính đặt bát xuống. “Tôi chưa tha. Nhưng nếu đuổi thằng ấy về bây giờ, người gánh cáng tôi lại thiếu một.”
Tánh quay sang Hùng, cố đứng thật yên.
“Mày nghe rõ chưa?” chàng hỏi.
“Rõ.”
“Nhắc lại.”
Tánh nhắc đủ ba điều của Vịnh. Lần này nó không thêm rằng mình sẽ làm được. Nó chỉ nói:
“Địa xin giữ.”
Hùng gật. “Vậy đi tiếp.”
Tánh cúi đầu rất nhanh, như sợ mọi người thấy mắt nó sáng lên.
Vịnh dúi vào tay nó nửa củ nước còn lại. “Đừng mừng sớm. Mày vẫn chưa được đi đầu.”
“Không đi đầu cũng là đi.” Nó cắn một miếng, vừa nhai vừa nói nên bị sặc.
Bách vỗ lưng nó một cái đến bật cả người. “Không ai đuổi mà tự nghẹn chết thì ta không chữa đâu.”
Tánh ho đến chảy nước mắt, vẫn cố ôm củ nước khỏi rơi. Cấn nhìn nó, khóe mắt nhăn lại. Ông không cười thành tiếng, chỉ gõ cán trượng một nhịp nhẹ xuống nền.
• • •
Chiều hôm ấy, Thanh trở lại chiếc trống. Nút thứ sáu nàng đã buộc lúc ngồi chờ Bách ngoài nhà thuốc; nó nằm trong túi áo, cạnh viên đá tròn.
Cấn đang ngồi dưới mái hiên, lấy giẻ lau mặt da trống. Sau cuộc xét, vẻ mỏi mệt làm vết sẹo trên cổ ông càng sâu. Thanh đặt bản chép trước mặt ông, đọc từng động tác đã ghi. Chỗ nào đúng, ông gõ một nhịp. Chỗ nào chưa chắc, ông đặt bàn tay lên thẻ.
Nàng không sửa những chỗ ấy theo ý mình. Nàng vạch một nét ngang để trống, như đã để trống giữa hai dòng chữ trên cột đá.
Khi nàng đọc tới ba tiếng trống cuối, Cấn giữ tay nàng lại.
Ông chỉ mặt trống, rồi chỉ phía sau.
“Mặt kia?” Thanh hỏi.
Cấn gật.
Mặt sau trống gần sát tường. Muốn nhìn phải tháo dây, nhưng một đầu dây đã chai cứng vì nhiều năm không động. Vịnh và một người trực trạm tới giúp. Tánh cũng chạy theo, nhưng vừa giơ tay đã bị Vịnh nhìn. Nó tự lùi lại.
Họ hạ trống xuống một tấm chiếu.
Phần gỗ phía sau không nhẵn như mặt trước. Trên tang trống có nhiều vết khắc chồng lên nhau: nét sâu đã đen, nét nông còn sáng, có chỗ bị đục bỏ rồi khắc lại. Một số dấu giống chữ Khoa Đẩu, số khác chỉ là hình người, đường ranh và một bàn tay mở.
Thanh dùng khăn lau lớp bụi mỏng. Ba cụm dấu hiện ra dưới vành trống.
Cấn chạm lần lượt vào chúng: hình người đứng, một đường có cọc, rồi một vòng dấu nhỏ như mắt chim.
Người. Ranh. Nhớ.
Hay một nghĩa nào gần như thế.
Hùng cúi sát hơn. “Các dấu không cùng một đời.”
Thanh gật. Có nét bị dấu mới cắt ngang. Có hình quay ngược so với phần còn lại. Người sửa trống qua nhiều đời đã giữ lại điều mình hiểu và xóa điều mình cho là thừa. Nếu đọc tất cả như một hàng duy nhất, thứ tự sẽ sai.
Tánh chỉ một vết ở sát mép dưới. “Cái này giống mũi tên.”
“Đừng chạm,” Vịnh nói.
Nó rụt tay. “Tôi chỉ nói.”
Dấu ấy rất nhỏ, nằm sau một mảng gỗ vá. Đầu nhọn quay về phía đông nam, nhưng phần đuôi bị lớp vá che mất.
Cấn gõ trượng hai lần, chỉ dấu đó rồi chỉ con đường rời trạm.
Thanh nhìn Hùng. Dấu sau lưng trống có thể dẫn họ tới nơi khác, nhưng trước hết phải tách được lớp nào có trước, lớp nào được thêm sau.
Ngoài tường đông, nước vẫn chảy qua rãnh mới. Hai hàng đá giữ đất hai bên, vừa phân ranh vừa cho dòng nước đi qua.
Một bức thành chỉ giữ được người bên trong khi nó biết mình phải mở ở đâu.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.