Chương 13: Ký Ức Của Người Không Họ
Huyền Thoại Lục Thập Hoa Giáp
Mục lục
21 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 21/21 chương
Người đàn bà trên chiếc thuyền không dấu không bước lên bờ.
Bà đứng ở mũi thuyền, một tay nắm sào, một tay giữ vạt áo nâu đã vá đến ba màu. Nước dưới chân thuyền chảy xiết qua doi đá, liên tục đẩy mũi thuyền chệch khỏi chỗ cột mốc vừa được kéo lên. Mỗi lần như vậy, bà chỉ nghiêng vai chống sào. Chiếc thuyền lại trở về chỗ cũ, lặng lẽ mà cứng đầu.
Thanh đặt thẻ tre mới lên tấm ván kê ngang đầu gối.
“Cư tên gì?”
Người đàn bà nhìn sang Chẩn trước khi đáp.
“Người hai bờ gọi tôi là Nước.”
Chẩn bật ra một tiếng cười khô. “Đó đâu phải tên.”
“Họ không hỏi tên tôi khi thuê chở hàng.” Bà Nước vẫn nhìn Thanh. “Gọi thế nào thì tôi nghe thế ấy.”
“Tên Quân Cơ đặt?”
Một thoáng gì đó động dưới đôi mắt đã sạm nắng của bà. Đã lâu lắm không ai hỏi bà câu ấy, lâu đến mức bà phải lục tìm nó như tìm một món đồ cất dưới đáy khoang.
“Linh.”
Thanh đặt đầu bút xuống.
“Linh, người sống trên thuyền ở hạ dòng.”
Bà Linh nhìn cái tên mình nằm trên thẻ tre. Môi bà mấp máy, không thành tiếng, như đọc lại một chữ bà không biết đọc.
Chẩn bước hẳn xuống mép doi. “Công Thị, ta đã nói rồi. Người ấy không có tên trong sổ Bộ. Ghi lời của kẻ không thuộc làng nào vào việc của hai làng, mai sau còn ai giữ được lệ?”
Thanh không ngẩng lên. “Tôi đang ghi ai nói, không ghi ai đúng.”
“Chỉ cần lời họ nằm trên thẻ của Công Thị, nó đã khác lời nói ngoài bến.”
“Vậy càng phải ghi rõ để người sau biết nó từ đâu tới.”
Chẩn quay sang Hùng. “Công Tự cũng để thế sao?”
Hùng đứng cạnh cột đá, áo còn ướt tới ngực. Chàng không trả lời thay Thanh.
“Công Thị Thanh chép lời. Còn lời ấy nặng nhẹ ra sao, chúng ta cùng xét.”
“Nhưng...”
“Thiết sợ lời ấy sai,” Hùng nói, “hay sợ lời ấy được nghe?”
Mặt Chẩn sầm lại.
Ở thuyền bên kia, bà Lụa khoanh tay. Bà không bênh đám người sống trên sông, nhưng cũng không muốn Chẩn một mình đuổi họ đi. Người Tây Lau và Đông Đá đứng thành hai dải trên bờ, mắt hết nhìn cột mốc lại nhìn chiếc thuyền không dấu. Phía sau nó, từ khúc quanh hạ dòng, hai chiếc thuyền vá nữa đã lặng lẽ ngược lên, neo cách một quãng, không ai mời mà cũng không ai dám đuổi.
Tánh ngồi xổm trên tảng đá, vắt nước từ vạt áo, cái ống chân rách đã được Bách buộc lá. Nó nhìn bà Linh hồi lâu rồi hỏi:
“Cư biết thật chữ bị đục à?”
“Biết.”
“Cư đọc được Khoa Đẩu?”
“Không.”
Tánh nhăn mặt. “Không đọc được mà biết?”
“Mày thuộc tiếng gọi trâu không?”
“Thuộc.”
“Mày có viết được tiếng ấy không?”
Tánh ngẫm một lúc, rồi thôi vặn hỏi.
Thanh nói: “Cư kể từ đầu đi. Ai đã thấy phần chữ còn nguyên?”
Bà Linh không kể ngay. Bà quay đầu gọi về phía lái. Một ông lão gầy đứng lên, lưng còng gần ngang mui. Ông có bàn tay to nhưng các khớp đã vẹo vì ngâm nước lâu năm. Đi sau ông là một cô gái chừng tuổi Thanh, bế một đứa trẻ đang ngủ trên vai.
“Quân tôi tự tay dựng lại cột ấy sau một mùa nước, hồi nó còn ở trên doi,” bà Linh nói. “Tôi nghe Quân nhắc lại. Ấu Nêm đây nghe từ tôi. Ba đời vẫn cùng một lời.”
“Ai thấy lúc chữ bị đục?” Thanh hỏi.
Bà Linh lắc đầu. “Không ai trong bọn tôi thấy. Quân tôi chỉ kể: mùa nước sau quay lại, chỗ giữa đã lõm.”
Chẩn gằn giọng: “Ba người một nhà nhắc lại cho nhau, đâu thành ba người làm chứng.”
Ông lão cười, để lộ hàm răng chỉ còn vài chiếc. “Công Tự nói phải. Ba miệng trong một nhà vẫn có thể nhắc cùng một lời sai. Cứ đem lời ta so với đá, với dây. Đất tốt hay xấu, vào lửa mới biết.”
“Thưa Già Tự, Già Tự tên gì?” Thanh hỏi.
“Người ta gọi ta là Còng.”
“Tên Quân Cơ đặt?”
Ông lão im lâu hơn bà Linh.
“Không nhớ nữa.”
Bên bờ có người bật cười. Tiếng cười vừa nổi đã tắt khi ông lão quay sang. Không giận, không xấu hổ, ông chỉ nhìn họ như nhìn những cọc bến đã mọc rêu.
“Ta nhớ từng doi nước từ đây xuống cửa sông. Nhớ mùa nào đá ngầm trồi, mùa nào nước đổi màu trước lũ. Chỉ cái tên thì chẳng ai gọi lâu quá, nó trôi mất.”
Bà Linh cúi mặt. Bà là con ông, và chính bà cũng không biết cha mình tên gì.
Thanh ghi đúng câu ấy. Bàn tay nàng chậm hơn thường lệ.
Chẩn thấy đầu bút chạy, vẻ bất an trong mắt càng rõ. “Công Thị định lấy lời một người đến tên mình còn quên để sửa lệ sao?”
“Không.” Thanh thổi nhẹ lên nét vừa vạch. “Tôi muốn biết vì sao một người nhớ được cả dòng sông mà không giữ nổi tên mình.”
• • •
Ông Còng bảo phải đưa cột lên cao hơn.
Vịnh lập tức lắc đầu. “Chân cột còn kẹt. Kéo nữa có thể làm vỡ phần còn lại.”
“Không cần nhổ,” ông nói. “Rửa mặt sau.”
Chẩn quả quyết mặt sau không có chữ. Bà Lụa lại bảo trước kia chẳng ai được phép quay cột. Hai người tranh nhau ba câu thì thành cãi. Ông Còng mặc họ, xin một gáo nước sạch rồi ngồi xuống tận mép doi.
Vịnh giữ dây. Tánh nằm sấp, cầm gáo bằng hai bàn tay quấn vải mà dội bùn khỏi lưng cột. Nó làm được một lúc thì sốt ruột, thò tay giật mạnh sợi rễ quấn quanh đá. Cả cột rung lên.
“Nhẹ tay!” Vịnh quát.
“Nó có gãy đâu.”
“Đến lúc gãy thì mày lấy gì trả?”
“Tôi nhặt lại.”
Vịnh tóm gáy kéo nó khỏi mép nước. “Đá không phải củi.”
Tánh vùng ra, mặt phụng phịu. Ông Còng nhìn nó, cười khẽ.
“Sức mày lớn. Tay mày chưa lớn kịp.”
“Tay Ấu thế này còn chưa lớn?” Tánh xòe hai bàn tay quấn vải, to gần bằng tay Hùng.
“Chưa. Bàn tay lớn là bàn tay biết lúc nào phải dừng.”
Tánh định cãi. Rồi nó nhìn lớp vải Bách vừa thay, nhìn cái ống chân buộc lá, và không cãi nữa. Vịnh dúi gáo lại vào tay nó. “Dội nước. Không bốc đá.”
Khi lớp bùn cuối cùng trôi đi, mặt sau cột hiện ra ba rãnh ngang rất nông. Chúng không phải chữ Khoa Đẩu. Mỗi rãnh có những hốc tròn nhỏ, chỗ liền chỗ vỡ, giống dấu dây từng cọ qua đá nhiều năm.
Ông Còng đặt đầu ngón tay lên rãnh trên cùng. Ngón tay vẹo ấy nằm vào rãnh đá dễ dàng như về lại chỗ cũ.
“Ngày trước, người giữ bến buộc ba dây ở đây. Dây trên mang thẻ dấu của chủ hàng. Dây giữa mang thẻ của người cứu. Dây dưới đếm lửa.”
Bà Lụa bước tới. “Không ai ở Tây Lau từng nói có ba dây.”
“Vì người giữ dây không ở trên bờ.”
“Ai?”
Ông Còng chỉ xuống thuyền.
Chẩn cười lạnh. “Lại là các người tự nhận.”
“Không phải nhận. Là làm.”
Ông ra hiệu cho bà Linh. Bà lấy dưới khoang lên một đoạn dây gai đã đen, trên đó xâu ba mảnh gỗ dẹt. Một mảnh khắc hình mắt cá, một mảnh có ba lỗ, mảnh cuối chỉ còn nửa dấu răng cưa.
Chẩn nói ngay: “Vật mới.”
“Dây mới,” bà Linh đáp. “Thẻ cũ. Dây mục thì thay. Người chết thì người sống nhớ chỗ buộc.”
Thanh nhận ba thẻ gỗ, đưa cho Hùng. Chàng xem từng mặt, rồi trao Vịnh. Vịnh đặt một mảnh vào hốc trên cột. Vết mòn ở cạnh gỗ ăn gần khít với rãnh đá. Nhưng gần khít chưa phải là bằng chắc.
Hùng hỏi: “Thưa Già Tự, ba dây dùng thế nào?”
Ông Còng ngồi xuống, hai bàn chân ngập trong nước. Giọng ông chậm, nhưng mỗi lời đều rơi đúng chỗ.
“Hàng dạt mà còn dấu chủ, người cứu treo thẻ dấu lên dây trên. Đốt lửa gọi một đêm. Chủ đến thì nhận hàng, trả phần cứu.”
“Nếu không đến?”
“Sang đêm thứ hai, thêm một thẻ lỗ. Sang đêm thứ ba, thêm một thẻ nữa. Qua ba lửa không ai tới, làng giữ một phần, người cứu một phần, một phần để kho bến dùng khi có nạn.”
Bà Lụa hỏi gấp: “Bao nhiêu phần cho người cứu?”
“Tùy hàng nguyên hay hỏng, tùy cứu ngoài dòng hay nhặt ở bãi.”
“Ai định?”
“Người giữ bến cùng hai người của hai bờ.”
Chẩn chỉ vào đoạn mất trên cột. “Vậy chữ giữa là gì?”
Ông Còng không nhìn cột. Ông gõ nhịp lên đầu gối bằng hai ngón tay, rồi cất giọng khàn khàn:
“Dấu còn, gọi chủ.
Một lửa, đợi.
Hai lửa, hỏi.
Ba lửa, chia công cứu nạn.”
Bà Linh và cô gái tên Nêm cất tiếng theo câu cuối. Nhịp của họ giống hệt nhau. Từ hai chiếc thuyền phía sau, mấy người khác cũng nhập vào, người già trầm, trẻ nhỏ cao. Đứa bé trên vai Nêm cựa mình trong giấc ngủ, miệng chóp chép đúng nhịp, như đã nghe bài ấy từ trong bụng mẹ.
Không ai hô lớn. Thế nhưng cứ thêm một giọng, không khí trên doi lại nóng thêm một bậc. Lời từng bị giữ dưới mui thuyền nay được đưa ra trước hai bờ, như một mẻ đất sống vừa vào lò: hoặc chịu được lửa mà thành vật dùng được, hoặc nứt vỡ ngay trước mắt mọi người.
Tánh bỗng nói: “Tôi từng nghe.”
Mọi người quay sang.
Nó chỉ về phía hạ dòng. “Mấy người chèo đêm hát đoạn ‘một lửa đợi, hai lửa hỏi’. Tôi tưởng gọi cá.”
Bà Linh bật cười lần đầu. “Cá nào biết trả lời?”
“Cá ở sông này dữ lắm.”
“Dữ đến đâu cũng chưa biết cãi lệ như người.”
Vài người trên bờ cười theo. Không khí vừa giãn ra, Chẩn lập tức cắt ngang:
“Một bài hát không thể lấp chỗ đá mất.”
“Đúng,” Thanh nói.
Bà Linh nhìn nàng, nụ cười tắt đi. Trong mắt bà có cái mệt của người đã quen thấy một bàn tay chìa ra rồi rụt lại.
Thanh đặt ba thẻ gỗ cạnh bản chép. Nàng thấy cái nhìn ấy, và nó làm nàng đau, nhưng nàng không đổi lời. “Đó mới là lời kể. Phải so với dấu còn lại rồi mới tin được. Bài hát ấy mà đứng được sau khi bị hỏi, thì không ai còn gọi nó là bài hát nữa.”
Hùng gật đầu, quay sang hai bờ. “Thuyền hàng dạt vào từ bao giờ?”
“Sáng hôm qua,” bà Lụa đáp.
“Dấu chủ còn không?”
“Còn,” Chẩn đáp.
“Đã qua mấy lửa?”
Không ai trả lời ngay. Ai cũng biết câu đáp, và không bờ nào muốn là bên nói ra. Mới chỉ có một đêm lửa.
Hùng nói: “Nếu theo lời Già Tự Còng, chưa đến lúc chia hàng.”
Bà Lụa siết hàm. Chẩn cũng không vui hơn. Một bên mất cái mong giữ ngay số muối; bên kia không thể mang tất cả về chỉ bằng dấu chủ.
“Còn công cứu?” bà Lụa hỏi.
“Phải được tính,” Thanh đáp. “Nhưng chưa ai ở đây biết mức nào.”
Chẩn nói: “Lệ Đông Đá ghi dấu còn thì trả. Trả hàng trước, công cứu nói sau.”
Bà Linh nhìn ông. “Nói sau thường là không nói nữa.”
“Các người dựa vào đâu?”
“Dựa vào số lần bọn tôi kéo thuyền cho người bờ đông rồi phải chèo đi trước khi trời sáng, vì ở lại cũng không có chỗ ngồi khi chia công.” Giọng bà không cao lên. Nó chỉ rắn lại. “Mùa nước năm kia, chồng Ấu Nêm lặn gỡ thuyền mắc đá cho một nhà bờ đông, gãy chân, nằm suốt một mùa. Sáng ra người ta đếm hàng, không ai hỏi tới người.”
Trên bờ đông không còn tiếng nào. Vài người cúi xuống nhìn chân mình.
Mặt Chẩn đỏ lên, và ông chọn giận thay vì chọn nhớ. Ông bước một bước về phía thuyền. Hùng đưa tay ngăn giữa hai người.
“Thiết đang hỏi chuyện cột đá, đừng mang sức ra dọa người.”
“Công Tự gọi đó là làm chứng thật sao?”
“Tôi gọi họ là người biết chuyện. Lời đúng hay sai, cứ xét rồi rõ.”
Chẩn nhìn cánh tay Hùng chắn trước ngực mình. Sau một thoáng, ông lùi lại. Ông không nhìn về phía Nêm.
Nhưng Thanh thấy rõ: từ lúc ấy, cuộc tranh không còn chỉ là chuyện mấy túi muối.
• • •
Tin có người ngoài sổ được nghe lan nhanh hơn nước rút.
Đến giữa buổi, từ đường dốc phía đông hiện ra một đoàn người mang giáo ngắn. Đi đầu là một người đàn ông vai hẹp, tóc búi rất chặt, áo ngoài có viền đỏ sẫm. Ông ta không xuống doi ngay. Đứng trên bờ cao, ông nhìn ba chiếc thuyền không dấu, rồi nhìn tấm thẻ trong tay Thanh.
Chẩn cúi người hành lễ. “Lạc tướng.”
Bà Lụa cũng cúi, chậm hơn.
Người mới tới tên Kha, Lạc tướng giữ Cương Châu. Ông đã ngoài năm mươi, khuôn mặt không dữ nhưng kín đến mức khó đoán đang nghĩ gì. Hai người giữ sổ đi sau ôm những bó thẻ buộc dây đỏ. Thấy đoàn của Hùng, ông đáp lễ đúng mực.
“Khảo Tri Sứ, Điển Tri Sứ tới Cương Châu mà việc bến chưa kịp thu xếp, lỗi ở ta.”
“Chúng tôi đến tìm đường và hỏi dấu cũ, không đến để Châu bày lễ,” Hùng đáp. “Nhưng đã gặp cuộc tranh thì không thể bước qua người đang chìm hàng.”
Kha nhìn cột đá. “Cột ấy thuộc việc trong Châu.”
“Vẫn thuộc.”
“Vậy xin giao người trong Châu xét.”
Thanh hỏi: “Thưa Lạc tướng, theo lệ nào?”
“Theo sổ đang dùng.”
“Sổ Châu đang dùng nói gì về hàng dạt còn dấu sau một đêm lửa?”
Một người giữ sổ mở bó thẻ, lật khá lâu rồi ghé tai Kha. Ông không quay lại nghe hết. Ông đã biết câu trả lời.
“Sổ ghi hàng có dấu phải trả chủ.”
“Công cứu?”
“Hai bên tự thuận.”
“Nếu không thuận?”
“Người coi bến định.”
Bà Lụa cười nhạt. “Người coi bến là Ấu trong nhà, gọi Chẩn bằng Dậu.”
Chẩn quát: “Già Thị...”
Kha chỉ nâng một ngón tay. Cả hai im.
Thanh đưa bản chép cho ông. “Cột mốc cho thấy từng có thêm điều về ba lửa. Phần giữa đã bị đục. Người sống trên thuyền giữ lời truyền và thẻ buộc gần ăn với vết mòn ở mặt sau, chưa khít hẳn.”
Kha không nhận thẻ. “Công Thị đã nghe họ?”
“Rồi.”
“Trước mặt hai làng?”
“Phải.”
“Và đã ghi?”
“Phải.”
Một cơn gió luồn qua bến. Những thẻ sổ trong tay người giữ sổ rung lách cách. Kha nhìn về phía tiếng động ấy như thể chính dây buộc vừa báo điều chẳng lành.
“Công Thị có biết vì sao người trên thuyền không nằm trong sổ không?”
“Tôi đang muốn biết.”
“Vì họ không có đất ở yên để chịu việc làng, không có bếp ở yên để tính gạo, không có chỗ ở yên để gọi khi cần người.”
Bà Linh nói từ dưới thuyền: “Khi cần kéo xác người chết đuối, ai cũng gọi được bọn tôi.”
Kha không nhìn bà. “Công Thị thấy đấy. Nếu nghe họ như người trong sổ, ngày mai họ sẽ đòi phần kho bến, phần ruộng bãi, quyền nói trong việc làng. Nếu không cho, họ bảo lời mình chỉ được dùng lúc có lợi cho bờ. Nếu cho, mỗi đoàn thuyền trôi qua lại tự nhận một phần. Lấy gì mà phân?”
Ông nói không gắt. Ông nói như người đã đếm thóc cho một Châu suốt ba mươi mùa và biết từng hạt thiếu ở đâu. Đó là điều làm Thanh khó đáp hơn cả.
Nàng hỏi: “Không phân được nên xóa tất cả khỏi sổ?”
“Không phải xóa. Họ chưa từng được ghi.”
Câu nói ấy rơi xuống nhẹ hơn hòn sỏi, nhưng mặt bà Linh cứng lại. Nêm ôm đứa trẻ sát hơn vào ngực. Ông Còng cúi nhìn bàn chân mình dưới nước.
Tánh lẩm bẩm: “Không ghi thì coi như không có à?”
Kha nghe thấy. “Mày là ấu nhà nào?”
“Nhà tôi.”
“Quân Cơ đâu?”
“Không ở đây.”
“Làng nào?”
“Đá Rền.”
“Ta hỏi tên trong sổ, không hỏi chỗ ngủ. Sổ Đá Rền ghi mày tên gì, ấu nhà ai, bếp thứ mấy?”
Tánh há miệng rồi ngậm lại. Nó biết từng hòn đá trên sườn núi. Nó biết người làng gọi nó bằng những tiếng gì khi tưởng nó không nghe. Nhưng chưa ai bảo nó rằng tên nó có nằm trên một thẻ tre nào không, và nó chưa bao giờ nghĩ đó là điều phải hỏi. Nó quay sang Vịnh, như thể người dẫn đường có thể chỉ cho nó một lối ra. Vịnh chỉ đặt tay lên vai nó.
Dưới thuyền, ông Còng ngẩng lên nhìn đứa trẻ. Đó là cái nhìn của người nhận ra một kẻ đang đứng trên đúng bậc nước mình từng trượt.
Kha không ép nữa. “Công Tự, Công Thị mang việc của Kinh đi qua các Châu, ta không dám xem nhẹ. Nhưng hôm nay Công Thị chép một lời, ngày mai mười bến sẽ vin vào lời ấy. Lệ cũ đang yên. Xin đừng nhóm lửa giữa kho rơm.”
Thanh nhìn bếp đất người Tây Lau vừa nhóm để hong những túi muối ướt. Lửa bị giữ trong ba vách đất, không táp ra ngoài. Hơi nóng bốc lên, làm những hạt muối trắng dần hiện lại trên mặt vải.
“Tôi không đốt lệ của Châu.” Nàng giữ giọng bằng, nhưng đầu ngón tay đã siết trắng quanh cán bút. “Tôi chỉ đem lời này thử trước hai bờ. Nếu là lời gian, tự nó sẽ nứt. Nếu là lời thật, giấu nó đi mới khiến lòng người cháy âm ỉ.”
Trong đám đông có tiếng ai đó “phải” rất khẽ. Người bên cạnh lập tức huých khuỷu tay, nhưng tiếng ấy đã lọt tới tai Kha. Ông quay nhìn. Mọi người cúi xuống, chỉ còn tiếng củi nổ lách tách trong bếp.
Kha nhìn thẳng vào nàng. “Công Thị muốn sửa sổ Cương Châu?”
“Tôi không có quyền ấy.”
“Vậy xin đừng làm điều khiến người ta tưởng mình đã được nhận.”
“Tôi có quyền nghe và ghi rõ gốc lời.”
“Nghe riêng thì được.”
“Vì sao phải nghe riêng?”
“Để không khuấy dân.”
Thanh nhìn hai bờ. Dân đã đứng kín bến. Họ không bị khuấy bởi tiếng của người dưới thuyền. Họ bị khuấy vì lần đầu nghe tiếng ấy đi vào cùng một cuộc xét với tiếng của mình.
“Nghe trong chỗ kín rồi cất thẻ đi,” nàng đáp, “khác gì chưa từng nghe?”
Kha trầm giọng: “Công Thị còn trẻ. Có những lệ không thể chỉ nhìn một buổi mà hiểu.”
Hùng bước lên. “Lạc tướng có thể không cùng ý. Xin đừng lấy tuổi thay cho lời bác lại.”
Kha quay sang chàng. “Khảo Tri Sứ nhận việc dò dấu cũ. Từ bao giờ lại có quyền đổi lệ của Châu?”
Mấy người lính phía sau ông khẽ động. Vịnh rời tay khỏi vai Tánh, đứng thẳng lên. Hùng giơ bàn tay thấp, không cho ai bước tới.
“Tôi chưa đổi một chữ nào.” Giọng chàng đã lạnh đi. “Chính cột đá cho thấy sổ Châu thiếu chữ. Chúng tôi chỉ hỏi phần thiếu ấy ở đâu.”
Kha định đáp. Thanh đặt bản chép xuống cột đá, tiếng thẻ tre chạm mặt đá khô và sắc.
“Lạc tướng có thể bác từng lời tôi chép,” nàng nói. “Nhưng xin bác bằng cớ, đừng bác tuổi tôi.”
Kha mím môi. Ngoài bến, một mái chèo va vào mạn thuyền. Không ai nói thêm. Sau một lúc, ông ra hiệu cho người giữ sổ buộc lại bó thẻ.
“Vậy Công Thị cứ nghe trước mặt mọi người. Nhưng Châu không nhận lời ấy là lệ.”
“Tôi sẽ ghi đúng như thế.”
“Và Châu cũng không cấp gạo cho việc kéo dài một cuộc tranh ngoài sổ.”
Hùng nói: “Đoàn chúng tôi có lệnh nhận lương dọc đường.”
“Lệnh cấp cho việc dò đường và tìm dấu cũ, không cấp cho việc ngồi xét lệ bến. Từ chiều nay, kho Châu chỉ giao phần đủ tới trạm đá phía bắc. Không hơn.”
Tánh huýt khẽ. Vịnh bóp mạnh vai nó.
Bách, nãy giờ lặng lẽ phơi muối ướt, ngẩng lên. “Thưa Lạc tướng, lương của đoàn gửi cả ở bãi Sậy, ngược núi hai ngày đường. Ở đây một lính đã lên cơn sốt vì ngâm nước đóng cọc, một đứa rách chân, một người đau gối. Phần đủ đến trạm đá là đủ nếu đi đường lớn và trời ráo. Mưa giữ chân thì sao?”
Kha đáp: “Người dẫn đường phải liệu lấy.”
Thanh hiểu ngay cái giá ông đặt ra. Ông không thể giật bút khỏi tay nàng, cũng không dám cấm nàng nghe trước mặt dân. Ông chỉ khép kho gạo lại. Một cánh cửa nhỏ đóng đi có thể khiến cả đoàn phải đổi đường.
Hùng nhìn Thanh.
Trong mắt chàng không có lời trách, nhưng có một câu hỏi thật: nàng có đi tiếp khi cái giá không chỉ rơi lên mình nàng?
Thanh nhìn người lính đang ngồi tựa gốc lau, môi khô, hai tay ôm lấy vai. Chính anh ta đã lội ra giữa dòng đóng cái cọc giữ thuyền. Nàng mở miệng định hỏi, rồi nhận ra hỏi một người đang sốt rằng anh ta có chịu đói thêm vì mình không là một cách đẩy cái gánh sang vai anh ta.
Người lính lại nói trước, giọng rè: “Công Thị cứ nghe. Tôi đóng cái cọc ấy đâu phải để người ta rút lên giữa chừng.”
Cổ họng Thanh nghẹn lại.
Nàng quay về phía những chiếc thuyền không dấu. Đứa trẻ trên vai Nêm đã thức. Nó không khóc, chỉ nhìn đám đông bằng đôi mắt đen và ngơ ngác. Nếu nàng dừng, gạo của đoàn được giữ. Nếu nàng tiếp, một lời từng bị đẩy khỏi bờ sẽ được đứng giữa ánh sáng, và người bệnh trong đoàn phải chịu quãng đường khó hơn. Không có lối nào để chỉ mình nàng trả.
Nàng đặt bàn tay lên bản chép trên cột đá. Đá còn lạnh nước sông.
“Tôi sẽ nghe hết.”
• • •
Buổi đối lời kéo dài đến khi bóng người ngắn lại trên doi.
Thanh không hỏi những câu dễ chịu. Chính vì đã bắt cả đoàn trả giá cho lời này, nàng càng không được phép nương tay với nó.
Nàng bắt ông Còng nhắc lại bài gọi ba lần, mỗi lần ngắt ở một chỗ khác nhau. Nàng cho bà Linh và Nêm đứng cách nhau, không được nhìn miệng nhau khi đọc. Hùng hỏi từng người về chỗ cột đứng trước trận lũ, mùa nước nào chân cột bị nghiêng, ai giữ thẻ, thẻ được trao ra sao. Vịnh đem ba mảnh gỗ thử lên các rãnh đá. Không mảnh nào khít hẳn, nhưng vết cọ cho thấy từng có vật cùng bề ngang buộc ở đó.
Đến lần hỏi thứ ba, giọng ông Còng đã run vì mệt. Bà Linh nhìn Thanh, và lần này trong mắt bà không còn cái mệt cũ. Bà đã hiểu: người ta chỉ hỏi kỹ đến thế với lời mà người ta định mang theo.
Rồi một người đàn ông Đông Đá bất ngờ bước khỏi đám đông.
Ông tên Trám, làm nghề vá thuyền. Hai đầu gối ông run thấy rõ dưới ống quần.
“Thưa Công Thị, bài ấy tôi có nghe.” Ông không dám nhìn sang Chẩn. “Hồi tôi còn nhỏ, sau một vụ tranh kho hàng, Quân tôi cấm hát nó ở bến. Người sông vẫn hát ngoài nước. Tôi thuộc được hai câu.”
Ông hít một hơi, rồi đọc, nhỏ như sợ chính tai mình nghe thấy: “Một lửa, đợi. Hai lửa, hỏi.”
Dưới thuyền, bà Linh nhắm mắt.
Chẩn nhìn ông như muốn nghiền nát bằng mắt. “Sao trước giờ không nói?”
“Vì nhà tôi còn sống nhờ vá thuyền cho làng.”
“Bây giờ không cần sống nữa à?”
Trám nuốt khan. Ông nhìn về phía Nêm, rồi nhìn xuống đất. “Vẫn cần. Nhưng cột đã lên rồi. Mà tôi thì giả điếc với bài ấy đủ lâu rồi.”
Ở bờ Tây Lau, một bà già khác nhớ kho bến từng có ba ngăn, không phải hai. Ngăn thứ ba đã sập trong trận lũ lớn. Bà không biết nó dùng làm gì, chỉ nhớ trẻ con không được bén tới. Bách cùng hai người đào thử nền kho cũ. Dưới lớp bùn, họ thấy ba hàng cọc cháy, hàng giữa có những mảnh chum nhỏ và tro dầu.
Những điều ấy không biến bài gọi thành lệ trọn. Chúng chỉ đặt quanh lời kể những dấu vết không dễ gạt bỏ.
Thanh đọc lại trước đám đông:
“Trên cột đá còn cả chữ về dấu hàng lẫn ba lửa. Mặt sau còn dấu ba dây. Thẻ của người dưới thuyền chưa khít hẳn, nhưng không trái dấu đá. Bài gọi ba lửa có người Đông Đá từng nghe. Kho cũ cũng có ba ngăn.”
Nàng dừng lại, nhìn sang bà Linh, rồi nhìn Chẩn.
“Chừng ấy đủ để biết lệ đang dùng có thể đã mất một phần. Nhưng chưa đủ cho bất kỳ ai tự tiện thêm chữ vào chỗ mất.”
Bà Lụa hỏi: “Vậy hàng muối?”
Thanh đáp: “Tôi xin tiếp tục buộc dấu giữ hàng ở sàn chung đến hết lửa thứ ba. Người đến nhận phải được so với dấu chủ trước khi giao; công cứu phải được xét trước mặt người cứu. Giao hàng thế nào, công cứu bao nhiêu, không thể định chỉ bằng phần chữ còn lại.”
Kha nhìn hai bờ rồi nói: “Ta cho giữ hàng đến hết lửa thứ ba để khỏi hỏng mất. Việc trả hàng và tính công cứu, ta sẽ xét tại nhà Châu. Giữ hàng không có nghĩa Châu đã nhận bài gọi kia làm lệ.”
Chẩn hỏi: “Người trên thuyền có được làm chứng không?”
Thanh nhìn Kha. “Trong việc hôm nay, lời của họ được chép lại để so xét. Tôi không sửa sổ Châu. Nhưng không ai được gạt lời ấy đi chỉ vì người nói không có đất.”
Kha không đáp. Ông nhìn bản chép trên cột đá một lúc lâu, cái nhìn của người đếm xem một lời vừa thêm vào sẽ làm lệch bao nhiêu thẻ sổ. Rồi ông quay lưng lên dốc.
Không bên nào thắng trọn. Chính vì thế, cả hai bên đều không bằng lòng, mà cũng không thể nói mình bị tước sạch phần đúng.
Bà Linh chống sào đưa thuyền sát doi. Bà nhận lại ba thẻ gỗ từ Hùng, nhưng Thanh giữ bản chép.
“Lời này rồi sẽ đi đâu?” bà hỏi.
“Theo tôi về nơi so các dấu cũ.”
“Có ai đọc không?”
“Có.”
“Rồi họ có ghi tên bọn tôi vào sổ không?”
Thanh muốn nói có. Nàng muốn nói có đến mức phải ngừng một nhịp để chữ ấy lắng xuống.
“Tôi chưa biết.”
Bà Linh nhìn nàng lâu, rồi gật đầu. “Nói chưa biết còn hơn hứa trên bờ rồi quên dưới nước.” Bà đặt tay lên thẻ tre có chữ Linh, không cầm lên, chỉ chạm. “Cái tên ấy, Công Thị giữ giùm tôi. Ở dưới thuyền nó hay trôi.”
Ông Còng gọi Tánh lại. Ông tháo một vòng dây nhỏ trên cổ tay, ném cho nó.
Tánh bắt được. “Cho Ấu à?”
“Không. Mượn.”
“Bao giờ trả?”
“Khi tay mày lớn.”
“Ấu đã bảo tay Ấu...”
Vịnh ho một tiếng.
Tánh nhìn vòng dây. Trên đó chỉ có một thẻ gỗ không khắc gì. Nó hỏi: “Thẻ trắng để làm gì?”
“Nhắc rằng cái chưa có tên vẫn cứ có đó.”
Tánh đeo vào cổ tay, cố giấu vẻ thích thú. Rồi nó hỏi, nhỏ hơn hẳn: “Nếu Ấu làm mất?”
“Thì nhớ nó từng ở đó.”
Nó xoay cái thẻ trắng một vòng, nhìn về phía con dốc nơi người hỏi tên trong sổ vừa đi khuất.
• • •
Kho gạo Châu đóng cửa trước khi mặt trời chạm núi.
Người giữ kho giao đúng số Kha đã nói: sáu túi gạo nhỏ, một vò muối, ít lá thuốc khô. Vịnh đếm hai lần rồi quay sang Hùng.
“Đi đường lớn tới trạm đá mất hai ngày nếu trời ráo. Người sốt, người đau chân đi chậm, ba ngày. Quay về bãi Sậy lấy lương của mình cũng hai ngày ngược núi, rồi lại mất chừng ấy để vòng lên.”
Bách nói: “Người sốt không chịu thêm một đêm mưa ngoài trời.”
Hùng hỏi dân hai bờ có thể bán thêm gạo không. Không ai trả lời. Bà Lụa tránh mắt. Trám cúi đầu. Chẩn đứng xa, mặt lạnh. Kha không cấm họ bán, nhưng ai bán sẽ tự đặt tên mình vào chỗ đối mặt với người giữ kho, giữ bến và giữ sổ.
Một lúc sau, Nêm chèo thuyền tới, đặt lên bờ hai giỏ củ nước và cá khô.
“Bọn tôi không có gạo.”
Vịnh mở giỏ, xem kỹ. “Chỗ này đủ một bữa.”
“Đi ngược nhánh hẹp phía tây có bãi củ nữa.” Nêm xốc đứa trẻ lên vai. “Còn bãi Sậy thì thuyền bọn tôi xuôi một buổi là tới. Công Tự cần gửi lời cho ai, cứ nói.”
“Xuôi thì một buổi,” Vịnh nói. “Ngược lên lại thì phải kéo thuyền qua ba ghềnh, mất bốn ngày, mà thuyền ấy không chở nổi bảy người. Lời đi được. Người thì không.”
Hùng nhìn cô. Người vừa bị bảo là không có chỗ để gọi khi cần, đang tự đến hỏi đoàn cần gì.
“Nhờ Công Thị báo người coi lương ở bãi Sậy: đừng chờ ở đó nữa, theo đường lớn mang lương lên trạm đá phía bắc, gặp đoàn tại đấy.” Thanh đã vạch xong mấy chữ lên một thẻ tre nhỏ. Chàng đón lấy, đặt vào tay Nêm. “Người ta hỏi ai gửi, cứ đưa thẻ này. Công chở, đoàn trả ở trạm đá.”
Nêm nhìn tấm thẻ như nhìn một vật chưa từng được phép cầm. “Bọn tôi chở lời thì không lấy công.”
“Vậy tôi ghi là nợ,” Thanh nói. “Có tên người cho nợ.”
Lần đầu tiên, Nêm cười.
Kha, nếu có nghe chuyện củ nước và chuyến thuyền, cũng không cho người xuống ngăn. Có lẽ vì củ nước không nằm trong kho Châu. Có lẽ vì ông muốn đoàn hiểu rằng những gì ngoài sổ chỉ nuôi họ được từng bữa, không thể thay cho một nếp giữ lâu dài.
Tánh ngồi trên cọc, nhai cá khô Nêm vừa dúi cho. Nó nhìn sáu túi gạo rồi nói:
“Có đường tắt.”
Vịnh hỏi: “Đường nào?”
“Qua sườn Đá Mèo. Một ngày là tới trạm.”
“Người mang gùi đi được không?”
“Đi được.”
“Người sốt?”
Tánh nhún vai. “Tôi cõng.”
“Mày đã dẫn ai qua chưa?”
“Chưa.”
“Tự đi?”
“Rồi.”
“Mùa này?”
Tánh ngập ngừng một nhịp. “Mùa gần như này.”
Vịnh lập tức quay đi. “Không.”
“Đường ấy nhanh thật.” Tánh nhảy xuống cọc, vẽ bằng ngón chân trên đất ướt. “Từ bãi lau lên khe này, men dưới vách, qua rừng thấp. Không phải leo đỉnh. Có một đoạn hẹp thôi.”
Hùng nhìn nét vẽ. “Đoạn hẹp thế nào?”
“Hai người tránh nhau hơi khó.”
“Dốc?”
“Có.”
“Đá lở?”
“Không lở nếu không mưa.”
Mây phía tây đang kéo thành một dải tím.
Vịnh hỏi: “Còn gì mày chưa nói?”
Tánh cúi xuống vẽ tiếp, nhanh hơn. “Có thú rừng. Nhưng ban ngày chúng không ra.”
“Thú gì?”
“Thú thôi.”
“Tánh.”
Nó thở ra. “Người ta đặt bẫy ở vài chỗ.”
“Ai đặt?”
“Thợ săn.”
“Mày biết dấu bẫy?”
Tánh ngẩng lên, nụ cười trở lại, vừa tự tin vừa khiến Vịnh muốn đập cho một cái.
“Tôi biết từng hòn đá.”
Thanh cuộn bản chép, buộc vào ống tre chống nước. Lời của những người không họ đã bị hỏi, bị thử, bị ép đến tận cùng mà vẫn không mất. Nó chưa đủ để viết lại lệ, nhưng đã khiến hai bờ không thể tiếp tục coi phần mình giữ là trọn vẹn. Đổi lại, cánh cửa kho gạo đã khép trước đoàn.
Hùng nhìn người lính sốt, nhìn mây, rồi nhìn con đường Tánh vẽ.
“Sáng mai,” chàng nói, “chúng ta xem cửa đường trước. Chỉ đi nếu Cư Vịnh thấy đưa được cả đoàn qua.”
Tánh reo lên: “Can cứ để Địa...”
“Mày dẫn. Cư Vịnh quyết.”
Tánh há miệng, niềm vui vừa trào lên đã mắc lại vì nửa câu sau. “Nếu Cư Vịnh lúc nào cũng bảo không thì sao?”
Vịnh khoanh tay. “Thì mày sống lâu hơn một ngày.”
“Sống mà cứ đi đường vòng thì già mất.”
“Mày mới từng này đã làm ta già trước rồi.”
Vài người bật cười. Tánh cũng cười theo, nhưng bàn chân nó lặng lẽ xóa đoạn đường hẹp vừa vẽ quá đẹp trên bùn, rồi vẽ lại rộng hơn một chút.
Nụ cười của nó xẹp xuống một nửa.
• • •
Đêm ấy, lửa thứ hai được thắp ở cả hai bờ. Ngoài sông, những chiếc thuyền không dấu neo thành một hàng mảnh, thiếu một chiếc đã xuôi về bãi Sậy từ chiều. Người ta lại hát rất khẽ: một lửa đợi, hai lửa hỏi.
Thanh ngồi bên người lính sốt, đợi anh ta uống hết bát nước lá của Bách rồi mới rút sợi dây của Mộc ra. Nút thứ tư. Ngón tay nàng buộc hỏng hai lần.
Hùng đến ngồi xuống cạnh nàng, đặt giữa hai người một củ nước đã nướng, bẻ đôi.
“Bậu có trách qua không?” nàng hỏi, không nhìn lên.
“Qua trách mình.” Chàng thổi tro khỏi nửa củ. “Trách đã không nghĩ ra cách nào để bậu khỏi phải chọn.”
“Không có cách ấy.”
“Ừ. Nên qua mới ngồi đây ăn củ.”
Thanh bật ra một tiếng cười ngắn, và cùng với nó là thứ gì đó nàng đã nén từ lúc đặt tay lên cột đá. Nàng quay mặt đi, lau mắt bằng mu bàn tay.
“Nếu ngày mai mưa, nếu Can ấy sốt nặng thêm...”
“Thì đó là gánh của cả hai ta, không phải của riêng ngọn bút.” Hùng đặt nửa củ vào tay nàng. “Hôm nay bậu hỏi tên một người chưa ai hỏi tên. Qua đứng đó, và qua không muốn bậu dừng.”
Thanh siết cái nút thứ tư. Lần này nó chặt.
Lửa nằm trong hốc đá và sau phên lau, không lớn, nhưng cả hai bờ đều phải nhìn vào nó mà chờ. Những lời ban sáng đã được nói trước mặt mọi người; từ đây, không ai có thể ép chúng trở lại thành tiếng thì thầm dưới mui thuyền nữa.
Trên sườn Đá Mèo, khuất sau cỏ ướt, một sợi dây bẫy đã căng sẵn giữa hai thân cây.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.