Huyền Thoại Lục Thập Hoa Giáp

Chương 7: Điều Kiện Của Công Thị

Đăng: 29/10/2026 14:07 4,152 từ 2 lượt đọc

Sáng ngày thứ nhất, bản định việc đã có bảy thẻ tre, ba nét gạch bỏ và một vệt mực loang bằng đầu ngón tay.

Vệt mực là của Hùng.

Chàng chống tay lên án, đọc lại hàng chữ vừa viết: “Được xem sổ nghề tại những nơi có dấu dính tới việc đang dò.”

Thanh ngồi đối diện, dùng sống dao nhỏ cạo lớp mực trên một thẻ khác. “Bậu viết thế thì hầu Đào sẽ hỏi ai là người nhận ra dấu nào dính, dấu nào không.”

“Chúng ta.”

“Vậy ông ấy sẽ gạch.”

“Hầu Khâm?”

“Sẽ hỏi dựa vào bằng cớ nào.”

Hùng nhấc ngón tay khỏi vệt mực. “Bậu đã biết họ sẽ nói gì, sao không viết luôn đi?”

Thanh thổi bụi tre khỏi mặt thẻ. “Vì qua đang chờ bậu tự thấy câu ấy không đứng được.”

Chàng nhìn nàng. Đôi mắt Thanh vẫn đặt trên thẻ, nhưng khóe môi đã hơi động. Hai người thức gần trọn đêm, đủ mệt để sự giữ lễ trở nên mỏng hơn thường ngày, mà chưa ai chịu nhận mình đang cáu.

Ngoài hành lang, những người quét sân kéo chổi qua nền đất nện. Lớp đất ven dãy nhà đã bị giẫm cứng đến mức nước đêm không thấm nổi. Bánh xe, guốc gỗ, chân trần và móng gia súc đã đi qua đó nhiều năm, ép những hạt đất rời thành một lối bền chắc. Không ai ban lệnh cho con đường hình thành. Nó có mặt vì người ta cần đi.

Thanh đặt thẻ đã cạo sạch xuống giữa hai người.

“Viết thế này: chỉ được xem sổ khi người giữ sổ bằng lòng, hoặc khi có người có quyền ở nơi ấy đứng chứng. Không mang bản gốc khỏi chỗ giữ. Bản chép nào cũng phải có người soát lại cùng.”

Hùng cân nhắc. “Nếu người giữ sổ từ chối vì sợ lộ nghề nhà?”

“Thì ghi vì sao họ từ chối.”

“Thế thì chúng ta có thể đi cả tháng chỉ để ghi rằng người ta không cho xem!”

“Còn hơn đi một ngày rồi khiến cả vùng giấu sổ.”

Hùng quay thẻ tre trong tay. Những thớ mảnh bắt sáng như những dòng nước khô. “Bậu luôn nghĩ người ta sẽ sợ chúng ta.”

Thanh ngẩng lên. “Còn bậu luôn nghĩ chỉ cần mình hỏi đúng thì người ta sẽ trả lời.”

“Qua không nghĩ vậy.”

“Hôm qua bậu nói cần xem sổ nghề, trước cả khi hỏi ai giữ sổ.”

Hùng định đáp, rồi thôi. Tiếng chổi ngoài hành lang đi qua cửa, xa dần.

Chàng kéo một thẻ trắng về phía mình. “Được. Ghi cả quyền được hỏi lẫn quyền từ chối trả lời.”

Thanh không cười nữa. Nàng đặt con dao xuống. “Không chỉ thế.”

“Còn gì?”

“Qua phải được tự mình lấy lời chứng.”

“Thì hẳn rồi.”

“Không hẳn đâu.” Nàng chạm đầu ngón tay lên bản đang viết. Giọng nàng không cao, nhưng ngón tay ấn xuống mặt tre đến trắng móng. “Trong bản này, bậu là người so dấu, chọn nơi cần đến và trình việc. Qua được ghi lời, giữ bản chép và soát chữ. Nếu Kinh phê đúng như thế, qua chỉ là người cầm thẻ đi sau bậu.”

Hùng đọc lại. Lúc viết, chàng chỉ chia việc theo chỗ mạnh của từng người: mình xét hình và trật tự, Thanh giữ lời kể khỏi bị chép sai. Trên thẻ, sự phân chia ấy trông gọn gàng. Qua giọng nàng, nó bỗng giống một cánh cửa chỉ mở về một phía.

“Qua không có ý đặt bậu đi sau,” chàng nói vội.

“Nhưng chữ sẽ đặt.”

Hùng im lặng một lúc rồi hỏi: “Bậu muốn sửa thế nào?”

“Cả hai đều có quyền chọn nơi cần dò, tự mình hỏi, và dừng việc lấy lời nếu thấy cách hỏi làm sai nghĩa. Lời kết nào cũng phải có tên người đưa ra. Nếu hai người không cùng ý, ghi cả hai.”

“Một bản trình có hai lời kết sẽ bị coi là chưa làm xong.”

“Một bản trình giấu chỗ không cùng ý mới là bản chưa làm thật.”

Hùng dựa lưng, nghe khớp vai mình kêu nhỏ. “Hầu Khâm sẽ thích câu ấy.”

“Qua không viết để ông ấy thích.”

“Qua biết.” Chàng lấy bút. “Nhưng lần đầu tiên từ sáng đến giờ, qua cũng thích.”

Thanh nhìn xuống để giấu vẻ dịu đi trong mắt. Nàng đẩy nghiên mực sang phía chàng, vừa đủ để tay họ không chạm nhau.

Họ viết đến khi nắng rọi qua song cửa, chia mặt án thành những vạch sáng tối. Bản định việc có thêm cách lấy lời chứng, cách giữ vật, cách trả vật và những điều họ tuyệt đối không được làm: không tự gọi dân bỏ việc; không mở kho nếu thiếu người coi giữ; không lấy vật thờ, vật truyền đời hoặc dụng cụ đang nuôi sống một nhà; không dùng danh vua ép ai nhận điều họ không biết.

Đến gần trưa, một kẻ dưới của nhà Thanh đứng ngoài cửa. Ông không bước vào, chỉ cúi đầu báo rằng cha nàng đợi ở nhà dùng bữa.

Thanh nhìn khay cơm nguội chưa ai động tới bên cửa sổ.

“Quân biết ta đang làm việc mà.”

Người ấy cúi thấp hơn. “Thưa Công Thị, chủ nhà dặn chính vì biết nên mới mời Công Thị về.”

Hùng đặt bút xuống. “Qua có thể sửa trước phần lương và người đi.”

Thanh cuộn bản đang viết lại. “Không. Phần quyền xem sổ chưa xong.”

“Bậu định mang về?”

“Nếu để lại đây, lúc qua trở lại có khi bậu đã viết thêm ba quyền cho mình.”

“Chỉ ba?”

Lần này nàng bật cười. Tiếng cười ngắn vì mệt, nhưng làm căn phòng bớt giống một nơi tra xét.

• • •

Nhà Thanh nằm gần khu giữ thẻ, nơi các mái ngói xếp sát nhau và đường đi luôn sạch bụi hơn ngoài bến. Trong sân không có cây lớn; rễ có thể đội nền kho. Chỉ có những chum nước mưa đặt dưới mái và dãy giá phơi thẻ tre thơm mùi nắng.

Cha nàng ngồi ở gian giữa. Trên án trước mặt ông là ba bản phả nghề, hai ống đựng thẻ và bữa cơm đã nguội. Ông không bảo dọn đi.

“Ấu ngồi xuống.”

Thanh ngồi đối diện. Ra khỏi việc công, nàng vẫn là con ông; nhưng cuộn thẻ trong tay khiến nàng không thể trở lại làm người chỉ cần nghe lời như những năm còn học chép chữ.

Ông nhìn cuộn thẻ. “Bản định việc?”

“Dạ.”

“Đưa Quân xem.”

Thanh đặt nó lên án nhưng chưa đẩy sang. “Đây là bản chưa trình.”

“Quân không hỏi nó đã trình chưa.”

“Ấu biết.”

Ông nhìn tay nàng giữ trên cuộn thẻ. Gương mặt ông không giận; chính sự điềm tĩnh ấy làm gian nhà nặng hơn.

“Sáng nay đã có người tới hỏi nhà ta có định để một Công Thị đi cùng Công Tự Hùng tới từng phường nghề, từng bến sông hay không.”

“Ai hỏi?”

“Người không cần biết câu trả lời, chỉ muốn nhìn cách Quân trả lời.”

Thanh buông cuộn thẻ. “Quân đã nói gì?”

“Quân nói chưa có lệnh.”

“Đó là sự thật.”

“Sự thật không ngăn được người ta hiểu điều họ muốn hiểu.” Ông mở nắp một ống thẻ rồi đóng lại, không lấy gì ra. “Nhà ta nhiều đời giữ và nối cái biết của thiên hạ. Người ngoài chịu để chúng ta đọc sổ của họ vì họ tin nhà ta biết dừng ở đâu. Nếu Ấu theo một cuộc tìm chưa biết đích, mở sổ nghề, hỏi lệ cũ, chạm vào nghề truyền trong nhà người ta, thì mọi lời Ấu nói sẽ mang theo danh của cả nhà.”

“Vì vậy Ấu mới ghi giới hạn.”

“Giới hạn không xóa được tiếng đồn.”

“Nếu sợ tiếng đồn hơn sợ cái biết đang mất đi, thì chức phận của nhà ta còn để làm gì?”

Ông nhìn thẳng vào nàng. “Đừng lấy lời lớn để dồn người đối diện vào chỗ không thể trả lời.”

Câu ấy khiến Thanh nhớ lời vợ vua trong điện: nếu mỗi lần bị ngờ đều phải thắng một người, nàng sẽ không còn tai mà nghe những người khác.

Nàng hít vào, chậm hơn.

“Ấu xin nói lại.” Thanh đặt hai tay lên đầu gối. “Quân sợ điều gì nhất?”

Cơn giận vừa hiện trong mắt ông ngừng lại. Có lẽ ông không ngờ nàng sẽ hỏi.

“Quân sợ Ấu bị dùng làm con dấu đóng lên một lời kết đã có sẵn.”

“Còn gì nữa?”

“Quân sợ khi việc hỏng, người ta sẽ nói nhà giữ cái biết đã đem chuyện vụn của dân ghép thành điều huyễn hoặc.”

Ông nhìn xuống bàn tay nàng. Giọng ông thấp đi. “Và Quân sợ đường xa không giống phòng chép. Ở đây, một nét sai còn cạo đi được. Ngoài kia, một lời sai có thể khiến cả làng quay lưng, một trận mưa có thể cuốn thuyền, một người có quyền có thể lấy danh Kinh ép Ấu im miệng.”

Lần đầu từ lúc bước vào nhà, Thanh nghe trong giọng ông không chỉ có chức phận. Có cả nỗi sợ của một người cha đã quen che cho con bằng những bức tường yên tĩnh.

Nàng mở cuộn thẻ, trải từng thẻ lên án.

“Ấu cũng sợ.”

Ông không nói.

“Ấu sợ mình chỉ được đi để chép lời người khác, rồi nhìn một người khác định lời nào đáng giữ. Ấu sợ bản chép của Ấu sẽ sạch sẽ đến mức không còn ai sống trong đó.” Nàng chỉ vào một hàng chữ, đầu ngón tay hơi run. “Vì vậy Ấu đòi được tự hỏi, tự dừng, và ghi rõ khi không cùng ý. Không ai được dùng tên Ấu để nhận là đúng điều Ấu không thấy.”

“Nếu điều Ấu thấy là sai?”

“Thì người khác phải có quyền xét lại, và ghi rằng Ấu sai.”

“Ấu chịu để tên mình đứng cạnh một điều sai?”

Thanh nhớ cán muỗng giữ giống, dấu nước dưới kho, tiếng lò gốm và những lời trong điện. Mỗi thứ từng trông chắc chắn cho đến khi đặt cạnh đời sống của người khác.

“Nếu tên Ấu chỉ được đứng cạnh điều đúng sau khi mọi người đã biết nó đúng, thì tên ấy chẳng gánh việc gì cả.”

Ngoài sân, một người làm lật các thẻ đang phơi. Tiếng tre chạm nhau lách cách, khô và nhẹ.

Cha nàng cầm bản định việc. Ông đọc từng thẻ rất lâu. Khi đến điều cấm mang bản gốc khỏi nơi giữ, ngón tay ông dừng lại.

“Thiếu một điều.”

Thanh chờ.

“Không được tách lời khỏi người nói. Phải ghi người ấy nói trong vai nào: thợ, chủ phường, người giữ lệ, người nghe kể hay người tận mắt thấy.”

Ông lấy một thẻ trắng, viết thêm bằng những nét đều và hẹp.

“Một câu truyền qua ba đời không vì thế mà kém đáng giữ, nhưng nó không thể đứng giả làm lời của người tận mắt.”

Thanh nhìn hàng chữ mới. Nàng hỏi, khẽ như sợ làm vỡ điều vừa nghe: “Quân bằng lòng cho Ấu đi?”

“Quân bằng lòng rằng nếu Ấu đi, Ấu không được đi như một cái bóng cầm bút.”

“Còn danh của nhà?”

Ông đặt bút xuống. “Danh không phải mái nhà để người ở trong không bao giờ dính mưa. Nó là món nợ, buộc mình phải bước ra khi thứ mình giữ được đang thất lạc.”

Rồi ông đẩy bát cơm nguội về phía nàng.

“Ăn đi. Người định giữ lời thiên hạ mà quên nuôi thân mình thì chưa đi hết con đường đã ngã.”

Thanh cầm bát. Cơm đã se mặt, canh chỉ còn hơi ấm. Nàng ăn hết mà không nói thêm. Có những lời được chấp thuận bằng một nét bút; có những lời nằm trong việc một người vẫn để phần cơm chờ đến nguội.

• • •

Chiều hôm ấy, khi Thanh trở lại và trải bản định việc lên án, Hùng dừng ở một thẻ có nét chữ đều và hẹp, không phải chữ nàng.

“Ai thêm điều này?”

“Quân của qua.” Nàng không ngẩng lên. “Quân thêm, rồi bắt qua ăn hết bát cơm nguội.”

Hùng đọc thẻ ấy hai lần rồi đặt nó vào giữa bản, không sửa chữ nào.

Sang chiều ngày thứ hai, bản định việc được đặt trước hai quan. Quan Khâm đọc từ đầu đến cuối mà không hỏi một câu. Chỉ ở thẻ có nét chữ hẹp, ông dừng lâu hơn, rồi đặt xuống, không gạch. Quan Đào thì hỏi ngay từ thẻ thứ nhất.

“Cả hai cùng có quyền chọn nơi cần dò. Nếu mỗi người chọn một hướng thì đoàn đi đâu?”

Hùng đáp: “Đi nơi nào có ít nhất hai dấu riêng nhau cùng chỉ tới.”

“Ai định chúng riêng nhau?”

“Cả hai phải ghi gốc lời. Nếu cùng từ một lời truyền hoặc một bản chép mà ra, chỉ tính là một.”

Đào gõ móng tay lên án. “Nếu Công Tự và Công Thị không cùng ý?”

Thanh nói: “Chọn nơi ít phải nhúng tay vào việc người ta hơn. Nếu vẫn ngang nhau, trình lại người được giao coi xét trước khi đổi đường.”

Quan Đào ngước nhìn nàng. “Công Thị đem cả chỗ không cùng ý của mình vào bản lệnh?”

“Nếu không ghi từ đầu, nó vẫn đi cùng chúng tôi, chỉ là không ai giữ được nó.”

Quan Khâm khẽ chuyển mắt sang Hùng. “Công Tự chịu?”

Hùng đáp sau một nhịp ngắn: “Tôi chịu. Một người tự quyết thì nhanh hơn. Nhưng hai người để lại dấu vì sao mình quyết, người sau mới biết chỗ nào cần xét lại.”

Khâm lấy một thẻ riêng. “Ta sẽ thêm một điều: cứ mỗi mười ngày, nếu có trạm chuyển tin, hai người phải gửi bản lược về. Không chỉ gửi điều tìm thấy; phải gửi cả điều đã bác bỏ.”

Hùng nhíu mày. “Mười ngày có thể quá ngắn ở nơi đường nước đổi theo mùa.”

“Vậy ghi: tại trạm đầu tiên tới được sau mỗi quãng mười ngày. Ta cần biết hai người đang sửa điều ngờ của mình hay chỉ đang chạy theo nó.”

Thanh nói: “Tôi bằng lòng.”

Hùng quay sang. “Bậu bằng lòng nhanh thật.”

“Vì lần này hầu Khâm đúng.”

Khâm không cười. Quan Đào thì bật một tiếng qua mũi, không rõ là vui hay chế nhạo.

Cuộc xét kéo dài đến khi ánh nắng bò khỏi chân cột. Họ cắt hai quyền, thêm ba giới hạn và đổi chữ “thu lấy” thành “xin chép hoặc ghi lại”. Quan Đào buộc Hùng tính lại lương cho từng người; quan Khâm hỏi Thanh đến cùng về cách xin chép mà không làm người giữ sổ sợ. Mỗi lần một câu bị gạch, bản định việc bớt vẻ oai của mệnh lệnh và giống một con đường hơn: không mang được họ đến mọi nơi, nhưng cho biết chân được đặt ở đâu và mép vực nằm chỗ nào.

Khi hai quan đứng dậy, Hùng nhìn chồng thẻ bị sửa đến sẫm màu.

“Bản này còn đủ chỗ để đi không?”

Quan Đào vuốt râu. “Nếu Công Tự cần cả một cánh đồng để đặt chân thì tốt nhất đừng ra khỏi thành.”

Quan Khâm buộc các thẻ theo thứ tự. “Sáng mai trình Kinh. Đêm nay đừng thêm điều gì nếu hai người không cùng có mặt.”

Thanh hỏi: “Vì sao?”

“Vì đến lúc này, điều đáng tin nhất trong bản không phải bốn dấu kia.” Ông kéo nút dây vừa đủ chặt. “Là việc không ai trong hai người được lặng lẽ biến câu hỏi của mình thành lệnh cho người kia.”

Ông đặt bó thẻ đã buộc xuống trước mặt hai người, toan bước đi. Hùng đứng dậy theo.

“Thưa hầu, tôi còn một câu, không thuộc bản này.” Chàng nghe giọng mình khô lại. “Hơn nửa tháng trước, một Già Thị ở bờ bắc hỏi tôi thóc trong kho có phần nhà bà ấy không. Tôi đã hứa hỏi cho ra, mà đến giờ vẫn chưa hỏi được ai.”

Quan Khâm nhìn chàng một lúc. Trên gương mặt mỏi ấy, lần đầu có một nét gì không phải của người xét bản.

“Câu đó không đáp được bằng một câu, lại càng không đáp được khi đứng ở cửa.” Ông nhìn ra khoảng sân đang tối dần. “Xong việc trình Kinh, đến kho tìm ta. Mang theo tên xóm của Già Thị ấy.”

Hùng cúi người. Món nợ chưa trả được, nhưng đã có nơi hẹn.

Quan Khâm rời phòng. Quan Đào theo sau, đến cửa còn quay lại.

“Và ăn tối đi. Ta không muốn ngày mai Kinh tưởng mình giao việc cho hai bóng ma.”

Hùng chờ tiếng chân họ xa hẳn mới hỏi: “Bậu có nghe thấy hầu Đào vừa lo cho chúng ta không?”

“Không. Qua chỉ nghe ông ấy sợ phải xét lại bản lần nữa nếu chúng ta ngất trong điện.”

“Vậy cũng là một kiểu lo.”

Thanh xếp các thẻ bị loại sang một bên. “Bậu giữ lấy cách hiểu ấy. Có lúc nó sẽ giúp bậu sống vui hơn.”

• • •

Sáng ngày thứ ba, mưa bụi phủ lên sân điện một lớp ẩm mỏng. Đường đất từ dãy nhà làm việc tới bậc đá in đầy dấu chân mới chồng lên dấu cũ.

Buổi trình không đông như buổi chầu trước. Trong điện chỉ có vua trên ngai, vợ vua ngồi bên phải ông, hai chiếc ghế gỗ của quan Khâm, quan Đào đặt hai bên, và một người giữ sổ ngồi khuất sau cột. Hùng và Thanh cúi người hành lễ rồi đứng giữa.

Vua đọc bản định việc trong im lặng. Hai quan ngồi yên, không lên tiếng đỡ lời.

Đọc đến điều cho phép cả hai tự mình lấy lời chứng và ghi chỗ không cùng ý, vua hỏi: “Ai đòi điều này?”

Thanh cúi người. “Bẩm Kinh, Tần.”

“Vì sao?”

“Nếu chỉ được ghi, Tần sẽ gánh phần chữ mà không được gánh phần nghĩa. Tần không thể nhận việc như thế.”

“Nếu quyền ấy khiến Công Thị Thanh cản Công Tự Hùng giữa lúc cần quyết nhanh?”

“Bản đã ghi: gặp lúc nguy, Công Tự quyết việc giữ người và giữ vật, xong thì phải ghi lại vì sao. Còn với lời kết về cái biết, nhanh không làm điều sai thành đúng.”

Vua nhìn Hùng. “Công Tự Hùng nghĩ sao?”

Hùng cúi người. “Bẩm Kinh, Tần từng nghĩ chia việc như cũ sẽ gọn. Công Thị Thanh chỉ ra rằng cái gọn ấy biến một người thành tay của người kia. Tần xin giữ điều đã sửa.”

“Hai người chưa ra khỏi thành đã không cùng ý. Đi xa sẽ còn nhiều hơn.”

“Dạ.”

“Vậy vì sao ta nên giao việc?”

Hùng nhìn những thẻ tre trên án. Ba ngày trước, chàng muốn chứng tỏ bốn dấu có thể nối nhau. Bây giờ, điều chàng cầm tới lại là những giới hạn không cho phép mình nối chúng quá sớm.

“Vì Tần và Công Thị Thanh đã biết chỗ không cùng ý phải để lại dấu, không được giấu nó dưới một lời kết chung.”

Vua quay sang Thanh. “Công Thị Thanh còn điều nào muốn đòi mà chưa viết?”

Nàng cảm thấy cha mình, cả nhà, các kho chữ và những người chưa từng gặp đang đứng phía sau câu hỏi ấy. Cái gối đau nhắc nàng đã đứng bao lâu. Hai bàn tay nàng lạnh, nàng nắm chúng lại trước bụng.

“Có một điều.”

Quan Đào khẽ nhắm mắt. Hùng quay hẳn sang nàng. Chiều qua họ đã cùng hai quan soát bản đến thẻ cuối cùng, và nàng không nhắc tới điều nào nữa. Một thoáng nóng dâng lên trong ngực chàng: chỉ một câu thừa lúc này, cả bản có thể bị trả lại.

Thanh nói: “Những người kể cho nghe hoặc cho xem sổ phải được biết lời của họ sẽ dùng vào việc gì. Khi quay lại được, Tần và Công Tự Hùng phải cho họ biết mình đã hiểu ra sao.” Giọng nàng run ở chữ đầu, rồi vững lại. “Không được lấy lời dân rồi biến mất, như thể cái biết chỉ đáng giữ sau khi đã vào thành.”

Trong điện lặng đi. Mưa bụi rơi trên mái nghe rõ từng hạt.

Cơn nóng trong ngực Hùng không còn chỗ đứng. Chàng nghĩ tới người đàn bà bờ bắc, người đã giúp chàng lần ra đường nước và hơn nửa tháng nay chưa nhận lại một lời nào. Điều Thanh vừa đòi, chính chàng là người đang nợ.

Vua nhìn nàng rất lâu rồi mới nói: “Điều đó có thể làm chậm chuyến đi.”

“Dạ.”

“Có nơi hai người không thể quay lại.”

“Thì ghi rằng chưa trả được lời.”

“Có người sẽ đổi lời khi biết cách hai người dùng nó.”

“Sự đổi ấy cũng là một điều cần biết.”

Ba câu, nàng đáp không lùi câu nào. Đến lúc ấy Thanh mới nhận ra mình đã thôi run.

Vua đặt bản thẻ xuống. “Hầu Khâm?”

Khâm đứng dậy, cúi người. “Bẩm Kinh, Tần cho rằng điều ấy khiến lời chứng khó lấy hơn, nhưng sạch hơn.”

“Hầu Đào?”

Đào đứng dậy, thở ra. “Bẩm Kinh, Tần cho rằng rồi đây kho sẽ đầy những bản ghi chưa trả được lời. Nhưng ít nhất chúng ta sẽ biết mình còn nợ ai.”

Vua gật. Hai quan ngồi xuống.

Vợ vua nhìn Thanh. Ánh mắt bà không khuyến khích cũng không ngăn cản; nó chỉ ghi nhận rằng nàng đã tự đặt tên mình dưới điều ấy.

Vua cầm bút. Ông viết thêm một hàng ngắn vào cuối bản rồi đóng ấn.

“Ta giao Công Tự Hùng và Công Thị Thanh dò xét những dấu của cái biết còn sống ngoài sổ thẻ của thành. Công Tự Hùng nhận chức Khảo Tri Sứ. Công Thị Thanh nhận chức Điển Tri Sứ. Hai người cùng định cách làm, trong khuôn bản này. Không ai là người đi theo để gật đầu cho người kia.”

Hai tên chức ấy chưa từng có trong sổ đình Kinh. Người giữ sổ ngập ngừng một nhịp rồi mới vạch xuống thẻ. Quan Đào nhướng mày; quan Khâm thì không, như thể ông đã đoán trước rằng việc mới phải có tên mới.

Thanh nghe tên chức mới đứng cạnh tên mình mà chưa kịp thấy nó là của mình. Bên cạnh, Hùng nuốt khan; bàn tay chàng buông bên áo khẽ co lại, như vừa có ai đặt vào đó một vật chưa biết nặng nhẹ.

Hai người cùng cúi người hành lễ. Hùng thưa trước, giọng hơi khàn:

“Tần xin lĩnh việc.”

Thanh thưa sau, chậm hơn một nhịp, từng tiếng rõ:

“Tần xin lĩnh việc.”

Vua nói tiếp: “Nơi đầu tiên phải được chọn từ đường đi và lời chứng thử lại được, không phải từ một cái tên hai người muốn tìm. Trong bảy ngày, trình đường định đi và người dẫn đường. Hầu Khâm và hầu Đào xét thay ta; hai hầu nhận thì đoàn được đi.”

Ấn trên thẻ còn ướt. Màu son thấm vào thớ tre, không nằm trọn trong đường viền.

Khi ra khỏi điện, mưa đã ngừng. Thanh bước xuống bậc trước, chậm vì cái gối. Hùng đi bên cạnh, không nhanh hơn, không chậm hơn.

“Bậu giữ lại một điều đến phút cuối,” chàng nói. “Hầu Khâm đã dặn đừng thêm gì khi không đủ hai người.”

“Qua có thêm vào bản đâu. Qua nói trước mặt bậu, và bậu còn kịp bác.”

“Qua không bác.”

“Qua biết.” Nàng liếc chàng, rồi mới nói nhẹ đi: “Nếu viết đêm qua, hầu Đào sẽ bắt chúng ta thức thêm.”

“Qua tưởng bậu không ngại tranh với ông ấy.”

Thanh nhìn lớp đất đầy dấu chân. “Qua đang học rằng không phải cuộc nào cũng cần thắng trong phòng.”

Hùng gật đầu. “Còn qua đang học rằng một con đường không phải thứ mình vạch ra rồi bắt người khác bước.”

Nàng nghiêng mắt nhìn chàng. “Bậu học nhanh hơn qua nghĩ.”

“Bậu khen người cũng giống đang xét lỗi.”

“Vậy bậu đừng quen.”

Họ đi qua sân. Dưới chân, đất ven đường nhận từng bước mà không giữ riêng bước của ai. Nó chỉ nén lại, mở lối cho người sau.

Trong tay Thanh, bản lệnh mới không cho họ một con đường.

Nó cho họ quyền đi tìm đường, và buộc họ nhớ rằng con đường ấy đã có dấu chân của người khác từ trước.

0
Ủng hộ tác giả Arawn Nguyễn Gửi một lời động viên nhỏ để tác giả có thêm cảm hứng ra chương mới.