Chương 3: Phiến Chữ Không Đọc Được
Huyền Thoại Lục Thập Hoa Giáp
Mục lục
21 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 21/21 chương
Sáng hôm sau, trên chiếu ở gian ngoài nhà giữ giống, bản dập
chiếc muỗng nằm giữa Hùng và Thanh như một con vật nhỏ vừa được kéo ra khỏi
hang tối.
Hôm qua Thanh đã trải vải mỏng lên mặt gỗ, miết than cho từng
đoạn hiện lên. Những vết khắc không đều. Có nét đậm như móc câu, có chấm chỉ vừa
đủ giữ một hạt than, lại có những đường xiên nối nhau giống dấu chân chim chạy
trên bãi bùn.
Hùng đặt bên cạnh bản dập mảnh vẽ ba dấu đóng mở của đường
nước chảy về kho lương. Chàng xoay hai mảnh vải cho đến khi một nét cong ở
chúng cùng hướng, và mắt chàng sáng lên.
“Bậu xem này!” Chàng gõ ngón tay lên nét cong. “Nếu dấu này
là nước, thì hai chấm phía sau có thể là hai cửa. Còn nét xiên lặp ba lần, biết
đâu là số lần mở!”
Thanh đang chép lại tên những nhà từng giữ giống. Nàng không
ngẩng lên.
“Hoặc đó là gió, hai đêm và ba lượt hong.”
“Nhưng Già Thị Mộc bảo hàng giữa mới nhắc nước cơ mà.”
“Già Thị cũng bảo chẳng ai đọc trọn.”
Hùng không chịu thua. Chàng lấy ba thẻ tre, chép riêng từng
dấu rồi đổi chỗ chúng như người chơi cờ. Khi xếp nét cong trước chấm lõm, chuỗi
dấu giống một đường nước mở vào hai nhánh. Đổi chấm lên đầu, nó lại giống hai
con mắt nhìn xuống một cái móc.
“Chúng có thứ tự, bậu ạ. Chắc chắn có.” Chàng chồm tới, say
sưa. “Chỉ cần tìm được chỗ lặp là qua lần ra cách ghép!”
Thanh đặt bút xuống. Nàng nhìn chàng một lúc, nửa buồn cười
nửa lo.
“Bậu đang làm đúng cái điều Già Thị Mộc dặn đừng làm đấy.”
“Qua đã nói chắc điều gì đâu.”
“Chưa nói chắc, nhưng bậu đã gọi nó là nước, là cửa, là số lần
rồi kia.” Nàng nhướn mày. “Gọi tên xong thì còn khó gỡ hơn nút dây.”
Hùng tựa lưng vào cột, thở hắt ra. Mười hai ngày qua, Thanh
đã học cách nhìn một hạt giống như vật đang sống. Còn chàng đã đi hết những miệng
nước cũ với lão Cẩn, đo từng đoạn ống và thử từng phiến đá. Cả hai đều vừa tìm
được một điều đúng, vì thế ai cũng dễ tin cách làm của mình đúng hơn.
“Nhưng nếu chỉ đi hỏi,” chàng nói, dịu giọng hơn, “thì mỗi
người kể một phách. Qua cần biết phần nào không đổi.”
“Muốn biết phần nào không đổi thì trước hết phải tìm ra người
còn dùng nó.”
“Thế nếu chẳng còn ai?”
Thanh gấp bản ghi tên lại. Câu hỏi ấy nàng cũng đã tự hỏi
mình cả đêm.
“Khi ấy chúng ta mới được phép nhận là mình không biết.”
Nàng nói khẽ. “Chưa tìm mà đã đoán thì khác gì qua đem hạt đi ngâm lúc chưa hỏi
ai.”
Nàng cuộn bản dập, buộc bằng đúng kiểu nút Mộc đã dạy. Hùng
nhìn hai đầu dây bằng nhau, và lần này chàng biết nhịn, không hỏi nó có nghĩa
gì.
“Vậy bậu định bắt đầu ở đâu?”
“Ở nơi người ta dùng cả gió lẫn nước, mà chẳng cần gọi tên
chúng trên thẻ.”
• • •
Phường nhuộm nằm sát con lạch phía đông thành. Nước ở đó
không trong. Mỗi dãy nhà trả xuống một màu: xanh chàm, vàng vỏ cây, nâu củ nâu.
Các dòng màu chen nhau trong rãnh hẹp rồi loãng dần trước khi đổ ra sông.
Sau những bức vách thấp là các bếp đất ôm kín đáy bể nhuộm.
Lửa không được để cháy lộ; nó bị giữ trong những đường hẹp dưới lớp gạch, hút
gió qua một miệng nhỏ rồi dồn sức nóng lên đáy bể. Vỏ cây xỉn màu, lá chàm và
nước tro đi vào đó như những thứ rời rạc. Qua một khoảng nóng dữ dội, chúng biến
thành màu có thể bám lại trên vải. Chỉ cần người giữ bếp thúc củi quá mạnh, nước
sôi trào sẽ phá cả mẻ; nhưng nếu không đủ nóng, màu không bao giờ chịu đổi.
Hùng đứng nhìn một tấm vải nhạt dần chuyển sang xanh khi được
nhấc khỏi bể. Chàng chợt thấy những dấu trên bản dập cũng giống vật liệu chưa
qua lò: có hình mà chưa thành nghĩa. Muốn chúng biến đổi, xoay trên chiếu thôi
chưa đủ. Chúng phải đi qua sức nóng của những bàn tay còn dùng chúng.
Thanh không tìm người đứng đầu phường. Nàng đi dọc những
giàn vải, chân đau còn hơi khập khiễng, hỏi từng người xem họ có nhận ra dấu
trên bản dập hay không.
Người thứ nhất bảo nét cong là móc phơi. Người thứ hai nói
chắc như đinh đóng cột rằng đó là con đỉa. Một bà già đang giặt vải nhận ra mấy
chấm dùng để đánh dấu số lần xả, nhưng dấu của bà là ba vết cắt thẳng, không phải
chấm lõm. Một cậu bé nhìn hàng nét xiên rồi cười nắc nẻ, bảo giống vết gà chạy
qua tro.
Hùng ghi tất cả câu trả lời. Đến người thứ mười, chàng không
nhịn được nữa, bắt đầu chia chúng thành nhóm. Nét cong thường được gắn với vật
kéo hoặc dòng chảy. Chấm thường là số lần. Nét xiên có thể chỉ hướng.
Thanh ngó qua vai chàng, thấy những cột ghi trên thẻ.
“Đấy, bậu lại ghép rồi.”
“Đâu có.” Hùng che thẻ lại như đứa trẻ bị bắt quả tang ăn vụng.
“Qua chỉ ghi điều lặp.”
“Người ta nhìn cùng một hình mà gọi ra mười thứ khác nhau.
Điều ấy cũng lặp đấy, sao bậu không ghi?”
Hùng há miệng, chưa kịp tìm ra câu đáp thì từ cuối ngõ vang
lên tiếng quát. Một người đàn ông vạm vỡ đang túm cổ tay một cô gái trẻ. Dưới
chân họ là tấm vải xanh loang lổ những vệt trắng.
Ngay bên cạnh, nước trong bể đã dâng tràn qua một bên miệng,
chảy xuống làm nền đất quanh chân kê nhão ra. Một chân kê lún xuống, khiến bể
nhuộm nghiêng mạnh. Nắp gỗ trượt khỏi miệng, luồng hơi xanh xám lập tức tràn
ra, buộc những người đứng gần phải lùi lại. Cuộc tranh cãi cũng bùng nhanh như
thế: một lời buộc tội gặp sự im lặng, rồi tự lấy sức nóng của mình làm bằng chứng.
“Mày mở nước sớm!” ông ta gằn giọng, mặt đỏ gay. “Cả mẻ chàm
của tao nhạt hết rồi, mày thấy chưa?”
Cô gái giằng tay, nước mắt đã vòng quanh nhưng giọng không
chịu lùi.
“Ấu chưa đụng vào cửa nước! Ấu thề!”
“Không mở thì nước ở đâu tràn vào bể? Nó tự mọc chân mà chạy
vào chắc?”
Mấy người thợ bu lại. Một người nhận ra Hùng và Thanh, vội
cúi người chào rồi định chạy đi gọi người giữ phường. Hùng ngăn ông ta.
“Khoan đã. Chúng tôi không đến xử việc.”
Người đàn ông vẫn không buông cô gái. Ông ta quay sang Hùng,
vừa tức vừa như sắp khóc vì tiếc của.
“Công Tự nhìn đi! Mậu này coi rãnh trên. Nước vào sai giờ,
ngoài Mậu ấy ra còn ai?”
Thanh không nhìn hai người đang giằng nhau. Nàng nhìn bể nhuộm.
Trên mặt nước xanh có một lớp bọt mỏng dồn về phía góc tường. Nàng quay sang cô
gái, hỏi nhỏ nhẹ như không có ai đang quát tháo bên cạnh:
“Công Thị, rãnh trên ở đâu?”
Cô gái sụt sịt, chỉ qua ba căn nhà.
“Nước từ lạch đi qua khe đá rồi mới vào máng. Tôi chỉ nhấc tấm
chắn khi nghe đủ ba tiếng mõ. Chưa bao giờ làm khác.”
“Sáng nay có mõ không?”
“Không. Không một tiếng nào.”
Hùng bước đến bờ bể nhưng không chạm tay vào nước. Chàng
dùng một mảnh gốm vỡ hứng phần nước đang dồn về góc, đặt sang bên chờ nguội rồi
ghé nhìn. Lớp nước ấy nhạt màu hơn phần còn lại, gần như không có mùi tro.
Chàng nhìn lên rãnh dẫn. Nó rộng chưa đầy bàn tay, chạy men chân tường rồi mất
dưới một đống vỏ cây.
Chàng đã thấy một dòng nước như thế này rồi. Dưới nền một
cái kho.
“Buông tay người ta ra,” chàng nói.
Người đàn ông chần chừ. “Nhưng mà...”
“Ta chưa nói ai vô can.” Hùng không cao giọng, nhưng chàng
nhìn thẳng vào ông ta, và trong mắt chàng có cái nóng của người đã từng suýt mắc
đúng lỗi ấy. “Ta nói Công Tự đang giữ người khi chưa biết nước đến từ đâu.
Buông ra đã.”
Ông ta buông tay. Cô gái ôm lấy cổ tay hằn đỏ, lùi lại.
Cô chưa lùi được hai bước thì chân kê thứ hai sụt xuống bùn.
Bể nhuộm đổ nghiêng hẳn về phía cô, nước chàm còn bốc hơi sóng qua miệng bể.
Người đàn ông vạm vỡ lao tới trước cả Hùng. Bàn tay vừa siết
cổ tay cô gái giờ xô cô ngã dúi ra xa, rồi ông ghé cả vai vào thành bể. Hùng chạy
tới ghé vai bên kia. Thành bể nóng rẫy qua lớp áo; bả vai chưa lành của chàng
nhói lên như bị dao cứa. Nước chàm nóng tràn xuống ống chân hai người.
“Chèn! Chèn chân kê!” ông ta gào.
Thanh đã vần một khúc gỗ tới, quên cả cái gối đau. Cô gái lồm
cồm bò dậy, cùng nàng thúc khúc gỗ vào dưới đáy bể. Bà già giặt vải ném thêm
hai viên gạch. Cái bể rùng một cái rồi đứng lại, nghiêng nhưng vững.
Không ai nói gì trong mấy hơi thở. Người đàn ông nhìn ống
chân mình nhuộm xanh, rồi nhìn cô gái đang phủi bùn trên khuỷu tay. Ông mở miệng,
không tìm ra lời, bèn quay đi lấy tay áo lau mặt.
Thanh là người nhớ ra trước rằng nước vẫn đang vào. Nàng ngồi
xuống cạnh rãnh, chân đau duỗi sang một bên. Nàng bẻ một cọng rơm, thả vào dòng
nước. Cọng rơm bị hút qua khe dưới đống vỏ cây, biến mất rồi hiện ra ở bể nhuộm.
“Đấy, nó đi lối này.” Nàng ngẩng lên. “Khe ấy lúc nào cũng
có nước sao?”
Cô gái lắc đầu. “Chỉ khi mực lạch cao.”
“Mà đêm qua có mưa đâu.”
“Nhưng dãy trên xả bể ngâm vỏ!” Một bà thợ chen vào, vỗ đùi
như vừa nhớ ra. “Nước dâng nhanh lắm, có ai kịp đánh mõ đâu.”
Người đàn ông vạm vỡ đứng ngẩn ra, hai bàn tay to bè thõng
xuống. Hùng không nói gì với ông ta. Chàng kéo đống vỏ cây sang bên. Dưới đó là
một phiến đá dài chặn ngang rãnh. Nước không chảy qua mặt đá mà len theo một đường
nứt mảnh ở chân tường. Khe nhỏ đến mức một ngón tay cũng không lọt, nhưng dòng
nước chạy qua rất nhanh, sáng lên rồi khuất vào bóng tối.
Trên mặt phiến đá có ba vết khía: một móc cong, hai chấm lõm
và một hàng nét xiên.
Hùng nghe tim mình nện vào lồng ngực. Bên cạnh chàng, Thanh
đã mở bản dập chiếc muỗng, tay hơi run. Những người đứng quanh im dần.
Chàng đặt bản dập sát phiến đá. Nét không hoàn toàn giống
nhau. Dấu trên đá thô hơn, một nhánh quay ngược. Nhưng nhịp của ba hàng gần như
trùng khớp.
“Ai làm phiến chắn này?” chàng hỏi, giọng khàn đi.
Không ai trả lời. Người ta nhìn nhau, rồi nhìn xuống đất.
Cô gái bị giữ tay lúc nãy nói nhỏ:
“Già Thị Lài biết.”
“Già Thị Lài ở đâu?”
“Dưới bến cũ. Già Thị từng gọi nước cho các phường.” Cô ngập
ngừng, liếc về phía những người thợ lớn tuổi. “Nhưng ba năm nay người giữ phường
không cho Già Thị đụng đến cửa nước nữa.”
“Vì sao?” Thanh hỏi, và giọng nàng đã có cái sắc mà Hùng
quen.
“Vì Già Thị không biết chữ trên thẻ. Chỉ nhớ dấu đá với tiếng
mõ thôi.”
Thanh và Hùng nhìn nhau. Không ai phải nói ra điều cả hai
cùng nghĩ.
• • •
Bà Lài sống trong căn lều tựa lưng vào bờ đất, nơi con lạch
chia thành nhiều rãnh nhỏ trước khi vào thành. Bà gầy đến mức hai cổ tay giống
những nhánh củi khô, nhưng bàn chân bè rộng, các ngón bám đất như rễ cây.
Khi Thanh mở bản dập, bà không nhìn ngay. Bà đưa tay sờ mép
vải, ngửi mùi than rồi hỏi cộc lốc:
“Lấy ở đâu?”
“Dạ, dưới cán một chiếc muỗng giữ giống,” Thanh đáp. “Vật gốc
Ấu vẫn để ở nhà giữ giống, không dám mang đi.”
Bà Lài gật đầu. Cái nhìn bà ném cho nàng bớt gai đi một
chút.
“Biết để vật ở chỗ của nó là tốt.”
Hùng trải thêm mảnh vẽ ba dấu đường nước, không giấu được vẻ
háo hức.
“Còn những dấu này thì ở miệng một ống nước cũ bên bờ bắc,
nhánh chảy về kho lương, Già Thị ạ.”
Bà chỉ liếc một thoáng.
“Vẽ thế này thì chưa đọc được.”
Hùng khựng lại như bị ai gõ vào trán. “Chưa đọc được... chỗ
nào ạ?”
“Nếu là dấu nước thì dấu thứ ba phải nằm nghiêng theo dòng.
Công Tự vẽ nó đứng thẳng thế này: hoặc tay Công Tự chép sai, hoặc đó không phải
dấu tôi biết.”
“Một dấu mà đổi nghĩa theo hướng đặt sao?”
“Dấu nào chẳng đổi khi quay đầu.” Bà nói như nói một điều trẻ
lên ba cũng biết. “Người còn đổi nữa là.”
Hùng nhìn xuống mảnh vẽ, và nhận ra mình không nhớ nổi trên
miệng ống dấu ấy nằm thẳng hay nghiêng. Chàng đã chép hình mà không chép hướng
dòng. Lão Cẩn đã miết ngón tay qua dấu ấy đến bật bùn dưới móng mà không đọc
ra. Chàng tự nhủ phải về bờ bắc nhìn lại cùng lão, sớm nhất có thể.
Bà chống gối đứng dậy, cầm một cây gậy có đầu mòn nhẵn.
“Muốn hỏi thì theo tôi. Đừng bắt tôi ngồi nói chuyện với vải.”
Bà dẫn họ men theo lạch. Nước đầu mùa cạn, chỉ lấp xấp mắt
cá, nhưng chỗ bờ hẹp dòng chảy xiết đến mức cuốn cát thành những vệt dài. Cứ
qua một đoạn, bà lại dừng, lấy gậy gõ vào đá rồi cúi nghe. Thanh đi chậm phía
sau vì cái gối đau; bà không ngoái lại, nhưng mỗi lần dừng đều dừng lâu vừa đủ
cho nàng theo kịp.
Hùng để ý số nhịp: chỗ thì một tiếng, chỗ hai tiếng gần
nhau, chỗ ba tiếng cách quãng. Chàng vừa rút thẻ định ghi thì đầu gậy của bà
Lài đã gạt thẻ tre xuống.
“Nghe đã.”
“Nhưng Ấu cần nhớ thứ tự...”
“Công Tự nhớ tiếng gậy mà không nhớ tiếng nước thì thứ tự ấy
đem ra làm gì? Kê chân chõng à?”
Thanh quay mặt đi, vai rung lên. Hùng đành cất thẻ, tai nóng
bừng, và lắng nghe.
Tiếng nước không giống nhau. Ở bờ đất, nó rì rầm thấp. Qua
khe đá, nó bật lên sắc và nhanh. Dưới một gốc sung, dòng nước biến mất hẳn,
nhưng áp tai xuống đất vẫn nghe tiếng róc rách chạy bên dưới. Hùng nhắm mắt.
Chàng nhớ một buổi sớm đứng trên phiến đá lạnh, nghe đúng tiếng ấy mà không hiểu
nó muốn nói gì.
Bà Lài dừng ở đó. Trên rễ sung có một dãy vết khắc gần giống
hàng đầu của chiếc muỗng.
“Hàng này không phải chữ gió,” bà nói. “Nó bảo phải để mặt
nước thở.”
Thanh ngồi xuống cạnh rễ cây, hỏi như một đứa học trò:
“Thở bằng cách nào hả Già Thị?”
Bà dùng gậy moi lớp lá mục khỏi một lỗ nhỏ cạnh rễ. Không
khí thoát ra, mang theo mùi bùn lạnh. Dòng nước dưới đất bỗng kêu rõ hơn, như
người vừa được nới cổ áo.
“Nước bị ép trong khe thì phải có chỗ cho khí ra. Bịt cái lỗ
này lại, dòng dưới dội ngược ngay.” Bà gõ gậy xuống đất. “Tôi nghe nói nhà giữ
giống hong hạt cũng một lẽ ấy. Túi kín quá thì hạt chết ngạt. Có phải người xưa
dùng chung một dấu cho những thứ cần được thở hay không thì tôi chỉ đoán; muốn
chắc, về mà hỏi người giữ giống.”
Thanh ngồi lặng. Hai đêm canh nia hạt dưới gió hiện về trong
đầu nàng, và nàng thấy sống mũi cay cay mà không hiểu vì sao.
Hùng nhìn bản dập. Thanh đã gọi nó là gió. Mộc cũng truyền rằng
hàng đầu nhắc gió. Cả hai đều không hẳn sai, nhưng tên gọi chỉ chạm vào phần nổi.
“Còn hàng giữa thì sao ạ?” Thanh hỏi.
Bà Lài không đáp ngay. Bà dẫn họ đi tiếp.
Họ đi ngang cửa chia nước lớn. Cái chốt gỗ còn vết cạy mới.
Mấy người đàn ông ngồi canh trên bờ, mấy người khác đứng nhìn lên từ phía bãi
dưới, không bên nào nói với bên nào. Bà Lài đi qua, không nhìn ai. Chỉ có đầu gậy
của bà gõ xuống đất mạnh hơn.
Qua khỏi đó một quãng, bà dừng ở nơi lạch bị bó giữa hai phiến
đá. Bà nhặt ba viên sỏi, đặt một viên ở đầu khe, hai viên ở cuối rồi dùng gậy vẽ
một nét cong.
“Nước vào một, ra hai. Không được mở hai cửa cùng lúc. Mở cửa
thấp trước cho bùn đi, rồi mới mở cửa cao lấy nước trong.”
“Vậy hai chấm không phải hai lần,” Hùng lẩm bẩm.
“Có lúc là hai lần. Có lúc là hai cửa.” Bà nhún vai. “Dấu chỉ
nhắc việc phải tách đôi. Muốn biết tách cái gì thì nhìn chỗ nó nằm.”
Thanh liếc sang Hùng. Nàng không cười, nhưng ánh mắt ấy đủ
làm chàng nhớ tới mười cột chữ buổi sáng. Chàng gãi gáy, chịu trận.
Rồi chàng nhặt hai viên sỏi, đổi chỗ chúng, và nét đùa trên
mặt chàng tắt đi.
“Già Thị ơi. Nếu người dùng dấu chết đi, thì người sau làm
sao biết phải nhìn vào đâu?”
Bà Lài im lặng một lúc lâu. Tiếng nước lấp vào chỗ trống.
“Bởi vậy mới có lệ gọi nước.”
Trước mỗi mùa dẫn nước, những người giữ rãnh từng đi từ bến
cũ lên đầu lạch. Họ gõ vào từng phiến đá, dọn từng lỗ thở, mở rồi đóng các cửa
theo thứ tự. Trẻ học nghề đi sau, không được cầm thẻ, chỉ được nghe tiếng nước
đổi giọng. Đến cuối đường, mỗi người tự khắc một dấu lên thanh gỗ mang về. Khi
làm đủ ba mùa mà không khiến rãnh nào tràn hoặc cạn, họ mới được gọi nước cho
người khác.
Bà kể bằng giọng đều đều, nhưng bàn tay bà cứ xoa mãi đầu gậy
mòn nhẵn. Đã ba mùa bà không còn được đi con đường ấy.
“Đó là nghi lễ sao?” Thanh hỏi.
Bà Lài nhún vai.
“Người trên thành gọi là lễ. Chúng tôi gọi là đi thử nước.
Có hương, có lời khấn, vì người ta sợ quên mất mình đang nhờ sông mà sống.” Bà
khịt mũi. “Nhưng khấn xong thì vẫn phải cúi xuống mà moi bùn. Không moi thì tổ
tiên nào dẫn nước giùm cho được.”
Hùng bật cười thành tiếng. Bà Lài nhìn chàng, đôi mắt sâu
nhưng không giận.
“Công Tự cười được thì chắc còn học được.”
• • •
Họ đi đến cuối lạch khi mặt trời đã ngả. Bà Lài bảo Hùng tự
mở một cửa nước nhỏ dẫn vào vườn rau ven thành.
Trên phiến chắn có dấu móc cong quay sang trái, một chấm và
hai nét xiên. Hùng ngồi xuống, nhìn hướng dòng, nhìn độ cao của cửa rồi sờ lớp
rêu ở chân đá. Chàng nghĩ một lúc, rồi nói chắc nịch:
“Mở cửa thấp trước.”
“Ở đây chỉ có một cửa,” bà Lài đáp tỉnh khô.
Thanh khoanh tay, không buồn giấu vẻ thích thú.
“Sao, bậu còn muốn đoán nữa không?”
“Muốn chứ.” Hùng cười méo xệch, tay vẫn đặt trên mép đá. “Tật
ấy qua bỏ sao nổi. Nhưng lần này qua hỏi trước đã.” Chàng ngẩng lên. “Già Thị,
dấu một chấm nhắc điều gì ạ?”
Bà Lài không trả lời. Bà chỉ vào vườn rau. Một người đàn bà
đang chờ bên luống, tay cầm chiếc gáo thủng đáy.
Thanh bước tới hỏi. Người đàn bà đặt gáo xuống rãnh, để nước
tràn vào rồi chảy qua lỗ nhỏ.
“Một gáo,” bà nói. “Không phải một lần mở đâu. Gáo đầy rồi cạn
hết thì đóng cửa. Vườn này ở cuối dòng, nhận nước ngắn mà nhanh. Mở lâu là đất
trôi sạch.”
Hùng hé phiến chắn. Nước ép qua khe, lao ra thành một lưỡi mỏng.
Cát dưới rãnh chuyển động ngay. Phiến đá rung lên dưới tay chàng, mạnh hơn
chàng tưởng; bả vai còn chưa lành hẳn nhói lên một cái. Chàng nghiến răng giữ
đá, mắt không rời chiếc gáo. Đầy. Rồi cạn. Khi người đàn bà hô, chàng đẩy phiến
chắn về chỗ cũ.
Chỉ trong một khoảng thở, nước đã chạy hết ba luống rau.
Hùng ngồi bệt xuống, thở, nhìn hai bàn tay mình. Chàng đã đo
bao nhiêu đoạn ống, vẽ bao nhiêu mảnh vải, mà đây mới là lần đầu chàng thật sự
mở một cửa nước.
“Giản dòng, không giản việc,” bà Lài nói. “Khe càng hẹp, nước
càng tìm đường nhanh. Người giữ nước mà chậm tay thì nó lấy đất đi cùng.”
Thanh cúi xuống bản dập. Mỗi chấm lõm trên chiếc muỗng có thể
từng chỉ một lượt nước, một nhịp hong, một lần đánh thức hạt. Không có vật và
người sử dụng bên cạnh, nó chỉ còn là hình.
Hùng lấy thẻ tre ra, nhưng lần này chàng không chép nghĩa của
từng dấu. Chàng vẽ chỗ nằm của chúng: dưới cán muỗng, trên phiến chắn, cạnh lỗ
thở, ở cửa vườn. Bên mỗi hình, chàng ghi tên người đang dùng và việc họ làm.
Thanh đứng xem một lúc lâu. Khi nàng lên tiếng, giọng nàng
có vẻ khó khăn của người không quen nhận mình chưa đủ.
“Cái cách bậu xếp những dấu giống nhau lại cạnh nhau... vẫn
có ích đấy.”
Hùng ngẩng phắt lên, ngạc nhiên thật sự.
“Ô hay. Qua cứ tưởng bậu sắp bắt qua vứt hết thẻ xuống lạch.”
“Qua chỉ muốn bậu thôi bắt dấu khắc tự khai khi chưa có ai
làm chứng.”
“Còn bậu thì cứ đi hỏi từng người mà không đem so với nhau,
rốt cuộc sẽ có mười lời đúng cho mười nơi.”
Nàng im một nhịp, rồi gật đầu, chịu.
“Vậy lần này mỗi đứa đúng một nửa.”
Trên thẻ mới, hình dấu, nơi đặt dấu và tên người dùng lần đầu
tiên nằm cạnh nhau. Hùng nhìn nó, rồi nhìn nàng, cười.
“Một nửa của bậu to hơn một tí, phải không?”
Thanh cuộn bản dập, mắt lấp lánh.
“To hơn vừa đủ để bậu nhận ra.”
Bà Lài đi trước, giả như không nghe thấy. Nhưng đầu gậy của
bà gõ xuống đất nghe vui hơn.
Khi họ trở lại lều, hai người của hai phường ven lạch đã chờ
sẵn. Một người mặc áo nâu sẫm, người kia áo xám, cả hai đứng cách nhau như sợ
bóng mình chạm vào phía đối diện.
Người áo nâu cúi người hành lễ với Hùng.
“Thưa Công Tự, sáng mai hầu coi thủy lộ mở vụ xử ở bến cũ.
Phường trên nói phường dưới phá cửa chia nước. Phường dưới nói người trên đổi
dòng, làm ruộng của họ cạn. Hai bên đều xin người trong họ hàng nhà Kinh tới chứng
kiến.”
Hùng cau mày. Chàng đã thấy cái danh ấy đóng bao nhiêu cánh
cửa ở bờ bắc.
“Ta không có chức xét xử.”
“Chúng tôi biết. Hầu coi thủy lộ chỉ mời Công Tự dự, vì việc
kho lương cũng dính tới đường nước cũ.”
Người áo xám lập tức chen lên, nói vội như sợ bị cướp lời:
“Công Tự đã thấy dấu trên các phiến đá rồi. Xin Công Tự nói
giùm cho hầu biết cửa nào thuộc phường nào!”
Sáng nay, có lẽ Hùng đã thử trả lời. Chàng nhìn xuống hai
bàn tay còn dính rêu của mình.
“Ta vừa mới học được rằng dấu không tự nói ra điều đó.”
Hai người nhìn nhau, cùng thất vọng vì không bên nào lấy được
câu mình muốn.
Bà Lài chống gậy ở cửa, cười khẩy.
“Họ giành nhau nước đã ba mùa. Năm nay mới sực nhớ ra dấu
đá.”
Thanh quay sang bà.
“Già Thị Lài sẽ đến chứ?”
“Hầu không gọi tôi.”
“Nhưng Già Thị là người còn biết lệ gọi nước!”
“Biết không có nghĩa là được nói.”
Bà nói câu ấy không oán trách, chỉ như nói về trời mưa trời
nắng. Chính cái giọng ấy làm Thanh siết chặt cuộn vải trong tay.
Hùng nhìn dòng lạch đang chui qua khe chân bờ. Nó không hỏi
phiến đất phía trên thuộc về ai. Gặp đá, nó thu mình. Gặp một lỗ nhỏ, nó luồn
qua. Nhưng khi ra khỏi khe, nó có thể nuôi một luống rau hoặc cuốn cả lớp đất
màu đi mất.
Chàng quay lại, đứng thẳng trước bà Lài.
“Sáng mai Ấu sẽ dự vụ xử.” Chàng nói chậm, cân từng chữ, vì
chàng không muốn hứa điều mình không giữ nổi. “Ấu không thể thay hầu gọi Già Thị
vào, cũng không dám hứa họ sẽ chịu nghe. Nhưng nếu Già Thị đến đứng ngoài bến, Ấu
sẽ hỏi trước mặt mọi người: ai còn biết các dấu ấy được dùng thế nào.”
Bà Lài nhìn chàng rất lâu. Bà đã nghe người trên thành hứa
nhiều lần rồi.
“Công Tự hỏi, chưa chắc họ cho tôi đáp.”
Thanh bước lên đứng cạnh Hùng.
“Nếu họ không cho Già Thị đáp,” nàng nói, và giọng nàng run
lên vì giận thay, “thì ít ra ai cũng sẽ thấy bản án được đưa ra trong khi một lời
chứng còn bị giữ ngoài cửa.”
Ngoài lều, nước va vào rễ sung, phát ra một tiếng nhỏ rồi biến
mất dưới đất.
Bà Lài nắm chặt đầu gậy. Các khớp ngón tay gầy guộc trắng
ra.
“Vậy sáng mai tôi đứng ngoài bến.”
Hùng cuộn mảnh vẽ ba dấu lại, giắt vào áo. Lần đầu tiên,
chàng không thấy những dấu khắc là cánh cửa mở vào một kho tri thức đã mất.
Chúng giống những khe hẹp hơn: tự chúng không giữ được cả dòng, nhưng nếu còn
người biết khơi đúng chỗ, điều tưởng đã biến mất vẫn có thể tìm đường chảy qua.
Một dấu không đọc được chưa phải vật đã chết. Nó giống đất,
lá và tro trước khi vào bếp nhuộm: chỉ khi đi qua va chạm đủ mạnh, hình dạng cũ
mới chịu biến đổi để lộ công dụng đang ẩn bên trong.
Sáng mai, ở bến cũ, dòng nước ấy sẽ gặp luật của thành.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.